CHÚNG TA CÙNG NHẢY MỪNG VỚI NHỮNG GÌ CHÚNG TA CÓ

 

Lâm Đồng thuộc vùng đất Tây Nguyên với sự đa dạng của hơn 40 nhóm tộc người thiểu số sinh sống. Tỉnh lị của Lâm Đồng là Đà Lạt, được bác sĩ Yersin khám phá ra từ 128 năm về trước. Kể từ đó, nhiều người Kinh bắt đầu di cư đến Đà Lạt và đẩy lùi người dân tộc bản địa vào các vùng sâu vùng xa. Sự phát triển của xã hội hiện nay càng đào sâu hố ngăn cách giữa giàu và nghèo. Người dân tộc thiểu số dần mất đi những nguồn lực họ có về tài nguyên thiên nhiên và nền văn hóa bản địa. Vì vậy, họ không đủ năng lực để cạnh tranh trong nền văn hóa kỹ trị thời nay. Những bạn trẻ ngày càng mất gốc, tự ti với bản sắc văn hóa lâu đời của cha ông và di cư vào thành phố tìm việc làm. Trước hiện trạng đó, Caritas Dalat đã tiếp cận các cộng đồng tộc người thiểu số, cùng với người dân thực hiện nghiên cứu chính cộng đồng của họ. Từ đó họ cùng cam kết dấn thân hành động tập thể nhằm giải quyết vấn đề đang gặp phải, để tạo ra một sự thay đổi trong cộng đồng theo hướng tự chủ hơn, sinh thái hơn, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao tình đoàn kết trong cộng đồng.

Những người lãnh đạo cộng đồng – nhân tố thúc đẩy tính tương trợ và tinh thần đoàn kết trong quá trình thay đổi. Sau đây là câu chuyện về anh Ha Huynh, trưởng nhóm cộng đồng Cil Múp.

 

Cil Múp là một thôn thuộc giáo xứ Đạ Tông, giáo phận Đà Lạt. Bắt đầu dự án Phát triển Tự dân (People Led Development) vào tháng 5/2014 tại Cil múp gặp rất nhiều khó khăn vì bà con nghĩ dự án là làm từ thiện còn chính quyền thì sợ phản động. Khi thực hiện dự án qua việc thăm viếng, đi làm cùng bà con, nhân viên Caritas nhìn thấy nhu cầu cần nâng cao năng lực cho họ. Từ đó, dự án có chương trình giao lưu học hỏi và tập huấn cho người dân trong thôn. Để thực hiện được các hoạt động đó, Ha Huynh hay còn gọi là Bạp Duyên đã trao đổi với trưởng thôn để trình bày với chính quyền xã. Anh ấy phải làm giấy cam kết với chính quyền và công an xã về việc chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu xảy ra các vấn đề liên quan đến chính trị. Bạp Duyên cùng các ban ngành đoàn thể trong thôn cùng tìm ra hướng đi cho buôn làng, hình thành nhóm hỗ trợ nhau thực hiện cấy lúa SRI, ủ phân compost, ủ chua thức ăn cho bò, làm cà phê cỏ trồng xen canh. Từ đó tìm ra cách canh tác phù hợp cho gia đình. Vấn đề ưu tiên mà Cil Múp gặp phải là thiếu nước trong sản xuất và sinh hoạt. Họ đã cùng lên kế hoạch xin tiểu dự án dẫn nước từ thác Tình Tang tới khu sản xuất và về đến thôn để sinh hoạt với chiều dài hơn 9km. Bap Duyên kêu gọi tất cả nguồn lực trong thôn hình thành một ban quản lý dự án, nhờ địa chính vẽ bản đồ đường ống nước. Khi tiến hành công trình, trưởng hiền mẫu của giáo khu kêu gọi bà con tham gia đóng góp ngày công. Các tổ trưởng, tổ quản gia quyên tiền đóng góp từ các hộ dân. Chính quyền thôn trình bản đề xuất dự án cho ủy ban xã và xin vốn hỗ trợ 40 triệu. Dự án hoàn thành với sự đóng góp của 1000 công từ người dân trong thôn. Từ đó, bà con có nước để sử dụng trong sinh hoạt cũng như trong việc tưới tiêu cho cây trồng, giảm được chi phí sản xuất. Ban quản lý dự án còn cử ra 2 nhóm quản lý để bảo trì và giám sát việc sử dụng nước. Dự án thành công là nhờ vào sự đoàn kết của bà con và sự dấn thân kêu gọi của Bạp Duyên.

 

Trong quá trình làm việc, Bap Duyên gặp nhiều khó khăn. Có nhiều người nghĩ rằng anh hoạt động tích cực sẽ được Caritas Đà Lạt trả thù lao nhiều. Từ những hiểu lầm đó, vợ con ngăn cản không cho anh tiếp tục công việc của cộng đồng. Bạp Duyên chỉ nói với vợ con “Kệ, họ muốn nói gì thì nói mình cứ làm và sống tốt là được rồi’’. Cứ thế anh vẫn âm thầm làm việc cho buôn làng và còn kêu gọi bà con thôn khác, xã khác đứng lên đấu tranh chống lại việc công ty có kế hoạch đầu tư nhà máy thủy điện tại Thác Tình Tang, một nguồn tài nguyên gắn bó bao đời cùng cuộc sống và văn hóa của người dân Cilmup. Từ một người nông dân bình thường nhút nhát, chỉ đứng sau cùng các buổi họp, nay Bạp Duyên trở thành nhóm trưởng PLD và trưởng hội nông dân thôn Cil múp. Dự án PLD đã kết thúc nhưng Bạp Duyên vẫn hoạt động giúp bà con cùng phát triển như quản lý vườn cà phê chung của thôn, đứng ra vay phân, cây giống cho bà con với giá phù hợp, đặc biệt hiện tại cũng tham gia vào ban Bác Ái Xã Hội - Caritas của Giáo Xứ Đạ Tông.

Cùng nhau chuyển đổi phương thức canh tác theo hướng sinh thái là cách thức nhiều cộng đồng tham gia dự án PLD lựa chọn như định hướng trang trại Laudato Si.

 

Đinh Trang Hòa là một trong những cộng đồng đã có những bước chuyển đổi phương thức canh tác trong nông nghiệp. Tự hào là vùng đất của người đồng bào K’Ho bản địa gắn liền với văn hóa truyền thống làm nông lâu đời. Từ thuở cha ông khai mở, vùng đất phì nhiêu màu mỡ, khí hậu thuận lợi quanh năm, chỉ cần thả hạt lúa, rau màu thì mùa màng có thể tự mọc lên, trổ sinh hoa trái và nuôi sống bao nhiêu người con của buôn làng. Xưa nông dân từ làm đủ ăn, rồi có “của ăn của để” tới dư thừa đem chia sẻ với những người xung quanh. Nhờ đó mà sự gắn kết trong cộng đồng rất cao.

Từ năm 1989, nhiều gia đình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ đa canh các loại hoa màu và lương thực sang độc canh cây Cà Phê được canh tác trên những diện tích lớn. Nông dân đầu tư phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng nhằm mang lại thu nhập cao.  Sau những năm đầu với tác dụng thần kỳ của hóa chất, người dân chợt nhận ra họ phải tăng thêm lượng/loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hàng năm, mà giá cả thị trường thì bấp bênh. Kéo dài mấy chục năm nay, nông dân chạy đua theo xu hướng nông nghiệp hiện đại để xóa nghèo, kết quả là: cái nghèo chưa kịp xóa, lại kéo theo bao nhiêu hệ lụy như: nợ nần do đầu tư, đất đai bị thoái hóa, nguồn nước bị ô nhiễm, khí hậu thay đổi, con người nhiều bệnh tật, các loại giống bản địa bị biến mất,… bà con mất phương hướng và suy kiệt dần do những vòng quay sản xuất không ngừng nghỉ (làm một mình, sống một mình). Đứng trước tình hình đó, những phương pháp canh tác thuận tự nhiên, nông nghiệp sinh thái, đa dạng sinh học là hướng đi mà Caritas Đà Lạt mời gọi nông dân “về nguồn” để cứu lấy Mẹ Đất và cứu lấy chính mình.

 

Năm 2016, Cộng đồng Đinh Trang Hòa Hình thành nhóm nông dân đầu tiên gồm 18 hộ tham gia vào quá trình học hỏi do Caritas tổ chức. Tháng 10 năm 2016 nhóm đã có chuyến học hỏi đầu tiên tại nông trại cà phê để cỏ của một số anh em hội viên Caritas giáo xứ Tân Thanh. Tại đây người nông dân được học cách: cải tạo đất, phục hồi đa dạng sinh thái, kỹ thuật trồng và chăm sóc cà phê … Trong không gian kết nối đó, nhóm được tiếp xúc với kỹ sư nhà nông và nhóm nông dân thành công trong sản xuất. Bà con nhìn thấy mô hình canh tác Cà Phê không xạc cỏ, không sử dụng thuốc diệt cỏ và không cào bồn (làm sạch đất xung quanh gốc cây) nhưng cây vẫn lên tốt, cho quả ổn định. Lối canh tác này có vẻ ‘ngược ngược’ với những gì người dân đang làm và họ cảm thấy khó chấp nhận. Bà con cũng biết được rằng: cỏ không cạnh tranh dinh dưỡng với cà phê, lá và cành khô không cản trở quá trình hấp thụ dinh dưỡng của cây. Nhưng ngược lại hai yếu tố này làm tăng sinh khối, độ ẩm và vi sinh vật trong đất, cung cấp dinh dưỡng, làm xốp đất và bảo vệ đất không bị rửa trôi. Nông dân Đinh Trang Hòa nhận ra đây là cách ngày xưa ông bà mình đã làm và nó mang lại hiệu quả bền vững.

Từ chuyến học hỏi đó, nhóm quyết tâm cùng nhau thực hiện canh tác cà phê để cỏ. Thời gian đầu mỗi hộ chuyển đổi trong 1 diện tích nhỏ. Nông dân cũng gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi: cây chưa thích ứng với việc để cỏ, bị vàng lá, chuột cắn. Nhưng họ tiếp tục học hỏi cùng nhau và tìm cách giải quyết những khó khăn. Sau ba năm thử nghiệm thấy hiệu quả, họ đã áp dụng mô hình trên toàn diện tích canh tác. Họ cũng đã trồng xen thêm nhiều loại cây ăn trái, cây rừng khác trong vườn. Đặc biệt năm 2018, có 7 hộ chuyển sang canh tác cà phê hữu cơ. Sản phẩm với tên thương hiệu “Oh Mi Koho” có nghĩa là “Anh em người K’Ho” từ đó ra đời. Hiện nay, đất đai dần được phục hồi, đầu tư ít lại, năng suất đều đều các năm. Vì thế, nông dân có thời gian chăm sóc con cái, sức khỏe an toàn vì không tiếp xúc với thuốc BVTV. Các thành viên trong nhóm vui vì thành công này. Họ đã tiếp nhiều đoàn đến tham quan và mong muốn lan tỏa mô hình phát triển bền vững thuận tự nhiên đến nhiều cộng đồng khác. Để đạt được kết quả đó, họ đã đi cùng nhau và nâng đỡ nhau. Có gia đình vợ chồng không đồng thuận trong cách canh tác, như nhờ sự khích lệ của những hộ khác, người chồng đã được thuyết phục để thay đổi. Đôi lúc đứng trước sự dèm pha, chê cười của hàng vì lười biếng không làm cỏ trong vườn, nhưng họ vẫn cũng cười an nhiên tin tưởng vào bản thân mình và sự nỗ lực của cả nhóm. Tất cả những điều đó dựa trên nền tảng “những mối quan hệ của con người được thấm nhuần bởi thiên nhiên xung quanh, bởi vì họ cảm nhận và suy tư về nó như một thực tại hòa nhập xã hội và văn hóa của họ, như một phần mở rộng của thân thể, cá nhân, gia đình và cộng đồng” (trích Querida Amazonia, số 20). Nền tảng đó cũng là động lực trong câu truyện khôi phục văn hóa truyền thống của cộng đồng Lộc Tân mà chúng tôi sẽ kể sau đây.

Câu Chuyện về “Khôi phục văn hóa cồng chiêng” Buôn Tơng Klòng Dơr Wàng – Lộc Tân

Buôn Tơng Klòng Dơr Wàng thuộc xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, Tỉnh Lâm Đồng, cách Đà Lạt 140 km về phía nam. Người dân ở đây đa số là người dân tộc Mạ chiếm 85%, sống chủ yếu làm nghề nông: trồng chè, cà phê, và làm thuê cho các công ty trong khu vực.

Khi cùng sống và làm việc với cộng đồng, bà con đã chia sẻ rất nhiều câu chuyện về cuộc sống hàng ngày, gia đình, nhưng ấn tượng nhất đối với nhân viên là câu chuyện của già làng K’ Brẻh đã ngoài 70 tuổi. Câu chuyện của ông cho thấy Cồng chiêng và Nhà sàn là hai yếu tố văn hóa không thể thiếu của người Châu Mạ và trong văn hóa đó họ sống tình thân hữu cách đậm đà. Ông nói: “Ngày xưa, bà con làm nương rẫy có gì ăn nấy, thức ăn có thường đem chia cho nhau như: lúa, rau rừng, cá suối, chén, bát…sống rất vui vẻ, đoàn kết và yêu thương nhau. Về văn hóa không thể thiếu trong các dịp lễ hội như: đâm trâu, mừng lúa mới, đám cưới, đám ma…và sau những ngày làm việc mệt mỏi cuối tuần, đêm đêm họ thường quy tụ với nhau trong ngôi nhà sàn: để sinh hoạt nhảy múa, ca hát, nhất là âm điệu của tiếng cồng chiêng hòa quyện cùng với vị của rượu cần, bên bếp lửa hồng, các em nhỏ được già làng kể về những sử thi và trường ca ngày xưa. Buôn làng lúc đó luôn đầy ắp những tiếng cười. Nhà sàn là nơi sinh hoạt, hội tụ văn hóa cộng đồng, nhà được sinh ra từ các buôn làng, mát mẻ vào mùa mưa và ấm áp vào mùa khô. Được làm từ những vật liệu của núi rừng như: gỗ rừng, cây tre, cây lồ ô, những ngọn tranh, mái lá rờ sồi, tạo nên cái nôi văn hóa đặc thù và thể hiện sự khéo léo của người Mạ. Đi đôi với đó là các giai điệu Cồng chiêng - tiếng nói của tâm linh. Ngày xưa muốn có bộ cồng chiêng phải đổi bằng voi hoặc 20 con trâu nên có giá trị rất lớn. Nhưng hiện tại, nhà sàn không còn, cồng chiêng thì ít dần nên văn hóa ngày xưa cũng bị lãng quên”.

Thao thức khôi phục nhà sàn của buôn làng đã được nhóm nông dân tại đây ấp ủ từ khi nghe những câu chuyện ngày xưa. Bà con đã tiến hành viết một dự án xây dựng 1 nhà sàn truyền thống và khôi phục nhóm cồng chiêng. Sau những cuộc bàn thảo chung, bà con đã lên kế hoạch và bắt tay vào thực hiện. Nhà sàn được dựng trên nền đất do gia đình anh K’ Dim cống hiến. Mọi người phân chia công việc và quá trình diễn ra một cách nhịp nhàng. Những nghệ nhân lên ý tưởng dựng nhà, lợp mái, uốn mây và làm các hạng mục quan trọng của công trình. Phụ nữ làm việc đan lát, chẻ tre. Nam vào rừng chặt cây, tre, mây và lá lợp mái. Mọi công việc điều phối dưới sự điều hành của ban quản lý dự án. Ai nấy cũng có bổn phận của mình, mọi người vừa làm việc, vừa trò chuyện và ca hát. Sau một tháng bà con cũng đã hoàn thành xong nhà sàn với diện tích 10m x 4m, với hơn 400 công cùng góp sức.

Từ khi có nhà sàn, buôn làng đã có nơi để sinh hoạt, giao lưu với nhau tăng thêm tình gắn kết, yêu thương. Rồi các nghệ nhân am hiểu về cồng chiêng cũng tìm được nơi mua và mang về 1 bộ cồng chiêng. Cũng từ đó trong buôn đã hình thành các nhóm múa, các nhóm cồng chiêng dạy cho lớp trẻ vào mỗi cuối tuần. Nhờ hoạt động này, bà con nhận thức hơn tầm quan trọng của giá trị văn hóa, tình đoàn kết, tình anh em, tình làng nghĩa xóm, hiểu nhau hơn và biết cách làm việc chung với nhau.

Cho đến bây giờ, các hoạt động của chương trình PLD là sáng kiến được thúc đẩy bởi chính Chúa Thánh Thần. Bởi nhiều khi trên hành trình, chúng tôi cảm thấy bế tắc, nhưng những ý tưởng mới lại được gợi hứng từ nơi anh chị em dân tộc thiểu số mà chúng tôi đang phục vụ. Cụ thể là từ vẻ đẹp, sự phong phú và linh thiêng của văn hóa, tình liên đới và chính con người của họ. Vì một ước ao chính họ sẽ dẫn dắt quá trình thay đổi cuộc sống của họ và những giá trị sẽ được lưu mãi về sau. 'Chúng ta hãy nhảy mừng với những gì chúng ta có', phát triển từ những gì chúng ta là để thế giới này trở nên phong phú với nhiều sắc màu đặc trưng của mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc bản địa.

Caritas Đà Lạt, tháng 11/2021

 


Caritas Đàlạt