LỄ GIỖ ĐC CASSAIGNE LẦN 46

VÀ KỶ NIỆM 90 NĂM TRẠI PHONG DI LINH THÀNH LẬP

Di Linh - 31/10/2019

(Bài giảng của ĐC Đaminh)

I. DẪN

-         Tháng 10 hằng năm là tháng truyền giáo. Tháng 10 năm nay (2019), nhân kỷ niệm 100 năm Tông Thư đặc biệt về truyền giáo Maximum illud, ĐTC Phanxicô đã ấn định là “Tháng Truyền giáo Ngoại thường”, với ý mời gọi và khuyến khích toàn thể Hội Thánh, từ giáo phận, giáo xứ, đến từng cá nhân tín hữu ý thức mãnh liệt và dấn thân mạnh mẽ hơn nữa cho việc loan báo Tin Mừng.

-         Đã có biết bao gương sáng ngay từ ban đầu và xuyên suốt 20 thế kỷ của những con người đã để cho Tin Mừng thấm nhuần bản thân mình và ra đi làm chứng cho Tin Mừng: từ Đức Maria, các thánh Tông đồ và nhiều tín hữu khác của Giáo Hội Tiên khởi.

-         Đặc biệt, Bộ Rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc đã đề ra một danh sách 25 vị khắp năm châu như những gương sáng nổi bật của việc loan báo và làm chứng cho Tin Mừng, trong đó có ĐC Gioan Cassaigne.

III. MẪU GƯƠNG ĐC CASSAIGNE DƯỚI ÁNH SÁNG LỜI CHÚA

1.  ĐC Cassaigne là vị thừa sai thuộc Hội Truyền giáo Paris đã tình nguyện đi truyền giáo tại Việt Nam. Chính ngài đã thành lập Trại Phong Di Linh cách đây 90 năm, đã cống hiến một đời cho người phong tại Di Linh Lâm Đồng, lúc đó còn trực thuộc Đại diện Tông Tòa Sàigòn, và nay đang an nghỉ trong ngôi mộ tại trại phong Di Linh, ngay đây, trước mắt chúng ta.

Giáo phận Đà Lạt-Sàigòn-MEP đang cùng cộng tác để bắt đầu công việc điều tra xúc tiến việc phong chân phước cho ngài, mà con đường thích hợp hơn cả là con đường được mệnh danh là “con đường thứ ba”, con đường của “dâng hiến trọn cuộc sống vì tình yêu”, - không phải con đường “tử đạo”, cũng không phải con đường của “những nhân đức anh hùng”, mà là con đường của “dâng hiến trọn cuộc sống vì tình yêu”, dựa trên Tự sắc của ĐTC Phanxicô Maiorem hac dilectionem ban hành ngày 11/7/2017 (Ga 15,3).

2.   Các bài đọc Lời Chúa hôm nay soi sáng lạ lùng con đường này và cách nào đó soi sáng dung mạo của ĐC Cassaigne.

Trước hết bài đọc I trích sách Khôn ngoan: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa, và chẳng cực hình nào động tới được nữa”. Chúng ta có cảm nhận ở đây tình yêu “đến cùng” của người được gọi là công chính không? Vì đặt trọn niềm tin yêu hy vọng nơi Thiên Chúa, trung thành với Ngài, người ấy chấp nhận mất cả mạng sống trong một cái chết dữ dằn, đớn đau, bị bách hại, như bị trừng phạt, vô phúc, bị tiêu diệt.

Bài đọc II trích thư thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma, chỉ một câu thôi đã chỉ ra cho chúng ta tình yêu “ba trong một”: “Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu Chúa chúng ta”. Đây là lời tuyên xưng rất dõng dạc và rất mạnh mẽ của một Phaolô đã đến tuổi cao niên, dày dạn kinh nghiệm, tuyên xưng tình yêu “đến cùng” của mình dựa trên kinh nghiệm về tình yêu “đến cùng” của Thiên Chúa Cha, Đấng “đến như Con Một của mình, cũng chẳng tha, mà đã trao nộp vì hết thảy chúng ta”, và Người Con Một Giêsu Kitô ấy đã đi đến cùng con đường yêu thương của mình, “đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta”.

3.  Chúng ta có thể nói đến tình yêu “bốn trong một” khi cũng nhìn thấy trong đó dung mạo của ĐC Cassaigne không?

-     Nhưng chưa hết: bài Phúc Âm Luca còn tô đậm dung mạo yêu thương “đến cùng” của Đức Giêsu ở giây phút cuối cùng của Ngài trên thập giá qua lời của người quen được gọi là người “trộm lành”: “Chúng ta chịu thế này là đích đáng…Chứ ông này có làm điều gì trái. Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: ‘Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi’. Và Người nói với ông: ‘Tôi bảo thật anh, ngay hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,41-43). Tình yêu cứu vớt ngay cả ở giây phút cuối cùng, ngay cả những gì là bất xứng, hèn hạ, như không còn có thể…

-     Chúng ta tự hỏi một lần nữa: Có thể nói đến dung mạo của ĐC Cassaigne dưới ánh sáng lời Chúa chúng ta vừa nghe không?

ĐC Cassaigne sinh năm 1895. Chịu chức linh mục 12/1925. Vừa chịu chức linh mục xong, ngài tình nguyện sang Việt Nam truyền giáo. Ngài đã biết Việt Nam qua việc đọc “Hành trình truyền giáo của Cha Đắc Lộ” và truyện “Một Tâm Hồn” của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Được Cha Bề trên Tổng Quyền MEP chấp thuận, ngài đã đáp chuyến tàu D’Artagnan, và cập bến Sàigòn vào tháng 5/1926.

-     Vâng lời bề trên, ngài lập tức xuống Cái Mơn học tiếng Việt. Chưa được mấy tháng, ngài lại vâng lời Bề trên tức tốc trở về Sàigòn, để lên một thí điểm truyền giáo trên miền cao nguyên Trung phần mà cư dân toàn là người Thượng thiểu số chưa có đạo. Thí điểm ấy là Di Linh đây.

-     Kể từ đó ngài sống giữa những người thượng như một người anh em, một người thầy, một người cha, một thầy thuốc, rất gắn bó, rất yêu thương, và chính tình yêu lạ lùng dành cho những người thượng đã khiến ngài trọn đời sống giữa họ, cống hiến cuộc sống cho họ, và ước ao chết giữa họ nữa.

-     Chính lời ngài tâm sự mà những người sống gần thường được nghe: “Đời tôi chỉ có ba ước nguyện: được chịu đựng, chịu đau và chịu chết ở đây, giữa các anh em dân tộc của tôi” (“tenir, souffrir, et mourir ici, au milieu de mes montagnards”).

-     Đến với người dân tộc, ngài lập tức học tiếng dân tộc, tìm hiểu phong tục tập quán của người dân tộc, viết sách giáo lý bằng tiếng dân tộc. Tất cả đều trở thành những tác phẩm đầu tiên loại đó, khiến ngài trở thành ông tổ của công cuộc truyền giáo cho người dân tộc vùng Cao nguyên Di Linh-Langbiang.

-     Hoa trái truyền giáo sớm được Chúa ban. Ngài đến Di Linh này đầu năm 1927, thì đến cuối năm vào chiều 7.12.1927 áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, ngài đã rửa tội cho người dân tộc đầu tiên là bà Maria Ka Trut, một bệnh nhân phong từng được ngài giúp đỡ. Việc rửa tội cho bà năm ấy đã mở đầu và đánh dấu công cuộc truyền giáo hơn 90 năm cho người dân tộc trên vùng đất cao nguyên Lâm đồng này.

-       14 năm sau, được bổ nhiệm làm giám mục Sàigòn, ngài chọn khẩu hiệu “Bác ái và yêu thương”, và tâm sự: “Người ta sẽ thay đổi y phục và chỗ ở của tôi, nhưng chẳng ai thay được con người chất phác của tôi”. Quả thật, về làm giám mục Sàigòn, ngài vẫn thường đi xe đạp hoặc xe vespa thăm các khu nghèo.

-       Lại 14 năm sau, khi phát hiện chính mình bị phong cùi, ngài viết cho cha Bề trên Tổng quyền MEP: “Xin cho phép tôi đệ đơn từ chức lên Tòa Thánh, và được rút lui về trại phong Di Linh, bên cạnh những con cái mà tôi yêu thương nhất”.

-       Trước khi chết vào năm 1973, ngài tâm sự với người nữ tu chăm sóc ngài: “Việt Nam chính là quê hương thứ hai của cha. Các con đừng lo, khi về với Chúa, cha sẽ vẫn ở với các con”.

-       Rồi hai dòng chữ đã từng khắc trên mộ ngài: “Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi không giúp đỡ được gì, hãy tha lỗi cho tôi” – “Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi đã làm gương xấu, hãy tha lỗi cho tôi”. Thật khiêm tốn và đầy yêu thương, yêu thương đến nỗi khắc khoải, đến chết vẫn nghĩ đến còn ai đó mình chưa giúp đỡ được gì, và tâm thành xin lỗi.

-       Phải chăng chúng ta có thể nói đến một trái tim tinh tế, nhạy cảm ; nhạy cảm trước tiếng kêu gào thảm thiết xin cứu giúp của đoàn người phong mà chính ngài chứng kiến nơi vùng rừng sâu một ngày cuối thu 1928, để rồi ngay sau đó thành lập trại phong (mà trong tiểu sử của ngài còn ghi:Ngày 11 tháng 4 năm 1929, làng cùi Di Linh chính thức được công nhận. Tổng số người cùi ngày khánh thành là 21 người, đến cuối năm, con số lên 33 người, và 4 năm sau, con số là 100”); nhạy cảm để mỗi lần phải thuyết trình hay phải kể lại tình trạng khốn khổ của những đứa con phong xấu số, ngài lại không cầm được nước mắt và mô tả như thể chính ngài từng trải: “Họ sẽ chết dần chết mòn một cách thảm khốc, sẽ gục ngã ở một xó kẹt nào đó, rồi chết vì đói lạnh, mà chẳng ai hay biết…”.

-       Không những nhạy cảm, mà còn có thể nói đến một trái tim “si mê” không, si mê đến nỗi không muốn rời? Từ nhiệm chức vụ giám mục Sàigòn, ngài có thể về lại Pháp chứ. Thế nhưng, ước nguyện của ngài lại là trở lại Di Linh này để được sống và được chết giữa các con cái bệnh phong của ngài, nơi ngài vừa làm cha sở, thầy giảng, giám đốc, y tá, chăm sóc các bệnh nhân phong với sự cộng tác của các Sơ Nữ Tử Bác ái, như một quyết tâm nên một với các con cái phong hủi của ngài. “Au milieu de mes Montagnards”, giữa các con cái người dân tộc của tôi”.

-       Chính “đức ái mục tử” đến “si mê” mà ngài dành cho anh chị em dân tộc phong trên vùng đất Di Linh cho đến hơi thở cuối cùng đánh động chúng ta, và hướng tầm nhìn của chúng ta đến những công cuộc truyền giáo mênh mông, những vùng xa vùng ngoại vi cả theo nghĩa địa lý lẫn hiện sinh, như tâm ý của chính Đức Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít… Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này”…Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông” (Lc 10,2-9).

-       Phải chăng con người, tấm lòng và cả cuộc sống trọn vẹn hiến dâng của ĐC Cassaigne cho những anh chị em dân tộc bệnh phong xấu số, không là một cách thức thực hiện tuyệt vời tâm ý trên của Chúa Giêsu sao? Ngài đã không để lại một tấm gương và một sức đẩy cho công cuộc truyền giáo qua những việc bác ái yêu thương phục vụ và là phục vụ yêu thương cho “đến cùng” sao?

IV. KẾT:

Hôm nay, mừng kỷ niệm 90 năm thành lập Trại Phong Di Linh và cử hành lễ giỗ ĐC Cassaigne, chúng ta long trọng tạ ơn Thiên Chúa. Chúng ta tạ ơn Chúa đã ban cho chúng ta một người cha “như là thánh”. Chúng ta yêu mến ngài, gắn bó với ngài, noi gương ngài trong việc thể hiện tình yêu “đến cùng” của Tin Mừng, và chỉ mong ngài cứ mãi ở giữa chúng ta, tại Trại phong Di Linh này, như chính ngài đã từng ước nguyện và thổ lộ.


Các Bài Giảng Của ĐC Đaminh Nguyễn Văn Mạnh