LỄ TRUYỀN CHỨC LINH MỤC CM

Tại Nhà thờ Thánh Tâm Vinh Sơn – 22/06/2020

Điểm chung của ba bài đọc: Ơn gọi

Chúng ta mới lắng nghe ba bài đọc trích trong sách: Xh 3,2-7.9-14; Pl 4,4-9; Ga 21,15-19. Với ba nhân vật chính của ba bài đọc: Môsê, Simon Phêrô, và các tín hữu Philipphê, chúng ta có thấy điểm chung không nhỉ? Đây!

Cả ba đều đã được Chúa gọi, gọi đích danh nữa là khác. Ở bài đọc I: “Môsê, Môsê”; Rồi bài Phúc Âm: “Này Simon, con ông Gioan” (trường hợp này đến ba lần), sau đó là lời gọi rất rõ ràng: “Hãy theo Thầy”; và với tín hữu Philipphê, Phaolô viết: “Anh em đã được gọi”. 8 tiến chức linh mục hôm nay có chuyện được gọi không nhỉ? (chúng ta sẽ thấy ngay trong nghi thức tiến chức thôi).

Gọi rồi, để làm gì? Ở điểm này chúng ta phải phân biệt hai chiều dọc-ngang. Chiều dọc đứng với Chúa, và chiều ngang với tha nhân:

Giờ đây, ngươi hãy đi. Ta sai ngươi đến với Pharaô để đưa dân Ta là con cái Itraen ra khỏi Ai Cập”. Môsê được sai đi giải cứu con cái Itraen, đấy chiều ngang. Cũng như Simon Phêrô được trao sứ vụ: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy”, hoặc “Hãy chăn dắt chiên của Thầy”. Còn tín hữu Philipphê: “Những gì là chân thật, cao quý, chính trực, tinh tuyền, tốt lành, đáng khen, thì dù là nơi dân ngoại, anh em hãy để ý”.

Đấy là chiều ngang, đến với tha nhân.

Còn chiều dọc, với Chúa. Đức Chúa hứa với Môsê: “Ta sẽ ở với ngươi”. Trường hợp Phêrô: “Anh có mến Thầy hơn những người này không?”. Các Tông đồ khi được chọn, Phúc Âm Matcô ghi rõ: “Để họ ở với Ngài, và để được Ngài sai đi”.

Anh em linh mục ở đây, đặc biệt 8 tiến chức hôm nay, chịu chức linh mục rồi có phải để “ở lại với Chúa” và để được Ngài “sai đi” không nhỉ? Hai chiều dọc ngang, mối thân tình với Chúa và sự dấn thân cho công việc tông đồ, không được nhẹ bên nào cả.

Mẫu gương ơn gọi của Phêrô

Truyền thuyết cổ kính về Phêrô trong câu chuyện Quo Vadis có thể giúp chúng ta cảm nhận rõ ràng và sâu sắc hơn cuộc đời ơn gọi với hai chiều dọc-ngang của người linh mục môn đệ Chúa.

Vào giữa những năm 60, trước lệnh truy nã của bạo chúa Nêrô, các Kitô hữu bị vây bắt khắp Rôma. Phêrô sợ hãi chạy trốn ra khỏi thành. Nhưng khi ra tới cổng thành, ông gặp một người. Chính là Chúa Giêsu, Ngài vác thập giá đi ngược lại. Phêrô hoa mắt hỏi: “Lạy Thầy, Thầy đi đâu? - Domine, quo vadis? Thầy đi đâu?”. Chúa Giêsu nhìn Phêrô trả lời: “Ta trở lại Rôma để chịu đóng đinh một lần nữa với dân của Ta”.

Mặc dù đã biết: “Ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta”, nhưng vào phút thứ 99 Phêrô đã lại ngã. Thế nhưng, chính trong sự yếu đuối sợ hãi trốn chạy mà ngài gặp Chúa. Do đó, trên con đường ơn gọi, chúng ta đừng bao giờ thất vọng vì sự yếu đuối của mình. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Ơn Ta đủ cho con, vì sức mạnh của Ta hiển lộ trong sự yếu đuối của con” (2 C 12,9).

Đấy là bài học thứ nhất chúng ta học được nơi câu chuyện Phêrô. Suốt cả cuộc đời chúng ta chiến đấu với tội lỗi và cám dỗ, và cuộc chiến chỉ kết thúc ở giây phút cuối đời. Đừng bao giờ nản lòng, vì chính trong cuộc chiến ấy mà chúng ta gặp Chúa Giêsu, hay đúng hơn chính Chúa đến gặp ta, cho ta gặp được ân sủng và lòng thương xót của Ngài. Đấy chiều dọc.

Thứ đến, vào những giây phút cuối Phêrô lại học được một lần nữa rằng Chúa Giêsu chính là Hội Thánh: “Ta trở lại Rôma để chịu đóng đinh một lần nữa với dân của Ta”. Trên đường Appia, Phêrô học được bài học mà Phaolô đã học được trên đường đi Đamas: Chúa Giêsu và Hội Thánh của Người là một.

Như Phêrô, chúng ta ý thức sâu xa rằng chúng ta thuộc về Hội Thánh và được mời gọi dâng hiến cuộc đời cho Hội Thánh. Chúng ta sẵn sàng chịu đau khổ và chịu chết vì Hội Thánh. Dù Hội Thánh xinh đẹp hay xấu xí, rạng rỡ hay hư hỏng, chúng ta vẫn yêu mến và trung thành với Hội Thánh. Đấy chiều ngang.

Hội Thánh cụ thể đây là ĐTC Phanxicô của Giáo Hội toàn cầu và là Giám mục Giáo phận của Giáo Hội địa phương, đồng thời cũng là các bề trên trong Tu Hội của mình.

Giám mục Giáo phận của anh em là ai? Anh em được bổ nhiệm đến giáo phận nào, thì giám mục ở đấy là giám mục giáo phận của anh em. Hãy kính trọng, yêu mến, vâng phục, tận đáy lòng, chứ đừng chỉ trên môi miệng… Hãy sống “cảm thức Hội Thánh” một cách cụ thể. Thế nào? Biết và thực hiện đường hướng mục vụ, chỉ thị phụng vụ, tinh thần truyền giáo của vị chủ chăn Giáo phận… Đồng thời, được sai đến với đoàn chiên, anh em hãy sống gần gũi và hết mình cho đoàn chiên, noi gương Đức thánh giáo hoàng Gioan-Phaolô II mà năm nay chúng ta mừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ngài. Qua rất nhiều những cuộc tông du khắp thế giới, ngài lên đường tìm kiếm và gần gũi đoàn chiên, với cung cách “say mê công lý”, một công lý bênh vực và cứu giúp những người bé nhỏ khổ đau.

Yêu mến Hội Thánh phải là niềm đam mê của chúng ta. Đấy là bài học thứ hai mà Phêrô học được và dạy chúng ta vào lúc cuối đời của ngài.

Cuối cùng, thánh Phêrô dạy chúng ta nhiệt tình gắn bó với mầu nhiệm Vượt qua, tức mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa Kitô. Hẳn chúng ta biết câu chuyện Phêrô kết thúc thế nào. Kết thúc không phải ở chỗ Phêrô bị bắt, mà ở chỗ dù bị bắt ngài vẫn hoan hỉ, vui sướng, được hoàn toàn đổi mới nhờ thầy Giêsu. Ngài quay lại Rôma, bị bắt, và bị điệu tới đồi Vatican. Ở đó, lý hình quát tháo: “Mày yêu mến gã Giêsu. Được, chúng tao sẽ cho mày chết giống như gã, đóng đinh thập giá”. Lúc ấy Phêrô kêu lên: “Xin làm ơn đóng đinh tôi ngược đầu xuống đất. Tôi không xứng đáng được chết giống như Ngài”.

Đấy, thế giới thực và thế giới quan, tức cái nhìn thế giới này của Phêrô đã hoàn toàn đảo lộn vì Chúa Giêsu: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Phêrô đã hoàn toàn xác tín con đường “bỏ mình đi, vác thập giá mình mà theo Chúa”, vị Chúa đến “không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10,45).

Kết

Để kết, xin gửi đến riêng 8 tiến chức linh mục câu chuyện tự thuật của một linh mục đã hồi tục vì coi thường hai chiều dọc-ngang của đời linh mục và quá tự quy về mình. Ngài kể:

Không có gì, không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa trong Đức Kitô, dù khó khăn bão táp, dù khổ nhục cay đắng, dù trần truồng đói khát..”. Tôi đã nhiều lần gân cổ, mặt đanh lại khi hát những câu hát trên. Thế nhưng, đã có một thứ nhẹ nhàng hơn, êm ái hơn, đã không chỉ tách tôi mà còn “bứng” tôi hoàn toàn khỏi lòng mến của Thiên Chúa, đó là một đời sống bận rộn và thiếu sự cầu nguyện.

Năm 1972, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ thần học ở Rôma, tôi đã nổi như cồn với tác phẩm đầu tay “Tiếng thở dài”. Cuốn sách trình bày những suy tư thần học về ý nghĩa của đau khổ trong kiếp nhân sinh, đã được bề trên, các linh mục và anh chị em giáo dân đón nhận nhiệt liệt.

Có những người viết thư cho tôi cho biết họ tìm lại được đức tin và đời sống cầu nguyện sau khi đọc cuốn sách, và họ khen tôi nức nở.

Thế nhưng, khốn nạn thân tôi, trong khi khuyên người ta cầu nguyện, tôi càng ngày càng ít dành thời gian cho việc cầu nguyện. Tôi miệt mài trong các thư viện, cố viết hay hơn nữa, nhiều hơn nữa. Và cuối cùng, những sách vở uyên bác đã không giữ tôi trong lòng mến của Thiên Chúa. Tôi đã hồi tục.

Và sau nhiều năm tháng lạc đường, tôi mới thấm thía chính đời sống cầu nguyện đơn sơ mà mẹ tôi tập cho tôi từ ngày còn bé mới giữ tôi lại trong tình yêu thương của Thiên Chúa. Chính đời sống đơn sơ cầu nguyện thật của quý ông bà cố…

Chẳng vậy, mà trong Phúc âm biết bao lần chúng ta gặp câu này: “Sau đó, Chúa Giêsu lui vào một nơi thanh vắng mà cầu nguyện”. Chính Chúa Con mỗi ngày còn cần đến sự cầu nguyện ở nơi thanh vắng để hiểu được ý Chúa Cha.

Rồi các lần Đức Mẹ hiện ra, Mẹ đã chẳng nói gì nhiều hơn là lặp lại tiếng kêu gọi khẩn cấp hãy cầu nguyện đó sao? Chúng ta cũng nhìn thấy điều này nơi các Thánh. Chính sự cầu nguyện đã giúp các Ngài nên Thánh.

Tôi đặc biệt mong muốn lặp lại ở đây những điều Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”: “Cầu nguyện vừa là con người đi tìm kiếm Thiên Chúa, vừa là Thiên Chúa đến mặc khải cho con người... - Trong cầu nguyện, Thiên Chúa tỏ ra Ngài là lòng thương xót, nghĩa là một Tình yêu đi tìm gặp con người đau khổ. Chính Tình yêu này nâng đỡ và vực chúng ta dậy”.

Trên tất cả mọi sự, tôi nhận rõ rằng, chính việc thiếu một đời sống cầu nguyện đã giết chết ơn gọi linh mục trong tôi. Có thể kết ở lời cảnh tỉnh này không?


Các Bài Giảng Của ĐC Đaminh Nguyễn Văn Mạnh