THÁNH LỄ TRUYỀN CHỨC

7 PHÓ TẾ & 7 LINH MỤC

TẠI ĐAN VIỆN THÁNH MẪU CHÂU SƠN

ĐƠN DƯƠNG LÂM ĐỒNG

30/06/2016

(Bài giảng của ĐC Antôn)

Trước Công Đồng Chung Vatican II (1962-1965), người ta thường nói đến 7 chức: chức 1: Giữ cửa, chức 2: Đọc sách, chức 3: Trừ quỷ, chức 4: Giúp lễ, chức 5 (Phụ Phó tế), chức 6 (Phó tế) và chức 7 (Linh mục). Nhưng sau Công Đồng Chung Vatican II, từ năm 1968, khi ban hành Sách Nghi thức mới, Giáo hội đã bãi bỏ 4 chức nhỏ và chức 5, thay vào đó là 2 TÁC VỤ (Đọc Sách, Giúp lễ), và 3 CHỨC THÁNH (Giám mục, Linh mục, Phó tế).

“Bí tích Truyền Chức Thánh” bao gồm việc truyền chức Giám mục, Linh mục và Phó tế. Nghi thức chính yếu của Bí tích Truyền chức là việc đặt tay “tông truyền” kèm theo lời nguyện truyền chức.

Trước khi truyền chức, Giáo hội huấn dụ các thầy về chức vụ sắp lãnh nhận:

Về chức Phó tế,  “các thầy sẽ là thừa tác viên phục vụ Bàn thờ, loan báo Phúc âm, chuẩn bị lễ tế, trao Mình và Máu Thánh Chúa cho các tín hữu. Ngoài ra, các thầy sẽ khuyên bảo lương dân cũng như tín hữu, dạy giáo lý, chủ toạ kinh nguyện, ban phép Rửa Tội, chứng hôn và chúc lành cho hôn phối, đem của Ăn Đàng cho người hấp hối, chủ sự nghi thức an táng..., chu toàn thừa tác vụ bác ái”.

Với các thầy sắp được truyền chức Phó tế, Giáo hội nhắc nhớ rằng: “Phó tế là những thừa tác viên của Đức Giêsu Kitô, Đấng ở giữa các môn đệ như người phục vụ…,  sẽ thi hành thừa tác vụ trong bậc độc thân. Vì chưng, đó vừa là dấu chỉ, vừa là động lực của bác ái mục vụ, đồng thời cũng là nguồn mạch phát sinh nhiều hoa trái trong thế gian… Các phó tế còn là thừa tác viên Phúc âm…, minh chứng bằng việc thi hành Lời Chúa mà các thầy rao giảng bằng miệng”.

Về chức linh mục: Thật ra, toàn thể dân thánh Chúa đều thực hiện chức tư tế vương giả trong Đức Kitô. Tuy nhiên, chính Vị Thượng Tế chúng ta là Đức Giêsu Kitô đã chọn một số môn đệ để nhân Danh Người chính thức thi hành nhiệm vụ tư tế trong Hội Thánh thay cho nhân loại. Vì được Chúa Cha sai đi, chính Người đã sai các Tông đồ đi khắp thế gian, để nhờ các ngài và những Giám mục kế vị các ngài, mà luôn luôn hoàn tất nhiệm vụ là Thầy, là Tư Tế và là Mục Tử. Còn các Linh mục là những người được kêu mời hợp tác với hàng Giám mục trong nhiệm vụ tư tế để phục vụ dân Thiên Chúa, trở thành cộng tác viên của hàng Giám mục… để rao giảng Phúc Âm, hướng dẫn dân Thiên Chúa và cử hành việc phụng tự, nhất là trong Thánh lễ”.

Với những thầy sắp chịu chức Linh mục, Giáo hội mời gọi các linh mục thi hành nhiệm vụ rao giảng: khi suy gẫm Lời Chúa, các linh mục hãy chú tâm tin điều mình đọc, dạy điều mình tin và thi hành điều mình dạy… Các Linh mục cũng phải thi hành nhiệm vụ thánh hóa trong Đức Kitô bằng việc cử hành các Bí tích: Rửa tội, Giải tội, Thánh Thể, Hôn phối, Xức dầu bệnh nhân; bằng việc dâng lời ca ngợi tạ ơn và cầu nguyện trong Các Giờ Kinh Phụng Vụ thay cho dân Chúa và thế giới. Ngoài ra, khi liên kết và vâng phục Giám mục thi hành nhiệm vụ thủ lãnh và mục tử tốt lành của Đức Kitô, các linh mục cố gắng quy tụ các tín hữu thành một gia đình, để có thể hướng dẫn họ đến với Chúa Cha  nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.

Theo ý bài trích sách Dân số, các Phó tế và Linh mục là những người được chọn để trợ giúp Giám mục, tương tự như những người thuộc chi tộc Lêvi được chọn để trợ giúp ông Môsê lo cho dân Chúa (x. Ds 3, 5-9).

Theo ý bài Tin Mừng, các Phó tế và Linh mục là những người được Chúa Giêsu chọn: Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15, 16-17).

Điều Chúa truyền dạy các phó tế và linh mục là yêu thương nhau, yêu thương hết mọi người, cùng với mọi người xây dựng Nhiệm thể Chúa Kitô là Giáo hội, như lời Thánh Phaolô lưu ý trong thư gửi tín hữu Rôma: “Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể. Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người” (Rm 12, 4-6).

Đặc biệt, các Phó tế và Linh mục được truyền chức hôm nay còn là những người đã nhận được đặc sủng làm đan sĩ thuộc Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn là một Dòng tu chiêm niệm theo truyền thống Xitô. Đây là dịp để chúng ta ôn lại đôi nét lịch sử và linh đạo Hội Dòng Xitô tại Việt Nam:

Tại Việt Nam, Hội dòng Xitô xuất phát từ cha đáng kính Henri Denis Biển Đức Thuận (1880-1933). Trong nhiều năm ngài thao thức lập dòng chiêm niệm cho nam giới. Vào ngày 15/8/1918, ngài lập Tu Viện Phước Sơn tại Quảng Trị, thuộc giáo phận Huế, lúc đầu gọi là Dòng Đức Bà Việt Nam.

Từ một dòng thuộc quyền giáo phận, năm 1935, toàn thể tu sĩ Phước Sơn khấn trọng thể gia nhập Dòng Xitô thuộc quyền Toà Thánh. Lúc này cộng đoàn Phước Sơn đã lên đến 70 tu sĩ. Đức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng tha thiết ao ước có một Dòng Nam chiêm niệm tại giáo phận Phát Diệm để, như ngài nói, “nên như cây thu lôi thiêng liêng, cùng với Dòng Kín (Nữ), bênh đỡ giáo phận bằng lời cầu nguyện và hãm mình”. Ngày 08/09/1936, Dòng Phước Sơn khai sinh nhà con tại xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình: đó là Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn Nho Quan (tại miền Bắc Việt Nam).

Từ một cộng đoàn non trẻ, Dòng Châu Sơn không ngừng củng cố, phát triển và lớn mạnh. Năm 1953, một số tu sĩ vào miền Nam thành lập cộng đoàn Châu Sơn Nam, tạm thời cư trú tại họ đạo Phước Lý (Thành Tuy Hạ, Biên Hòa). Tháng 06/1957, cộng đoàn Châu Sơn Nam di chuyển đến huyện Đơn Dương, tỉnh Tuyên Đức (nay là Lâm Đồng). Ngày 27/07/1961, cộng đoàn được Thánh Bộ Dòng Tu ban sắc lệnh thiết lập “Đan viện tự trị” với tên gọi “Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương.

Trước những thành tựu đáng khích lệ của cộng đoàn Châu Sơn tại Đơn Dương, Đại Hội toàn Dòng Xitô năm 1963 nhất trí nâng Đan viện tự trị Châu Sơn cùng với hai Đan viện Phước Sơn và Phước Lý lên hàng Đan Phụ viện (Abbatia), một đan viện có Đức Viện Phụ. Thánh Bộ Dòng Tu châu phê quyết định này qua văn thư ngày 13/11/1963.

Ngày 06/l0/1964, Đức Thánh Cha Phaolô VI ban hành sắc lệnh thành lập “Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam”. Thành phần Hội dòng Xitô Thánh Gia gồm có : Đan viện Phước Sơn, các nhà con của Phước Sơn và các đan viện do các nhà này thiết lập; các đan viện khác xin gia nhập Hội dòng, miễn là chấp nhận Hiến Pháp của Hội dòng. Ngoài ra, nữ đan viện Thánh Mẫu Vĩnh Phước và các nhà xuất phát từ đan viện này cũng được sát nhập vào Hội dòng một cách trọn vẹn; tuy nhiên, các nữ đan viện này có Hiến pháp riêng.

Theo Hiến Pháp và Tuyên ngôn Hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam, tôn chỉ và mục đích đời đan tu “là một đời tận hiến chuyên về chiêm niệm, thể hiện sự thông phần mầu nhiệm Thánh giá, tuyên xưng sức mạnh và hoan lạc của ơn Phục sinh” (38). Vì chuyên về chiêm niệm, các đan sĩ Xitô Thánh Gia sinh hoạt hàng ngày trong khuôn viên đan viện, hay còn gọi là trong nội vi đan viện. Vì là Dòng chiêm niệm, nên cuộc sống của các đan sĩ giữ luật thinh lặng nghiêm nhặt, cốt để cho các đan sĩ dễ dàng kết hợp với Chúa, cầu nguyện cho Giáo hội, đặc biệt cầu nguyện cho những người chưa nhận biết Chúa. Linh đạo Xitô Thánh Gia là đời sống cầu nguyện và lao động (Ora et Labora), bắt nguồn từ tinh thần thánh Biển Đức, từ truyền thống Xitô nguyên thuỷ và từ Đấng sáng lập. Đời sống khổ chế và sống chung là nét đặc thù của đời sống đan sĩ Xitô.

Chúng ta hiệp dâng Thánh Lễ với tâm tình tạ ơn Thiên Chúa về ơn gọi đan tu được ban cho Giáo hội và Thế giới. Chúng ta tin tưởng vào lời cầu nguyện và hy sinh của các đan sĩ, nhưng cũng không quên cầu nguyện cho các đan sĩ, cách riêng cho các thầy sắp được truyền chức Phó tế và Linh mục.


Các Bài Giảng Của ĐC Antôn Vũ Huy Chương