LỄ KHẤN TRỌNG THỂ
ĐAN VIỆN CÁT MINH TÊRÊSA ĐÀ LẠT

18/7/2018

(Bài giảng của ĐC An-tôn)

 

Có lần tôi nói với các chị em Dòng Kín rằng: “Nếu có kiếp sau và là nữ, tôi không đi tu Dòng Kín, vì phải có ơn gọi đặc biệt mới tu được!” Đan viện Cát Minh Têrêsa tại Đà Lạt, cũng được gọi là Dòng Kín Đà Lạt, khánh thành cách đây gần 3 năm. Trong 3 năm qua, mỗi năm đều có lễ khấn, hoặc khấn lần đầu, hoặc khấn trọn đời; nữ tu nào không làm việc ở ngoại vi mà khấn trọn đời được gọi là khấn trọng thể.

Tại sao gọi Dòng Nữ Cát Minh là Dòng Kín?

Theo tài liệu của Cha Giuse Phan Tấn Thành OP, nói đến “Dòng Kín”, chúng ta nghĩ ngay đến cảnh “kín cổng cao tường”. Thật ra, hầu như ndòng nào cũng kín cổng cao tường. Có thể tóm tắt lịch sử về tường cổng ndòng như thế này:

- Từ thế kỷ 4, bắt đầu có những tu sĩ rời bỏ thành thị rút lên nơi hoang vắng để đi tìm Chúa. Họ sống hoàn toàn cách biệt với người đời. Các đan sĩ sống trong đan viện được xây dựng trên núi cao đồi vắng, chẳng hạn như trên núi Carmel miền bắc Israel (ở Việt Nam thường gọi là Camêlô hay Cát Minh). Nhưng dần dần, thiên hạ kéo đến lập cư chung quanh nhà dòng, và đặc biệt từ thời Trung cổ, lại xuất hiện các tu sĩ hoạt động tông đồ bên ngoài nhà dòng. Từ đó, người ta thấy có thêm những tu viện được xây cất ở giữa các làng mạc hoặc thành thị, gần với dân chúng. Từ đó, vấn đề kín cổng cao tường được đặt lên với những lý do khác nhau. Một lý do thực tiễn là để xác định ranh giới của nhà dòng để bảo vệ an ninh. Rồi một lý do thiêng liêng sớm được xen vào, đó là dấu hiệu của sự tách ly giữa nếp sống tu trì và đời sống trần thế. Bức tường vật lý được xây lên như là để ngăn chặn sự xô bồ của thế gian, tạo nên một khung cảnh thinh lặng, một thứ sa mạc để người tu sĩ dễ gặp gỡ Thiên Chúa.

Vậy, phải chăng tất cả các dòng tu đều là dòng kín?

Trên lý thuyết thì đúng như vậy. Tất cả các nhà dòng đều dựng lên một thứ rào dậu nào đó để nói lên sự tách biệt thế trần. Còn tên gọi “dòng kín” thực tế chỉ được dành riêng cho một hình thức tu trì của nữ giới, như Dòng Kín Đà Lạt đây.

Tại sao lại có một chế độ tu trì ngặt nghèo như thế?

Lịch sử bức tường của các nhà dòng vừa dài lại vừa phức tạp. Riêng đối với nữ giới, lịch sử bức tường còn phức tạp hơn. Vào thế kỷ IV, khi phong trào đan tu xuất hiện, nhiều tín hữu rút lên rừng núi, có khi ở một mình, để phụng sự Thiên Chúa. Nhưng đó là nói về nam giới, chứ nữ giới làm sao sống một mình trên rừng núi được! Vì thế sự tiến triển đời sống tu trì của nữ giới khác với nam giới.

Lúc đầu, các trinh nữ tận hiến sống tại gia đình; dần dần họ tụ họp thành cộng đoàn. Nhưng nói chung, vì lý do an ninh, cộng đoàn các trinh nữ thường toạ lạc ở thành thị, vì các nữ tu không những chuyên lo việc phụng thờ Thiên Chúa mà còn dấn thân vào các công việc bác ái xã hội nữa.

Thế nhưng, từ thế kỷ 8, giáo quyền đã ban hành nhiều quy luật liên hệ tới nội cấm hay nội vi của các tu viện. Riêng đối với nữ giới, luật nội vi có những khoản nghiêm nhặt hơn nam giới: các nam tu đi ra ngoài dễ dàng hơn, nhất là khi hoạt động tông đồ; còn các nữ tu thì khó hơn, phần nào có lẽ do não trạng thời đó: phụ nữ nên ở nhà hơn là đi ra ngoài. Nhưng còn một lý do khác vẫn còn giá trị, đó là khá nhiều cặp mắt theo dõi các bà các cô; vả lại các bà các cô cũng vẫn là con người không tránh khỏi cám dỗ. Vì thế các nữ tu viện cần phải cửa đóng then cài chặt chẽ.

Một khúc ngoặt xảy ra vào thế kỷ 13, với hai hiện tượng. Thứ nhất, các nữ tu thánh Clara đoan hứa tuân giữ nếp sống nội vi, nghĩa là không bước ra khỏi tu viện. Đây là khởi điểm của Dòng Kín theo nghĩa chặt. Thứ hai, sắc lệnh của Đức Thánh Cha Bonifaxiô VIII năm 1298 mở rộng việc áp dụng nội vi cho tất cả các nữ tu viện. Tại sao biện pháp này được đặt ra? Văn kiện viện dẫn nhiều lý do: thứ nhất có tính cách kỷ luật, nhằm bảo vệ sự trinh tiết của các nữ tu. Nội vi vừa hạn chế sự đi ra của các nữ tu vừa hạn chế sự đi vào của nam giới dù là giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, họ hàng. Kế đó, thêm vào lý do thứ hai mang tính cách huyền nhiệm, nhằm hỗ trợ cho đời sống chiêm niệm: các nữ tu chỉ ở trong nhà dòng để lo việc thờ phượng Chúa.

đã có văn bản pháp lý của Toà thánh ra đời vào cuối thế kỷ 13, nhưng nhiều nữ tu vẫn đi ra ngoài hoạt động. Vì thế, Công đồng Trentô năm 1563 (giữa thế kỷ 16) đã ra vạ tuyệt thông cho những ai vi phạm luật nội vi. Trước đây, nội vi được áp dụng cho những Dòng nào tình nguyện chấp nhận chế độ đó. Nhưng có nhiều dòng tu khác chuyên lo công tác xã hội thì không thể nào sống trong nội vi. Vì thế, năm 1566, ĐTC Piô V quy định rằng ai không chấp nhận sống trong nội vi thì không được nhìn nhận là nữ tu. Điều này đã xảy ra cho các “Nữ tử Bác ái” của thánh Vinh Sơn Phaolô vì họ phải đi ra ngoài để giúp đỡ người nghèo; do đó họ không được Giáo hội nhìn nhận là nữ tu với lời khấn công; họ chỉ có lời khấn tư mà thôi.

Từ thế kỷ 18 đến 19, do nhiều hoàn cảnh chính trị xã hội tại Âu châu, bộ mặt của các Dòng tu đã thay đổi khá nhiều. Một đàng, tại nhiều quốc gia, các dòng nữ bị chính quyền giải tán, không được sống chung trong nội vi nữa. Đàng khác, đứng trước những thảm cảnh xã hội như các trẻ em mồ côi, các thiếu nữ thất học, các bệnh nhân thiếu người chăm sóc, đã xuất hiện nhiều hội dòng chuyên về những công tác cứu tế, giáo dục, bác ái. Các hội dòng này được giáo luật nhìn nhận như là nữ tu với hiến chế năm 1900 của ĐTC Lêô XIII. Từ đó, chúng ta thấy có hai nếp sống tu trì của các dòng nữ: những dòng sống trong nội vi và những dòng không sống trong nội vi. Tuy nhiên, ngay cả trong bộ giáo luật hiện hành, ban hành năm 1983 (điều 667), tất cả các dòng tu, bất luận nam nữ, đều phải duy trì nội vi với mức độ khác nhau. Nội vi là dấu hiệu của sự dâng hiến tu trì và cũng nhằm bảo vệ nếp sống huynh đệ cộng đoàn.

Ngoài luật nội vi theo hiến pháp mỗi Dòng, giáo luật quy định một loại nội vi chặt chẽ hơn, quen gọi là “nội vi giáo hoàng”. Những dòng tu giữ nội vi chặt chẽ được gọi là Dòng Kín (thí dụ Dòng Kín Cát MinhDòng Thánh Clara). Kỷ luật nội vi được ấn định do Bộ Tu sĩ. Việc tiếp xúc của các tu sĩ dòng này với ngoại giới rất bị hạn chế: các nữ tu chỉ được ra khỏi nội vi trong những trường hợp được xét là khẩn trương. Đối lại những người bên ngoài, kể cả các nữ tu Dòng khác, cũng không dễ gì đi vào bên trong nội vi.

Tuy nhiên, điều quan trọng đáng ghi nhận là các văn kiện đều dành phần đầu để trình bày những động lực và lý do của nếp sống hơi kỳ lạ này. Nói cách vắn tắt, nội vi là biểu hiệu của sự xa cách nếp sống xô bồ thế tục, nhằm tạo ra một khung cảnh sa mạc tĩnh mịch thiêng liêng, giúp cho đời sống chiêm niệm.

Ngoài động lực biểu hiệu sự tĩnh mịch, đời sống nội vi cũng là biểu hiệu của việc thông dự vào mầu nhiệm Vượt qua của Đức Kitô. Các dòng kín diễn tả sự thông dự vào mầu nhiệm Tử nạn qua việc chấp nhận sự hy sinh nhũng giá trị đáng quý, như là sự đi lại, giao tiếp, chuyện trò v.v. và thậm chí hy sinh luôn cả hoạt động tông đồ trực tiếp. Hình thức tông đồ đặc thù của họ là thinh lặng cầu nguyện và hy sinh. Nếp sống của họ cũng bắt buộc họ thực hành sự khó nghèo cách khá triệt để, bởi vì họ không có nguồn lợi kinh tế dồi dào.

Hôm nay, một nữ tu thuộc Đan viện Cát Minh Têrêsa tại Đà Lạt khấn trọng thể, nghĩa là khấn trọn đời sống trong nội vi Nhà Dòng. Theo tinh thần của bài Phúc Âm hôm nay, các nữ tu giống như những cô trinh nữ khôn ngoan chuẩn bị dầu đèn đi đón chàng rể là chính Đức Kitô. Chúng ta cầu nguyện cho các nữ tu Đan viện Cát Minh, và chúng ta tin tưởng rằng các chị em trong Đan viện luôn cầu nguyện và hy sinh cho chúng ta.




-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Lễ Khấn của Đan Nữ Marie Faustina Lòng Chúa Thương Xót thuộc Đan viện Cát Minh (18/7/2018)
-----------------------------------------------------------------------------------------------------

Các Bài Giảng Của ĐC Antôn Vũ Huy Chương