SỐNG ĐỜI MÔN ĐỆ

 

BIỂU TƯỢNG SA MẠC

TRONG KINH THÁNH

Giuse Nguyễn Ngọc Huy

 

Khi nói về sa mạc, tôi nghĩ ngay đến một nơi khô cằn, oi bức với những đồi cát bạt ngàn. Hình ảnh sa mạc thật không quá xa lạ đối với tôi khi nó xuất hiện khá nhiều trên tivi, sách, báo,… Thêm vào đó, tôi cũng có thể bắt gặp hình ảnh sa mạc trong Kinh Thánh. Nhưng có điều, tôi chưa từng “chạm” vào một sa mạc. Hồi còn bé, tôi rất bất ngờ khi thấy các anh, chị giáo lý viên đi “sa mạc”. Tôi hoàn toàn không biết hai từ “sa mạc” chỉ là một biểu tượng trong Kinh Thánh, nhưng lại nhủ thầm: “chắc là họ đi du lịch Phan Thiết…”.

Khi bàn về biểu tượng sa mạc trong Kinh Thánh, tôi nghĩ mình không nên chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu trên mặt chữ. Cái tôi cần là phải cảm nhận nó. Nhưng tôi phải cảm nhận nó như thế nào khi tôi thậm chí còn chưa từng đặt chân lên một sa mạc? Tất cả điều tôi có thể làm là lên mạng tìm hiểu và bằng trí tưởng tượng của mình, tôi sẽ thiết kế riêng cho mình một “sa mạc”. Và thật may mắn vì hình ảnh sa mạc làm tôi liên tưởng ngay đến những đồi cát ở Phan Thiết. Nhưng, tôi cần gắn thêm vào hình ảnh đó những yếu tố đặc trưng của một sa mạc như: nhiệt độ, nước, gió, thực vật và động vật,…

Trước hết, nhiệt độ ở sa mạc rất nóng vào ban ngày nhưng lại lạnh đi rất nhanh vào ban đêm. Nhiệt độ ban ngày có thể lên đến 45 ֯C/113 ֯F hoặc có thể cao hơn trong mùa hạ. Đặc biệt là ở sa mạc Turfan (Thổ Nhĩ Kỳ), nhiệt độ ban ngày mùa hạ lên tới 82.3 ֯C. Với nhiệt độ cao như thế, tôi có thể luộc chín một quả trứng bằng cách chôn vùi nó xuống dưới nền cát. Vào ban ngày, bầu trời thường trong và hầu hết bức xạ mặt trời chạm đến bề mặt, nhưng khi mặt trời lặn, hoang mạc lạnh rất nhanh do sự phản xạ năng lượng vào không gian. Nhiệt độ ban đêm có thể giảm xuống 0 ֯C/32 ֯F hoặc còn thấp hơn vào mùa đông. Tức là nhiệt độ ban đêm có thể xuống dưới mức đóng băng. Tôi thiết nghĩ, sa mạc giống như một sự kết hợp giữa một cái lò vi sóng và một cái tủ lạnh. Ban ngày là thời gian hoạt động của cái lò vi sóng, còn ban đêm là thời gian hoạt động của cái tủ lạnh.

Tiếp đến là nước. Nước đóng vai trò rất quan trọng cho sự sống của trái đất. Tuy nhiên, nước lại là một thứ rất hiếm ở sa mạc. Lượng mưa được xác định là ít hơn 200 mm/năm, ít hơn rất nhiều so với lượng mưa ở Việt Nam (khoảng 15002000 mm/năm), đất nước mà tôi đang sinh sống. Thêm vào đó, sa mạc gần như không có sông và suối. Theo như tôi được biết, nước ở sa mạc bốc hơi khá nhanh. Trên thực tế, lượng nước mưa bị bốc hơi còn nhiều hơn so với lượng nước mưa ngấm xuống mặt đất. Thậm chí, có những cơn mưa nhỏ, nước mưa bị bốc hơi trước khi nó kịp rơi xuống mặt đất. Các sông và suối thì chẳng có nước trên bề mặt, hoặc nếu có thì là do nước từ bên ngoài sa mạc chảy vào. Nói chung, sự hiếm hoi của nước chính là một thách thức lớn cho các động thực vật sống ở sa mạc.

Gió cũng là một thách thức khá lớn đối với sự sống trên sa mạc. Bởi vì gió chính là nguyên nhân gây nên những trận bão cát và bão bụi. Khi một cơn gió ổn định bắt đầu thổi, các hạt mịn nằm trên bề mặt đất bắt đầu lay chuyển. Khi tốc độ gió tăng lên, một số hạt được nâng lên theo dòng không khí. Khi tiếp đất, chúng va chạm vào các hạt khác và có thể làm bắn tung các hạt này vào không khí, và cứ như thế nó tạo một phản ứng dây chuyền. Đối với đợt gió nhỏ, sức gió chỉ đủ khả năng tạo nên những trận bão bụi, nhưng đối với đợt gió lớn, nó sẽ tạo ra một trận bão cát. Những cơn gió ở sa mạc thậm chí có thể nâng hàng tấn cát lên không trung và thổi bay đến hàng ngàn kilômét. Trong một trận bão cát, con người nếu không có kỹ năng và đồ bảo hộ, họ sẽ không thể thở và tầm nhìn gần như là bằng không. Vì vậy, nếu tôi gặp phải một trận bão cát mà không né tránh hoặc chuẩn bị, nhiều khả năng là tôi sẽ chết.

Với một môi trường khắc nghiệt như thế, chỉ có một số loại động vật và thực vật như: những cây bộ gai, họ xương rồng, một số loài bò sát,… mới có thể sinh tồn được ở sa mạc. Ngoài ra, con người cũng có thể sống ở sa mạc, nhưng chỉ ở một số nơi có đủ điều kiện về nguồn nước và nguồn thức ăn, và biên độ nhiệt trong ngày cũng không quá cao. Tuy nhiên, việc sống ở sa mạc thực không phải là một điều dễ dàng.

Qua những yếu tố trên, tôi đã có được một hình ảnh sa mạc khá sống động trong trí tưởng tượng của mình. Thế nhưng nó vẫn không chân thực. Điều tôi cần có lẽ là một sa mạc có đủ độ chân thực. Tuy vậy, việc sống ở sa mạc quả là một điều khủng khiếp đối với tôi. Vì vậy, tôi không khỏi thắc mắc rằng: Làm sao dân Ítrael có thể sống ở sa mạc đến bốn mươi năm mà không có sự nâng đỡ của Thiên Chúa? Tại sao Chúa Giêsu cũng như nhiều vị thánh và các ẩn sĩ lại chọn sa mạc làm nơi tu dưỡng và cầu nguyện?

Nhìn lại thời điểm khi dân Ítrael thoát khỏi Ai Cập, băng qua sa mạc để đến vùng Đất Hứa, tôi thấy rằng hành trình của dân Ítrael trong sa mạc chính là thời gian thử thách mà Thiên Chúa muốn dân phải chịu: “Ông Môsê cho dân Ítrael nhổ trại rời Biển Sậy… tiến vào sa mạc… chính tại đó Đức Chúa đã thử lòng họ[1].” Thêm vào đó, ngôn sứ Hôsê cũng có một tư tưởng khá đơn giản về đề tài sa mạc: “Khi Ítrael còn ở trong sa mạc và sống đời du mục thì họ trung thành với Giavê. Tiện ích của cuộc sống định cư đã đưa đẩy họ tôn thờ thần tượng. Cho nên Thiên Chúa phải đưa dân Ngài trở về sa địa. Nói cách khác, Thiên Chúa sẽ tước bỏ mọi tiện nghi nơi dân Ngài. Khi đó, Ítrael mới tìm lại được niềm tin thuần khiết và tình yêu của Thiên Chúa.[2] Như vậy, có thể nói sa mạc vừa là thời gian trung tín vừa là thời gian thử thách. Đồng thời, việc sống trong sa mạc cũng giống như một sự tu dưỡng, trong đó từ bỏ và yêu mến liên kết chặt chẽ với nhau[3].

Cũng trong thời gian khi dân Ítrael thoát ra khỏi Ai Cập, Thiên Chúa đã hiện ra với dân thông qua hình dạng đám lửa tại núi Khôrếp. Khi ấy, Ngài thông báo giao ước của Ngài, đó là Mười lời (Mười điều răn) được viết trên hai bia đá[4]. Thời gian thử thách trong sa mạc, dân Ítrael phải chịu cùng cực, chịu đói, nhưng rồi Đức Chúa cho họ ăn manna; thời gian bốn mươi năm sống trong sa mạc, áo của họ đã không rách, chân họ đã không sưng lên[5]. Vì vậy, sa mạc là nơi hay thời gian của ân sủng: dân gặp gỡ Đức Chúa và tiếp nhận mạc khải của Ngài[6].

Tuy nhiên, khi nghĩ về việc đi vào sa mạc, có lẽ chúng ta sẽ cảm thấy có chút ngu ngốc. Con người, ai mà chẳng muốn có một cuộc sống sung túc, khỏe mạnh hay nhàn rỗi; và làm gì có ai muốn mình phải chịu thiếu thốn, đói khát hay lao nhọc? Vì vậy, thật ngớ ngẩn khi tôi chịu vùi mình vào trong một sa mạc. Trên thực tế, con người luôn mơ về một tương lai tươi sáng, chối bỏ những quá khứ đau buồn và chạy trốn cái thực tại phũ phàng. Tôi là một Kitô hữu với mong muốn đi theo Chúa Giêsu. Vậy nên, tôi phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo[7]. Điều ấy có nghĩa là tôi sẽ không chạy chốn cái thực tại phũ phàng đó, nhưng tôi sẽ chấp nhận nó.

Theo Tân Ước, sa mạc (hoang địa) cũng là nơi nguy hiểm, có ma quỷ[8]. Tuy nhiên, sa mạc lại là nơi tu dưỡng và cầu nguyện: Thánh Gioan Tẩy Giả đã có thời gian sống ẩn dật trong sa mạc cho đến khi Ngài ra mắt dân chúng[9]. Và sau đó là Chúa Giêsu, Người được Thần Khí dẫn vào sa mạc, trong đó Người ăn chay và chịu cám dỗ[10]. Hơn nữa, sa mạc còn là nơi các ẩn sĩ sống đời chiêm niệm trong cô tịnh, xa lánh thế gian[11]. Sa mạc chính là một cuộc hành trình đi thẳng vào nội tâm, vào bên trong sâu thẳm của chính mình để khám phá ra những giá trị của cuộc sống. Sa mạc không chỉ là hoang địa mênh mông, cát nóng cháy bỏng, giá lạnh thiếu thốn, đói khát, tịch liêu mà còn là hành trình đi vào nội tâm, vào không gian bên trong sâu thẳm của chính mình để thực hiện một cuộc tự chuyển hóa, tự trưởng thành.

Đối với cuộc hành trình đầy gian lao như thế, tôi không thể cứ thế lao mình mà không có tính toán. Tôi cần có sự chuẩn bị. Bước đầu, tôi sẽ trang bị cho mình những kinh nghiệm đến từ quá khứ. Khi nhìn lại bản thân, tôi cảm thấy khá bất ngờ vì có lẽ tôi đã từng cảm nhận được phần nào hương vị của sa mạc. Hay nói cách khác, tôi đã từng trải nghiệm một “sa mạc” trong quá khứ. Những hương vị đó là sự đau khổ, cô đơn và những khó khăn mà tôi đã gánh chịu. Tiếp đến là những kinh nghiệm đến từ tương lai, tất nhiên là tôi sẽ không suy đoán; điều tôi làm chính là nhìn đến những người già nua, những người bệnh tật và những người bị một tai nạn nào đó. Tôi nghĩ đến họ bởi vì họ có thể là tương lai của tôi. Và ở nơi họ, tôi cảm thấy có hương vị của sa mạc. Cũng vậy, những hương vị đó chính là sự đau khổ, cô đơn và những khó khăn mà tôi sẽ gánh chịu. Và rồi khi nhìn về thực tại, tôi đang mang trên mình quá nhiều gánh nặng và nó không phù hợp cho cuộc hành trình trong sa mạc. Tôi cần loại bỏ những điều không cần thiết như: tiền tài và danh vọng, thói hư tật xấu, những dục vọng, sự chiếm hữu, phản bội, thù hận,... Kinh nghiệm sa mạc dường như bộc lộ sự hữu hạn trong thân phận con người. Dũng cảm chấp nhận kiếp du mục trong cuộc sống, sa mạc là nơi thức tỉnh, là khởi điểm cho hành trình trở về chính mình và điều tôi cần lúc này không gì khác là Nước hồng ân đến từ Thiên Chúa.

Bên cạnh đó, các ý nghĩa của biểu tượng sa mạc cũng đưa tôi hướng đến ngày cánh chung[12]. Nó giúp tôi tiến vào sa mạc mà Thiên Chúa đã dành riêng cho tôi. Trong sa mạc đó, tôi phải chịu sức nóng của sự đau khổ ban ngày và cái lạnh của nỗi lo âu ban đêm, cơn đói khát của một tâm hồn héo úa đang khao khát nước hồng ân từ Thiên Chúa, những cơn bão khó khăn trong đời sống, cái khắc nghiệt của sự cám dỗ đang ngày đêm giày vò. Để bước vào sa mạc, tôi phải chấp nhận mọi thử thách, tập trung thành và yêu mến Thiên Chúa. Đồng thời, tôi phải từ bỏ mọi thứ tiện ích của cuộc sống và thanh luyện tâm hồn. Để rồi tới ngày Thiên Chúa định, Ngài sẽ là Thủ Lãnh của tôi và dẫn đưa tôi về thành Giêrusalem chân chính[13].

Giờ đây, tôi nghĩ tôi có lẽ đã hoàn thành cho riêng mình một “sa mạc”. Và giống như các anh chị giáo lý viên, tôi cũng sẽ đi sa mạc.

 



[1] x. Xh 15,22-25

[2] x. Hô-sê 13,6; 12,10; 2,16; J-Dheilly Desclee, Từ điển Kinh Thánh, tr 1361

[3] x. J-Dheilly Desclee, Từ điển Kinh Thánh, tr 1361

[4] x. Đnl 4,9-14

[5] x. Đnl 8.3-4

[6] x. Hội đồng Giám Mục Việt Nam, Từ điển Công giáo, tr 406

[7] x. Mt 16,24

[8] x. Hr 11,38; Lc 8,29; Hội đồng Giám Mục Việt Nam, Từ điển Công giáo, tr 407

[9] x. Lc 1,80

[10] x. Mt 4,1

[11] x. Hội đồng Giám Mục Việt Nam, Từ điển Công giáo, tr 407

[12] x. J-Dheilly Desclee, Từ điển Kinh Thánh, tr 1361

[13] x. J-Dheilly Desclee, Từ điển Kinh Thánh, tr 1361