SỰ HIỆN DIỆN THỰC SỰ CỦA ĐỨC KITÔ NƠI BÍ TÍCH THÁNH THỂ

DẤU CHỈ TÌNH YÊU VÀ SỰ HIỆP NHẤT

Giuse Nguyễn Kim Công

 

 

Trong đời sống của Giáo Hội, phụng vụ đóng vai trò rất quan trọng vì “phụng vụ là tột đỉnh quy hướng mọi hoạt động của Giáo Hội, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực cho Giáo Hội”[1]. Đặc biệt, Giáo Hội rất nhấn mạnh ý nghĩa và lợi ích cao cả mà bí tích Thánh Thể mang lại, “bí tích Thánh thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống Kitô giáo”[2]. Nói cách khác, “bí tích Thánh Thể là bản toát yếu và tổng luận của đức tin của chúng ta”[3]. Do đó, Giáo Hội luôn luôn cổ võ việc tôn thờ cũng như suy niệm học hỏi về bí tích Thánh Thể. Vì “những bí tích khác cũng như mọi thừa tác vụ trong Hội Thánh, và các hoạt động tông đồ, đều gắn liền với bí tích Thánh Thể và quy hướng về bí tích đó. Thật vậy, phép Thánh Thể Chí Thánh chứa đựng toàn bộ của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó là chính Đức Kitô, Chiên Vượt qua của chúng ta”[4]. Tuy nhiên, chúng ta phải chấp nhận rằng, việc tin nhận sự hiện diện đích thực của Đức Giêsu Kitô nơi bí tích Thánh Thể vẫn đang còn gặp nhiều khúc mắc chưa có sự thống nhất giữa các giáo hội Kitô. Chính vì thế, để hiểu cách sâu sắc hơn, từ đó có thể làm chứng về sự hiện diện thực sự của Đức Giêsu Kitô nơi bí tích Thánh Thể, chúng ta cùng tìm hiểu một số điểm: Bí tích Thánh Thể - sáng kiến của Thiên Chúa; Cách thức hiện diện của Đức Kitô nơi bí tích Thánh Thể; Hiệu quả bí tích Thánh Thể mang lại; Đối thoại với các giáo hội Kitô khác.

1/ Bí tích Thánh Thể - sáng kiến của Thiên Chúa.

Thánh Gioan Tông Đồ đã quả quyết rằng: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16), Ngài yêu thương con người đến cùng, dù rằng con người thường hay bất trung và phản bội lại tình yêu của Ngài. Điều này được cụ thể hóa nơi con người Đức Giêsu Kitô, “Đức Giêsu yêu thương những kẻ thuộc về mình, Chúa đã yêu họ đến cùng. Để không bao giờ lìa xa những kẻ thuộc về mình, và để họ được tham dự vào cuộc Vượt Qua của Người, Người đã thiết lập bí tích Thánh Thể”[5]. Như vậy, việc thiết lập bí tích Thánh Thể chính là sáng kiến mà Thiên Chúa muốn dùng để có thể ở lại, nuôi dưỡng đoàn chiên của Người, cho họ được ở với Người và trong Người.

Nơi Thánh Thể, Đức Giêsu hiện diện một cách bí tích, Người ở giữa chúng ta cách mầu nhiệm với tư cách là Đấng đã yêu mến và nộp mình vì chúng ta, và Người hiện diện dưới những dấu chỉ diễn tả và truyền thông tình yêu này.

2/ Cách thức hiện diện của Đức Kitô nơi bí tích Thánh Thể.

Trong niềm tin của mình, Giáo Hội Công giáo tin và không ngừng tuyên xưng rằng: “Đức Kitô Giêsu, Đấng đã chết, hơn nữa đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta đang hiện diện trong Hội Thánh người dưới nhiều hình thức: Trong Lời của Người, trong kinh nguyện của Hội Thánh Người, trong những người nghèo khổ, những bệnh nhân, những người bị cầm tù, trong các bí tích mà chính Người là tác giả, trong Hy tế Thánh lễ và trong con người thừa tác viên. Nhưng nhất là Người hiện diện dưới các hình dạng Thánh Thể”[6].

Nơi bí tích cực thánh này, “Đức Kitô hiện diện cách độc nhất vô nhị. Người nâng bí tích Thánh Thể vượt lên trên các bí tích khác, vì vậy bí tích này là như sự trọn hảo của đời sống thiêng liêng và cùng đích của mọi bí tích. Trong bí tích Thánh Thể cực thánh, Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và như vậy là Đức Kitô toàn thể, hiện diện một cách đích thực, thật sự, và theo bản thể (chủ vị). Đây là cách hiện diện theo bản thể, qua đó Đức Kitô toàn thể và trọn vẹn, vừa là Thiên Chúa vừa là con người, hiện diện một cách chắc chắn”[7].

Trong bí tích Thánh Thể, Đức Kitô hiện diện nhờ sự biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Đức Kitô. Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, các Giáo Phụ đã không ngừng củng cố luận chứng này nơi những lá thư cũng như bài giảng của các ngài. Thánh Irênê là một trong những tác giả đầu tên nói về Bánh và Rượu như là biểu tượng hay hình ảnh (Antitypos). (Antitypos = Symbolon = Eikon = Figura = Imago = Hiện diện hy tế của Đức Kitô) Hay như thánh Gioan Đamascô: Bản chất của Bánh và Rượu được “biến đổi”, vì Thánh Thần ngự xuống trên các lễ vật. Thiên Chúa kết hợp thiên tính với bánh và rượu và biến lễ vật thành Mình và Máu Đức Kitô. Thánh Theodorê Mopsuesta là người đầu tiên nói về sự hiện diện đích thực của Đức Kitô nơi Thánh Thể: Đức Kitô muốn rằng bánh và rượu, khi đã lãnh nhận ơn Thánh Thần, chúng ta không còn nhìn vào bản tính tự nhiên của chúng nữa, mà chúng ta coi đó là Mình và Máu của Chúa chúng ta. Việc tin nhận sự hiện diện của Đức Kitô nơi bí tích Thánh Thể được khẳng định mạnh mẽ và phát triển nơi hai thầy trò nổi tiếng khác, đó là thánh Ambrôsiô và thánh Augustinô: Đức Kitô đã thực sự hiện diện trong cộng đoàn là khởi điểm của Thánh Thể và đích điểm của bản chất Giáo Hội. Thánh Thể như là Bí Tích.

3/ Hiệu quả bí tích Thánh Thể mang lại.

Bí tích Thánh Thể chính là thân mình thánh thiêng của Đức Giêsu Kitô, nên việc lãnh nhận và kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể mang lại rất nhiều ơn sủng cho đời sống thiêng liêng của người tín hữu: “Việc rước Mình và Máu Thánh Đức Kitô, gia tăng sự kết hợp của người rước lễ với Chúa, tha thứ cho họ các tội nhẹ và gìn giữ họ khỏi các tội trọng. Vì việc rước lễ củng cố mối liên hệ tình yêu giữa người rước lễ với Đức Kitô, nên việc lãnh nhận bí tích này cũng củng cố sự hiệp nhất của Hội Thánh là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô”[8].

Đồng thời, bí tích Thánh Thể cũng là của ăn hằng sống nuôi dưỡng chúng ta không chỉ trong cuộc lữ hành trần thế này mà còn cả trong cuộc sống tương lai nữa, khi cho chúng ta cảm nếm trước sự ngọt ngào nơi bàn tiệc thiên quốc. “Việc tham dự Thánh Lễ uốn lòng chúng ta nên giống trái tim Chúa, nâng đỡ sức lực chúng ta trên đường lữ thứ trần gian, làm cho chúng ta khao khát cuộc sống vĩnh cửu và ngay từ bây giờ kết hợp chúng ta với Hội Thánh trên trời, với Đức Trinh nữ diễm phúc và với tất cả các Thánh”[9].

4/ Đối thoại với các giáo hội Kitô khác.

Trong dòng lịch sử, điều đáng buồn nhất đối với niềm tin vào Đức Kitô chính là việc ly khai của các Giáo Hội Đông Phương, Chính Thống, Tin Lành và Anh Giáo. Sự ly khai này xảy ra do việc bất đồng những quan điểm về tín lý cũng như cách thực hành đạo. Như vậy, niềm tin vào bí tích Thánh Thể cũng như sự hiện diện của Đức Kitô cũng có những điểm khác nhau giữa các giáo hội. Tuy nhiên, nơi bí tích Thánh Thể chúng ta cũng có thể xem như điểm nối kết, quy hướng các Giáo Hội trong phong trào đại kết. Chúng ta có thể trình bày cách vắn tắt quan điểm của Giáo Hội trong việc đối thoại với Giáo Hội Đông Phương và với Giáo Hội Tin Lành.

Đối với Giáo Hội Đông Phương: “Ai cũng đều biết các kitô hữu đông phương rất mộ mến việc cử hành Phụng vụ thánh, nhất là bí tích Thánh Thể, nguồn sống của Giáo Hội và bảo chứng cho vinh quang đời sau. Nhờ việc cử hành Thánh Thể trong từng Giáo Hội địa phương, Giáo Hội Thiên Chúa được xây dựng và tăng trưởng, đồng thời qua việc đồng tế, tình hiệp thông giữa các Giáo Hội được thể hiện thật rõ ràng. Mặc dù ly khai, các Giáo Hội ấy vẫn có những bí tích đích thực, đặc biệt là bí tích Truyền Chức linh mục và bí tích Thánh Thể do sự kế vị tông truyền, nên vẫn liên kết chặt chẽ với chúng ta, vì thế, trong những trường hợp thuận lợi và với sự chuẩn nhận của giáo quyền, việc thông dự vào phụng tự thánh chẳng những có thể thực hiện mà còn đáng được khuyến khích”[10].

Về phía Tây phương, cuộc cải cách Tin Lành đã gây ra nhiều biến chuyển cho lịch sử của Giáo Hội. Tiền phong của phong trào cải cách là John Wyclif khi ông cho rằng: “Đức Kitô không hiện diện thể lý đồng nhất, thực sự và cụ thể trong Thánh Thể”. Hay như Ulrich Zwingli quan niệm: “Đức Kitô chỉ hiện diện trong tâm trí người tham dự nhờ đức tin – Thân xác ở trên trời”. Chống lại cách giải thích của Zwingli, Luther luôn khẳng định sự hiện diện thực sự của Đức Kitô, nhưng “Mình và Máu của Đức Kitô hiện diện trong Thánh Thể không do ‘biến thể’, ông chủ trương thuyết ‘lưỡng thể đồng tại’”. Tuy nhiên, Giáo Hội luôn nhìn nhận những ưu điểm, những điểm chung để có thể đối thoại với những anh em Tin Lành. “Những Cộng đồng Giáo Hội đã tách rời khỏi chúng ta, mặc dù không cùng chúng ta hưởng nhận sự hợp nhất đầy đủ khởi sinh từ phép Rửa, và mặc dù chúng ta tin rằng, chủ yếu vì thiếu bí tích Truyền Chức Thánh, họ đã không bảo toàn được bản chất đích thực và nguyên vẹn của mầu nhiệm Thánh Thể, nhưng khi tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa trong nghi thức Tiệc Thánh, họ vẫn tuyên xưng rằng sự sống chỉ có ý nghĩa nhờ hiệp thông với Đức Kitô và luôn mong đợi ngày Người trở lại trong vinh quang. Vì thế, trong cuộc đối thoại, cần thảo luận những chủ đề giáo lý về tiệc thánh của Chúa, về các bí tích, tiệc phụng tự cũng như các thừa tác vụ của Giáo Hội”[11].

Tóm lại, sau khi đã có những tìm hiểu cũng như được củng cố bằng những giáo huấn của Giáo Hội và nhờ lời khẳng định của chính Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, chúng ta tin vững mạnh rằng, Đức Kitô hiện diện cách đích thực, cụ thể và chủ vị nơi bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể như nguồn mạch ân sủng nuôi dưỡng và giúp đời sống của người Kitô hữu nên sung mãn, triển nở. Chúng ta là những người Kitô hữu và nhất là những người đang trên con đường hướng tới ơn gọi trở nên môn đệ của Đức Kitô, chúng ta cần phải không ngừng gắn bó với Chúa Giêsu nơi bí tích Thánh Thể, qua những giây phút ở bên Chúa, chiêm ngắm, tôn thờ và chúc tụng Chúa. Để được ở với Người, lắng nghe lời Người, được Người nuôi dưỡng và được Người hướng dẫn trở nên những môn đệ nhiệt thành của Chúa. Đồng thời luôn nỗ lực làm chứng về sự hiện diện đích thực của Đức Kitô nơi bí tích Thánh Thể, như điểm cốt lõi và chóp đỉnh của niềm tin Kitô giáo, nhất là trong mối tương quan đối với các Giáo hội khác, vì bí tích Thánh Thể chính là điểm quy chiếu, gặp gỡ và đối thoại giữa các Giáo Hội Kitô với nhau trong chiều hướng đại kết.

 



[1] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, số 10.

[2] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, số 11.

[3] X. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1327.

[4] X. CĐ Vaticanô II, Sắc lệnh Presbyterorum ordinis, số 5.

[5] X. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1337.

[6] X. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1373.

[7] X. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1374.

[8] X. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1416.

[9] X. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1419.

[10] X. CĐ Vaticanô II, Sắc lệnh Unitatis Redintegratio, số 15.

[11] X. CĐ Vaticanô II, Sắc lệnh Unitatis Redintegratio, số 22.


NGƯỜI MÔN ĐỆ - Tập II