CHIỀU KÍCH HIỆP THÔNG

TRONG BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Gioakim TMT

 

Hiến chế Lumen Gentium của Thánh Công Đồng Vatican II có viết: “Khi thực sự thông phần vào Thân Mình của Chúa trong việc bẻ bánh Thánh Thể, chúng ta được đưa vào hiệp thông với Người và với nhau.”[1] Khẳng định này cho chúng ta thấy rằng Bí tích Thánh Thể chính là bí tích của sự hiệp thông. Đây chính là một trong những chiều kích căn bản và quan trọng của Bí tích Thánh Thể. Từ khẳng định trên của Công Đồng Vatican II, chúng ta có thể thấy sự hiệp thông này có hai khía cạnh: hướng lên Thiên Chúa Ba Ngôi, và hướng đến Kitô hữu trong cộng đoàn Giáo hội.

Vậy để hiểu hơn về chiều kích hiệp thông trong Thánh Thể, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu xuyên qua hai khía cạnh hiệp thông trong Thánh Thể: hướng lên Chúa và hướng đến tha nhân.

 

Chúng ta hãy nhớ lại xem Chúa Giêsu đã thiết lập Thánh Thể trong bối cảnh nào? Há chẳng phải là trong bữa tiệc với các tông đồ sao. Sự kiện này tạo nên mối dây huynh đệ sâu sắc giữa Ngài với người đồng bàn. Trong truyền thống Do thái, hiệp thông tại bàn ăn là hiệp thông sự sống. Đặc biệt việc bẻ bánh, trao một mẩu bánh cho mỗi người, cũng như uống chung một chén rượu, là dấu chỉ liên đới sâu sắc trong một vận mệnh chung.[2] Như vậy, chúng ta thấy rằng hiệp thông là chiều kích căn bản, nền tảng của Thánh Thể.

Đức Giêsu không thiết lập Thánh Thể chỉ như một biểu tượng, nhưng Thánh Thể thực sự là Mình và Máu Thánh Chúa. Vì thế, khi chúng ta rước Thánh Thể là chúng ta thông phần Mình và Máu Chúa. Chúng ta biết rằng, theo quan niệm Do Thái, máu chỉ sự sống, nên khi chúng ta hiệp thông với Máu Thánh Chúa, có sự thấm nhập hỗ tương giữa sự sống của Chúa và sự sống của chúng ta. Trong mầu nhiệm Thánh Thể, máu còn chỉ sự tự hiến của Chúa Giêsu, cuộc sống trao ban vì chúng ta và cho chúng ta. Thông phần với Máu của Chúa là được hội nhập vào năng động đời sống của Chúa, làm cho cuộc sống của chúng ta trở thành cuộc sống tự hiến, sống cho và sống vì tha nhân.

Kinh Nguyện Thánh Thể II cũng nhắc lại cho chúng ta thấy chiều kích hiệp thông: “Chúng con nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Đức Kitô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.” [3]Công thức này cho thấy rõ ràng hiệu quả của Bí tích Thánh Thể: là sự hiệp nhất của các tín hữu trong sự hiệp thông với Giáo Hội. Như thế Bí tích Thánh Thể là nền tảng của Giáo Hội – mầu nhiệm hiệp thông. Trong Thông điệp Giáo Hội từ Thánh Thể, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cho thấy chiều kích hiệp thông với Thiên Chúa trong Thánh Thể; Ngài viết: “Thánh Thể xuất hiện như là đỉnh cao của tất cả các Bí tích, vì nó làm cho nên hoàn thiện mối hiệp thông của chúng ta với Thiên Chúa Cha, bằng cách đồng hoá với Người Con yêu dấu duy nhất của Người nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần.[…] Trong Thánh Thể, “không giống như các bí tích khác, mầu nhiệm (hiệp thông) quá hoàn hảo đến nỗi bí tích này đưa chúng ta đến những đỉnh cao của mọi điều thiện hảo: […] vì ở nơi đó chúng ta đến được với Thiên Chúa và Thiên Chúa kết hiệp với chúng ta trong sự kết hiệp hoàn hảo nhất”[4]. Như thế trong Thánh Thể, chúng ta trở nên “những người thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4). Điều này chúng ta thấy rõ trong thánh lễ khi pha chút nước vào rượu, linh mục dâng lời nguyện để nói lên sự thông phần đó: “Nhờ dấu chỉ nước hoà rượu này, xin cho chúng con được tham dự vào thần tính của Đấng đã đoái thương thông phần nhân tính của chúng con.”[5]

Thêm vào nữa, khi tiến dâng lễ vật lên bàn thờ, chúng ta đặt lên đó không chỉ bánh và rượu nhưng chính cuộc đời của chúng ta. Chúng ta kết hiệp đời sống của chính mình vào trong hy tế của Đức Kitô để dâng lên Thiên Chúa. Do đó, trong Bí tích Thánh Thể, hy tế của Đức Kitô cũng là hy tế của các Kitô hữu; và mỗi Kitô hữu được hiệp thông với Đức Kitô nơi hy tế này.

 

Trong Thánh Thể, chúng ta không chỉ hiệp thông với Đức Kitô, nhưng còn hiệp thông với nhau. Thánh Thể luôn được cử hành trong bầu khí của cộng đoàn hiệp thông. Chính thánh Phaolô đã viết: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cũng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10, 16-17). Vì Hội thánh là Thân Thể hữu hình của Đức Kitô, nên Hội thánh được hiệp thông với Đức Kitô là Đầu; và vì mỗi Kitô hữu là chi thể sống động nơi thân thể ấy, nên các Kitô hữu được hiệp thông với nhau nhờ sự hiệp thông với Đầu là Đức Giêsu. Quả thực, khi cùng nhau chia sẻ một tấm Bánh, chúng ta được lôi kéo ra khỏi cái tôi đóng kín của mình, để hòa nhập vào Đấng Lớn hơn ta; làm chúng ta nên chi thể của nhau.[6]

Khi tiến dâng lễ vật, chúng ta đem lên bàn thờ những gì? Đó là bánh và rượu; một tấm bánh là kết quả của bao hạt lúa miến được kết lại với nhau, một ly rượu nho là kết quả của bao trái nho thơm được ép và được ủ men cùng nhau. Như thế, bánh và rượu còn là biểu tượng của sự hiệp nhất giữa các tín hữu. Cuốn Didaché, một bản văn được viết thời các Giáo phụ, đã nói về điều này như sau: “Tấm bánh bẻ ra này, trước hết đã được gieo vãi trên các núi đồi, sau đó được gặt hái để trở thành một thực tại duy nhất thế nào, thì Giáo hội của Chúa cũng được qui tụ lại từ tận cùng trái đất vào trong vương quốc của Chúa như vậy”. [7]

Như thế, chúng ta thấy được rằng, bánh và rượu không đơn thuần là những hình ảnh gắn liền với môi trường văn hóa của người Do Thái; nhưng sâu xa hơn, hai hình ảnh ấy ẩn chứa chiều kích hiệp thông trong Giáo hội. Nơi Bí tích Thánh Thể, chiều kích ấy được biểu lộ một cách hoàn hảo và cao quý nhất.[8]

Sự hiệp thông Thánh Thể không phải chỉ dừng lại nơi những cử hành phụng vụ, nhưng còn được nối tiếp vào trong đời sống thường nhật. Thật thế, thánh Inhaxiô Antiokia đã nói rằng: “Những ai dư giả, sẽ ban phát cho kẻ khác tùy nhu cầu. Tất cả những gì thu nhận được đều được đem đến cho vị chủ tọa. Ngài sẽ giúp đỡ các trẻ mồ côi và các bà góa, di dân, tù nhân túng thiếu…và những ai cần đến như người bệnh hoạn hay vì những lý do khác. Tóm lại, ngài giúp đỡ những ai cần thiết.”[9] Nếu chúng ta khước từ người anh em thì chúng ta cũng đang khước từ chính thân thể Chúa Kitô. “Giả như tất cả chỉ là một bộ phận, thì làm sao mà thành thân thể được? Như thế, bộ phận tuy nhiều mà thân thể chỉ có một. Vậy mắt không thể bảo tay: tao không cần đến mày; đầu cũng không thể bảo hai chân: tao không cần chúng mày” (1Cr 12,20).

 

Tất cả những gì chúng ta vừa trình bày chỉ là những nét rất đơn giản về một chiều kích quan trọng của một mầu nhiệm khôn tả - mầu nhiệm Thánh Thể. Tuy thế, qua những gì đã trình bày, chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của chiều kích hiệp thông trong Thánh Thể. Hơn hết, trong một thời đại mà con người dường như đang phải đối mặt với quá nhiều chia rẽ, hận thù, tranh giành, chiến tranh thì chiều kích hiệp thông trong Thánh Thể lại càng phải được đặt lên hàng đầu hơn bao giờ hết. Có lẽ đời sống của cộng đoàn tín hữu tiên khởi chính là tấm gương mà chúng ta cần noi theo: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.” (Cv 2,42). Điều gì đã gắn kết các tín hữu tiên khởi lại với nhau nếu không phải là Lời Chúa và Bàn Tiệc Thánh Thể.

 



[1] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, số 7

[2] Bruno Forte, Tưởng niệm Đấng Cứu Thế, NXB Tôn Giáo, trang 142

[3] Sách Nghi Thức Thánh Lễ, số 105, NXB Tôn Giáo, 2005.

[4] Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia De Eucharistia, Số 34

[5] Sách Nghi Thức Thánh Lễ, số 24, NXB Tôn Giáo, 2005.

[6] X. Rm 12,5

[7] Dicache, chương 9, câu 8

[8] X. Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia De Eucharistia, số 38

[9] Inhaxiô Antiokia, Apologia, 66:6


NGƯỜI MÔN ĐỆ - Tập II