VẦNG TRĂNG TRONG ĐÊM

J. Đinh Đông

 

Ầu ơ tiếng mẹ ru hời

Đưa nôi êm ái, quạt vơi nắng hè.

Có lẽ, trong tiềm thức mỗi người, tình mẫu tử vẫn mãi là tình cảm thiêng liêng cao quý, được dệt bởi bao gian lao vất vả của chuỗi ngày dài hy sinh. Cuộc đời mẹ là mảnh đất ươm mầm tuổi thơ, là bến đậu cho đời con. Đức Maria cũng không ngoại lệ, Mẹ đã cưu mang con mình trong tình yêu sâu thẳm. Khi chứng kiến con chí ái bị giết giữa tuổi thanh xuân, tình mẫu tử ấy mới mãnh liệt làm sao, tha thiết dường nào! Mẹ bất lực trước bản án oan khiên, chỉ biết lặng nhìn con chết tức tưởi trên thập giá. Niềm đau bao la Mẹ chịu đã gây cho Mẹ hàng nghìn lần chết đi sống lại. Cả cuộc đời Mẹ là một hành trình dài lâu và thống thiết của những khổ đau, vượt trên hết các cuộc tử đạo. Những khổ đau ấy đã được ghi lại trong Thánh Kinh và được Thánh Anphong tổng hợp lại thành “Bảy Sự Thương Khó Đức Bà”[1] mà Giáo Hội vẫn hằng tôn kính, đã phản ánh phần nào chân dung của Mẹ, dưới tước hiệu Mẹ Sầu Bi. Mẹ trở nên khuôn mẫu, là tấm gương cho muôn thế hệ về mầu nhiệm thập giá trong cuộc đời lữ thứ ở trần gian. Để từ đó, muôn đời theo dấu chân Mẹ vác Thánh Giá tiến lên đỉnh Canvê Thiên Đàng.

Trọn đời Mẹ là bản hùng ca của những cuộc đương đầu với khổ ải bi ai. Mẹ không lẩn trốn, không lùi bước, không tháo lui. Khởi đi từ làng Nazareth, Mẹ đã có những tháng ngày thanh bình yên ả. Ái Nữ Maria của gia đình Thánh Gioa Kim và Anna đã sáng ngời trước nhan Thiên Chúa về nhân đức trọn lành siêu nhiên và họa hiếm[2]. Lúc này, Thiếu Nữ ấy chỉ mơ ước về một chân trời bình dị, đơn giản là trở nên Nữ Tỳ của Chúa[3]. Cứ ngỡ rằng thời gian êm đềm mãi trôi, nhưng bất chợt, tuổi thanh xuân của Maria đã chấm dứt với biến cố Truyền Tin. Lời chào của Sứ Thần: “Maria, bà sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai” (Lc 1, 31) đã làm cho Mẹ bối rối, băn khoăn. Sau cuộc truyền tin, Mẹ phải đối mặt với những lo lắng, buồn khổ. Mẹ không biết Giuse đã hiểu được ý Thiên Chúa trong việc mang thai Chúa Giêsu bởi phép Chúa Thánh Thần hay chưa? Vì Giuse đang định tâm bỏ mẹ cách kín đáo[4]. Mẹ chìm trong suy tư bồn chồn. Nhưng rồi Thiên Chúa đã can thiệp. Qua giấc mộng, Giuse đã vâng lời và mau mắn đón hiền thê Maria về nhà mình[5]. Tưởng chừng rồi cũng sẽ êm đềm thôi, nhưng đêm mà Thiên Thần hát vang trên trời cao thì dưới thế con Mẹ không chỗ hạ sinh. Mẹ phải đặt con mình trong máng cỏ nghèo hèn[6]. Ngắm nhìn con trẻ bị nhân loại từ khước, Mẹ đau một nỗi đau miên man không hiểu được. Thiên thần nói, Mẹ sẽ sinh Con Thiên Chúa, vậy sao lại sinh ở đây, một hang bò lừa thế này? Sao không phải là cung điện nguy nga diễm lệ? Người chỉ biết im lặng ghi khắc những sự ấy trong lòng với sự phó thác hoàn toàn cho Đấng đã gọi Mẹ làm Mẹ của Hài Nhi Giêsu này.

Nỗi đau ấy mới chỉ là nốt dạo đầu trong bản trường ca bi ai của đời Mẹ. Nỗi đau đầu tiên thật sự đến khi vào Đền Thánh, tiên tri Simeon báo cho Mẹ hay: “Cháu bé này sẽ là duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng” (Lc 2, 34). Làm sao Mẹ chấp nhận được Con mình mới sinh ra, còn ngây thơ tội nghiệp như thế sẽ phải gánh chịu một tương lai đắng cay như vậy. Đàng khác, “một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà” (Lc 2, 35). Mẹ tự vấn: Lưỡi gươm này bởi đâu mà đến và đến khi nào? Nó sẽ đâm một lần hay một đời? Tất cả đều là những câu hỏi của bế tắc. Mẹ lại chìm vào trong suy tư sầu thảm. Của lễ Mẹ dâng tiến là một cặp chim gáy để làm lễ tẩy uế[7]. Nó không phải là một lễ vật cao sang mắc tiền như chiên bò béo tốt của cánh nhà giàu, nhưng chỉ là một lễ vật đơn sơ, mọn hèn của một gia đình nghèo khó. Mẹ biết rằng, lễ tế bé nhỏ này là biểu tượng cho lễ tế khác còn đáng sợ hơn nhiều. Dâng con mình là dâng con cho những chống đối mà con phải đương đầu. Lời loan báo của ông Simeon đã khắc sâu vào tâm trí Mẹ và liên tục hiện lên trong ý nghĩ Mẹ. Mẹ không còn có thể nhìn con mình mà không nghĩ tới những chống đối đang chờ đợi phía trước. Mẹ không biết sự gì sẽ xảy đến cho ngày mai nên chỉ biết kéo dài sự suy niệm trong lòng cho đến hết đời mình.

Chưa hết lo lắng, Mẹ và Hài Nhi đã phải cùng Thánh Giuse lén lút trốn sang Ai Cập[8]. Thấy con mình còn non nớt đã bị tầm nã sát hại, Mẹ nhớ lại lời tiên báo của ông già Simeon. Lưỡi gươm thứ hai đã đến với Mẹ. Lúc ấy, Mẹ mới 15 tuổi, là một trinh nữ mảnh khảnh, yếu đuối, chưa hề quen với việc rong ruổi nhọc nhằn. Đường sang Ai Cập dài 400 dặm, khó nguy hiểm trở. Gia đình Thánh Gia không có tiền thuê nhà trọ thì hỏi xem lấy gì mà ăn? Tìm đâu mà ngủ? Túc ngụ nơi nào? Lương thực của Thánh gia là gì? Cảnh không nhà trong thời đông tiết giá, bơ vơ trong tuyết sa, mưa lạnh, gió gào. Theo Thánh Bonaventura, gia đình Thánh Gia đã phải ngủ trên cát hoặc dưới gốc cây ngay giữa trời sương. Thánh Giuse lấy áo ngoài của mình gác lên cành cây để làm lều tạm cho hai mẹ con. Mẹ và Hài Nhi đã nhiều lần phải nhịn đói, không một mẩu bánh lót dạ, nhìn con bị cơn đói dằn vặt khóc la, lòng Mẹ có thôi day dứt? Hành trình ra đi đến xứ lạ khó biết được tương lai, cuộc đời ba chìm bảy nổi của kẻ di cư bơ vơ, cùng cực biết là chừng nào. Nhưng mẹ vẫn nhẫn nhục chịu đựng dù bao phen Mẹ đã khóc thầm.

Sau bảy năm phiêu bạt trên đất bạn, gia đình Thánh gia trở về Nazareth, nhưng lưỡi gươm thứ ba lại muốn đâm vào Trái Tim Mẹ. Khi Đức Giêsu lên 12 tuổi, Mẹ đã lạc mất con trong Đền Thờ[9]. Suốt ba ngày, Mẹ đi tìm Chúa trong cái niềm đau thất vọng tột cùng. Ba ngày ấy thật dài biết bao! Đây là một niềm đau lớn lao hơn cả, vì những niềm đau khác Mẹ còn có Chúa ở bên. Giờ đây, Giêsu dấu yêu của Mẹ đã nhầm đường lạc hướng, không còn sánh bước bên Mẹ. Nỗi đau của kẻ mất con, mất con là mất tất cả và lìa xa con là điều bất hạnh không thể chịu đựng. Hài Nhi Giêsu bị lạc nhưng chính Mẹ là người bơ vơ, vì Mẹ đã lạc mất điểm tựa. Niềm đau lần này là niềm đau vô hạn vì tình mẹ yêu con cũng là tình yêu vô hạn. Phải chăng, Đức Maria và Thánh Giuse tìm Chúa trong nỗi e sợ Chúa đã bỏ rơi mình? Vì đối với một linh hồn mến yêu Thiên Chúa, thì nỗi khổ tâm lớn nhất là sợ đã làm mất lòng Chúa. Vậy nên trong các lần đau khác, Mẹ không hề nói một lời, nhưng lần này Mẹ đã âu yếm trách con: “Con ơi, sao con lại xử tệ với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con” (Lc 2, 48). Qua những lời đó, hẳn Mẹ đã không có ý trách móc Chúa, nhưng đó chỉ là một lời phàn nàn vì quá yêu mến mà thôi.

Tắt một lưỡi gươm, trở về với cuộc sống mai ẩn có vẻ yên tĩnh và an bình tại làng Nazareth, nhưng nỗi đau vẫn như một thảm kịch âm ỉ. Tâm hồn Mẹ vẫn chất chứa những lo âu về tương lai của con mình. Bù lại, Mẹ được an ủi bằng cuộc sống ở bên cạnh con yêu quý: “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nazareth và hằng vâng phục các Ngài” (Lc 2, 5152). Quãng thời gian đó đã làm cho Mẹ quen thuộc với sự hiện diện liên lỉ của Chúa. Đời sống của Mẹ được tổ chức theo sự hiện diện ấy. Vì thế, việc Đức Giêsu lên đường đi sứ vụ đảo lộn cuộc sống của Mẹ, tạo nên sự trống rỗng bất ngờ đối với Mẹ. Chỉ trong một sớm một chiều, Mẹ bị tước mất điều vẫn làm nên sự nâng đỡ cho Mẹ. Hơn nữa, vì sứ vụ, một khoảng cách đã được tạo ra: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi” (Ga 2, 4). Mẹ não ruột và cảm thấy cô đơn khi con bỏ Mẹ ở lại một mình nơi quê nhà. Cuộc chia ly do quãng đời công khai khơi mào cho những cuộc thử thách cùng tận. Bốn gươm liên tiếp đâm sâu Trái Tim Mẹ trong cuộc thương khó của Đức Giêsu.

Lưỡi gươm thứ tư mà Mẹ phải gánh chịu chính là khi chứng kiến Đức Giêsu vác thập giá[10]. Mẹ gặp lại con trong cảnh Người đang oằn lưng đi xiêu vẹo vác cây gỗ nặng trên vai lê bước đến núi Sọ. Đức Giêsu lúc ấy không còn hình dạng người nữa: đầu bị quấn bởi một vòng gai, tóc rối bù lên quyện với máu, áo rách tả tơi, từ đầu đến chân đều mang vết bạo hành, máu tươi còn nhỏ giọt. Phàm người mẹ nào lại chẳng đau nỗi đau của con mình như chính nỗi khổ riêng của mình vậy! Đôi lòng gặp gỡ nát tan, lúc đó, Mẹ muốn ôm hôn con nhưng bọn lính đã nguyền rủa đuổi Mẹ ra. Mẹ đành phải lê bước cùng con lên núi Sọ.

Tiếng búa đóng đinh tay chân Đức Giêsu tạo nên khủng hoảng cùng cực trong tâm não Mẹ. Lưỡi gươm thứ năm đã đâm xé cõi lòng của người Mẹ đáng thương. Trên núi Canvê, Mẹ đứng kề bên Thánh Giá[11], Thánh Bonaventuara viết: Lúc ấy, có một bàn thờ nhưng hai của lễ; Đó là Thánh Giá mà trên đó Mẹ Thánh đồng thời cũng hiến tế cùng với Con Thiên Chúa. Khi Con sát tế thân xác thì Mẹ sát tế linh hồn. Mẹ im lặng chịu đựng đớn đau, không thốt một lời phàn nàn. Môi miệng Mẹ nín lặng nhưng tâm hồn Mẹ nói nhiều, khiến Thánh Brigitta phải thốt lên: “một sự can trường dịu dàng”. Mẹ đứng trước thập giá trong khi các nam nhân bỏ trốn. Nhưng Chúa đã nhỏ giọt lệ an ủi vào đại dương sầu đắng của Mẹ bằng việc cho Mẹ sinh ra con cái trần gian qua lời di chúc cuối cùng của Đức Giêsu: “Thưa Bà, đây là con Bà” (Ga 19, 26). Niềm an ủi ấy liệu có làm cho lòng Mẹ vơi bớt sầu đắng chứa chan trong giây phút này chăng?

Nỗi đau chưa chịu dừng lại, nó tiếp tục trào dâng sau khi Chúa tắt thở. Lưỡi đòng đâm thâu cạnh nương long Chúa[12], giờ đây, không còn nghĩa lý gì đối với Đức Giêsu nữa, nhưng Mẹ Maria mới là người đón chịu tất cả cái đau đớn do lưỡi đòng ấy mang lại. Nó không đâm tâm hồn Mẹ sao được khi nó đã đâm thâu qua thân xác con Mẹ. Chứng kiến cảnh hạ xác con yêu dấu của mình, lưỡi gươm thứ sáu đâm vào Trái Tim Mẹ. Mẹ đớn đau trước thi thể con mình. Thi thể giờ đây đã nát nhừ những roi vọt, những dấu gai đâm lủng đầu con chí thánh. Mẹ chiêm ngắm đôi tay đã bị khoét thủng qua. Cõi lòng Mẹ nát tan với nỗi đau bao la thảm đạm. Và lưỡi gươm sau cùng cũng đã đến khi táng xác Chúa. Mẹ đã chôn tâm hồn cùng với thân xác Đức Giêsu vì “kho báu ở đâu, lòng người ở đấy” (Lc 12, 34). Giờ đây, Mẹ trở thành người Mẹ mang tang con mình với nỗi đau của kẻ đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh. Lìa khỏi mồ trở về nhà, nỗi đau vẫn cứ tràn ngập tâm hồn. Mẹ rảo mắt tìm tòi khắp nơi mà chẳng thấy con đâu. Mọi thứ đều gợi lại những kỷ niệm, Mẹ nhớ lại những cử chỉ thân yêu, những lời đầy sức sống mà Mẹ từng hái được từ môi miệng Chúa. Mẹ cũng không thể loại ra khỏi tâm trí mình những cảnh tượng tàn bạo đã diễn ra ngày hôm nay. Ôi, đêm đó thật kinh khủng với Mẹ dường nào!

Nỗi buồn nối tiếp nỗi buồn, nhưng chính những nỗi buồn ấy đã làm nên Mẹ Thiên Chúa. Mẹ vào đời như một vầng trăng trong đêm. Đau khổ ngập tràn cuộc đời Mẹ như màn đêm đen tối bao phủ ánh trăng, nhưng Vầng Trăng Maria vẫn sáng, vẫn lung linh huyền ảo. Trăng đẹp là vì trăng ở với đêm. Đêm càng sâu, càng khuya, trăng càng vằng vặc sáng[13]. Nếu trăng từ chối đêm, trăng sẽ mất đẹp. Trăng chỉ đẹp khi trăng đi trong đêm, trăng chẳng là gì khi màn đêm biến mất. Đêm đã tô vẽ cho trăng thêm đẹp. Mẹ chấp nhận đau khổ, Mẹ đi trong đau khổ, Mẹ tỏa chiếu màn đêm. Vầng Trăng Maria xua tan bóng tối nhưng Vầng Trăng ấy vẫn đi trong đêm. Mẹ chịu biết bao đau khổ cùng cực, nhưng chính bóng đêm u tối ấy giúp thanh luyện Mẹ nên một con người toàn diện, đẹp không tỳ vết.

Đau khổ là một thực tế trong cuộc đời chúng ta và không ai lại không có những đau khổ xảy đến trong đời mình. Nhưng việc giải thích lý do của đau khổ thật không dễ. Đau khổ thực sự là một mầu nhiệm. Nhờ đức tin, Mẹ đã khám phá ra trong bóng tối u ám của đau khổ, bàn tay quan phòng và yêu thương của Thiên Chúa  Đấng biết rõ và có tầm nhìn vượt xa khả năng của con người. Như lời Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Roma: “Chúng ta biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích lợi cho những ai yêu mến Người” (Rm 8, 28). Chẳng ai trong chúng ta lại đi tìm đau khổ, dù dưới bất kỳ hình thức nào. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại chúc lành cho những ai gánh chịu đau khổ qua các mối phúc[14]. Đức tin làm thay đổi ý nghĩa của đau khổ. Khi kết hiệp với đau khổ của Chúa Kitô, đau khổ của chúng ta sẽ sinh hoa trái và mang lại ơn ích cứu chuộc, đồng thời giúp ta thanh luyện bản thân, ngay cả trong những tình huống đau khổ có vẻ bất công nghiêm trọng. Mẹ Maria đã cùng chịu đau khổ với Đức Giêsu trong niềm phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa quan phòng, để rồi những đau khổ của Mẹ trở nên có giá trị. Đau khổ ở đời này không có giá trị thánh hóa khi ta để nó xảy ra do lòng kiêu hãnh, ganh tỵ, ghen tương. Chúng ta hãy học với Mẹ, đón nhận đau khổ trong cuộc đời với một niềm phó thác vào kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Vì Người biết con đường nào tốt nhất cho chúng ta bước theo Người. Thiên Chúa cho phép khốn khó xảy đến để mưu ích lớn lao cho chúng ta. Phần thưởng ấy chính là được tham dự vào sự sống vĩnh cửu: “Khá lắm! Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành... Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ ngươi!” (Mt 25,21). Chúng ta cần coi nhẹ sự đau khổ của bản thân so với những điều tốt lành mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta, và nài xin Người cho chúng ta biết tận dụng cơ hội để gia tăng tình yêu và phó thác thưa lên trong bất kỳ hoàn cảnh nào như Thánh J. Escriva: “Lạy Chúa, có phải đây là điều Chúa muốn không? Vậy thì đó cũng là điều con muốn”.

Mẹ Maria chịu tử đạo không phải bằng lưỡi gươm của đao phủ, nhưng bằng niềm đau chết được trong tâm hồn. Linh hồn cao trọng hơn thể xác bao nhiêu thì những đớn đau Mẹ chịu cũng vượt trên những thống khổ của thân xác bấy nhiêu. Sự tử đạo của Mẹ là một hành trình dài lâu và biến cuộc đời Mẹ thành một cái chết liên lỉ. Bảy lưỡi gươm đau khổ đã đâm thấu tâm hồn Mẹ và gắn liền với mạng sống của Mẹ. Các Thánh sử mà nhất là Thánh Luca, đã khắc họa lại những tấm hình mà Mẹ đã chụp từ làng Nazareth đến đồi Canvê. Tấm hình thời thanh xuân êm ả đến cuộc truyền tin đã làm đời Mẹ đổi thay, bao âu lo phiền muộn chất chứa và từ đó những lưỡi gươm đau khổ bắt đầu đâm thấu. Từ lưỡi gươm đầu tiên qua lời tiên báo của Cụ Simeon đến lưỡi gươm của cuộc chạy trốn sang Ai cập; của chuyện lạc mất con trong Đền Thờ; và các biến cố trong cuộc thương khó của con mình. Dù vậy, Vầng Trăng Maria vẫn sáng ngời trong đêm đen đau khổ, vẫn can trường dịu hiền. Mẹ đau nhưng Mẹ vâng theo ý Chúa nên những đau khổ của Mẹ có giá trị thánh hóa. Để rồi Mẹ đón nhận tất cả và cùng với con, Mẹ hiệp công cứu chuộc nhân loại. Mẹ đúng là Hiền Mẫu của chúng ta và là vầng trăng chiếu soi cõi lòng nhân gian.

Màn đêm tội lỗi ngập trần gian,

Bóng Nguyệt âm thầm, ánh chứa chan.

Trong sáng êm đềm, đời tiết hạnh,

Rạng ngời rực rỡ, phận gian nan.

Ngàn vàng phúc cả, con cầu khẩn,

Vạn bạc ơn thiêng, Mẹ đổ tràn.

Tấc dạ tinh tuyền nên Điện Thánh,

Khiêm cung đón nhận Ánh Tôn Nhan.

 



[1] Bài viết dựa trên tác phẩm: Thánh Anphong Ligori, Vinh Quang Đức Mẹ, Phần thứ 2, [Nd: Phạm Duy Lễ], Sài Gòn, 1967, tr 165 – 223.

[2] X. Lc 1, 30

[3] X. Lc 1, 38

[4] X. Mt 1, 19

[5] X. Mt 1, 24

[6] X. Lc 2, 7

[7] X. Lc 2, 24

[8] X. Mt 2, 13

[9] X. Lc 2, 41-50

[10] X. Mt 27, 27-31

[11] X. Ga 19, 25-27

[12] X. Ga 19, 34

[13] Nguyễn Tầm Thường, Viết Trong Tâm Hồn, 1996, tr 102.

[14] X. Mt 5, 5


NGƯỜI MÔN ĐỆ - Tập II