SỰ CHẾT VÀ SỰ BẤT TỬ

TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

Gioakim TMT

 

Con người ngày nay đang sống trong thời đại của khoa học – công nghệ; những nghiên cứu, sáng tạo vượt bậc như đang mở ra cho con người một chân trời mới. Kết thúc một năm cũ -2019 với những thành công rực rỡ; dĩ nhiên, vẫn còn những tồn đọng, những vấn nạn cần giải quyết. Dù sao thì, nhân loại vẫn háo hức bước sang năm mới 2020, với niềm tin rằng những vấn nạn của nhân loại rồi sẽ được giải quyết bởi sức mạnh của khoa học-công nghệ. Thế nhưng, điều gì đã xảy ra? Từ đâu, chẳng ai hay, một chú virus nhỏ bé xuất hiện, và rồi, mang theo một cơn đại dịch đến. Kết quả là: hàng chục triệu người nhiễm bệnh, hàng triệu người tử vong, kinh tế thế giới khủng hoảng, đời sống con người bị đảo lộn. Trong đại dịch, biết bao nhà khoa học hàng đầu thế giới cùng với những máy móc hiện đại, tỉ như những chiếc siêu máy tính và cả trí tuệ nhân tạo, cùng tham gia vào cuộc truy tìm thông tin về chú Virus ấy, cũng như nỗ lực tìm ra Vắc-xin và thuốc chữa. Nhưng thật đau lòng, thời gian cứ trôi, người mắc bệnh cũng như người tử vong cứ gia tăng vùn vụt trong khi mọi nỗ lực của y khoa thì không đạt được bước tiến nào đáng kể. Nhân loại bỗng giật mình nhận ra rằng, con người cũng chẳng vĩ đại là bao, phận người thì cũng mỏng giòn tựa hồ hoa đồng nội; nói cho cùng, cho dẫu khoa học-công nghệ có phát triển vượt bậc đến đâu thì rồi ra, con người sẽ phải chết.

Con người thì phải chết! Mệnh đề này dường như là một khẳng định khách quan hiển nhiên đối với chúng ta. Cũng chính vì lẽ ấy mà biết bao con người đã cố công trong việc tìm kiếm thuốc trường sinh cho mình. Tuy vậy, hiện thực đã chứng minh rằng, những nỗ lực ấy vẫn chỉ là hoài công.

Suốt dòng lịch sử đã có bao con người từ thường dân cho đến những khối óc vĩ đại đã ưu tư, tra vấn và cố gắng tìm lời giải đáp cho sự hiện hữu của cái chết trong đời sống nhân loại; hòa vào dòng lịch sử này, chúng ta cũng thử suy tư một chút về sự chết. Vậy, để nhận thức rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cố gắng tìm hiểu xuyên qua mấy điểm sau: trước hết, chúng ta đi vào định nghĩa “sự chết là gì?” và nó có ý nghĩa gì cho cuộc sống; sau đó, chúng ta thử nghiên cứu xem có những quan điểm nào trả lời cho câu hỏi: điều gì xảy ra sau cái chết? Và từ sự nghiên cứu ấy, chúng ta có thể đi sâu hơn qua việc tìm hiểu về “sự bất tử là gì?”; và cuối cùng, nỗ lực làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của sự chết và sự bất tử trong đời sống mỗi chúng ta.

 

Chết là gì? Có lẽ theo cách hiểu đơn giản và phổ thông nhất, thì chết có nghĩa là không còn sống, không còn hoạt động được nữa. Theo sách Tự điển Việt Nam định nghĩa thì chết là tình trạng con người hay con vật hết thở, hết cử động, mất cảm giác do tim hết đập, máu hết chạy[1]. Một cách thông thường, chúng ta dễ dàng nói một ai đó là còn sống hay đã chết. Vậy mà, trong nghiên cứu khoa học cách nghiêm túc, cho đến nay dù khoa học đã phát triển biết bao thì các nhà khoa học vẫn chưa xác định được một quy chuẩn chung và dứt khoát để nói khi nào một ai đó được gọi là đã chết. Thực vậy, trong bách khoa toàn thư Encyclopædia Britannica năm 1768, cái chết được định nghĩa đơn giản là “sự chia tách giữa phần hồn và phần xác”. Nhưng đến ấn bản Britannica phiên bản 15 (1973), bài về cái chết đã dài hơn 30 lần và vẫn không ngừng tăng thêm qua các năm. Như thế, chúng ta thấy rằng, chỉ riêng việc định nghĩa sự chết dưới góc nhìn khoa học đã phức tạp và vẫn chưa có hồi kết.

Còn về phía triết học, từ xa xưa đã có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về cái chết. Khi mà siêu hình học còn ảnh hưởng mạnh trên tất cả các khoa học khác, thì không mấy tư tưởng gia dám từ chối sự tiếp tục của cuộc sống sau khi chết. Vì thế, đa phần các vị ấy đều cho rằng chết chỉ là một bước chuyển tiếp [2]. Điển hình như Socrate bày tỏ niềm tin rằng : “nhà triết học chân chính không lo sợ cái chết, vì chỉ khi sang thế giới bên kia người ta mới có thể tìm được sự khôn ngoan tinh tuyền”[3] ; hoặc như Platon cho rằng : cái chết là sự giải thoát linh hồn ra khỏi nhà mồ - mà nhà mồ ấy chính là thân xác[4]. Tuy nhiên, đến thời kỳ Ánh Sáng thì đã có rất nhiều tư tưởng gia như Hegel, Marx, Comte, Nietzsche, Freud, Heidegger, Sartre đều phủ nhận sự tiếp tục sau cái chết. Các ông đều cho rằng chết là sự chấm dứt của hiện hữu con người. Tỉ như các triết gia hiện sinh vô thần – Heidegger, Sartre, Camus – coi sự chết mang tính chất cuối cùng, nhưng ý nghĩa của sự kiện này lại được các ông giải thích khác nhau. Đối với Heidegger, chết là khả thể cuối cùng được trao cho con người ; với Sartre, sự chết hoàn toàn đến từ bên ngoài và phá hủy tận căn sự hiện hữu được dự phóng đến tự do và trong tự do, chết là sự hư vô hóa của chính khả thể tôi ; còn với Camus thì cho rằng, chết giống như sự hủy diệt toàn bộ của mỗi cá nhân.[5]

Bên cạnh đó, cũng có những triết gia, thuộc phái hiện sinh hữu thần như Kierkegaard, Marcel, hay các nhà triết gia duy tâm thì vẫn tin rằng cái chết chưa phải là sự chấm dứt của con người; vẫn còn điều gì đó sau cái chết, nhưng mỗi vị lại quan niệm khác nhau về điều này.

Về phía tôn giáo thì hầu hết đều tin rằng sự chết chưa phải là hết, chưa là chấm dứt của con người. Quan niệm của các tôn giáo tựu trung vào hai giải đáp : hoặc chết là bước chuyển tiếp của linh hồn đến sự sống vĩnh cửu ; hoặc chết là một hành trình đến một tình trạng khác mà có thể còn kéo dài nhiều kiếp nữa.[6]

Quan niệm chết là một hành trình đến một trạng thái khác được thể hiện rõ trong thuyết Luân Hồi của Ấn giáo, Phật giáo. Kinh Upanishad của Ấn giáo nói rằng : Brahman là linh hồn vũ trụ, là Đấng Sáng Tạo ; Atman là linh hồn mỗi người, là một phần của Brahman. Atman và Brahman là Một, nên theo nguyên tắc, Atman cũng bất tử. Atman cứ đầu thai hết kiếp này sang kiếp khác trong một cái vòng gọi là sự luân hồi (Samara). Chính cái nghiệp (Karma) của kiếp này quyết định kiếp sau sẽ đầu thai vào đâu. Để thoát khỏi vòng luân hồi, đạt được hạnh phúc vĩnh hằng, cần tu luyện, thực nghiệm tâm linh [7]. Phật giáo xuất phát từ Ấn giáo nên cũng chịu ảnh hưởng của Ấn giáo, nhất là về thuyết Luân Hồi. Nhưng khác với Ấn giáo, theo quan niệm nhà Phật thì khi nào con người tu luyện đắc đạo đạt tới giác ngộ thì sẽ được vào cõi Niết Bàn[8] . Cũng cần nói thêm, ngay từ thời thượng cổ của triết học đã có những người  tin vào thuyết Luân hồi mà điển hình là triết gia Pytagore và các môn đệ của ông.[9]

Quan điểm chết là bước chuyển tiếp của linh hồn đến sự sống vĩnh cửu được thấy rõ nét trong Kitô giáo và Hồi giáo. Với Hồi giáo, những ai sau khi chết mà sống trung thành với lời dạy của kinh Côran sẽ được Đấng Allah thưởng cho lên thiên đàng. Còn Kitô giáo thì tin rằng, những ai sống theo điều Chúa dạy sẽ được hưởng thiên đàng vĩnh phúc. Nhưng, phải nói rõ rằng, quan niệm về thiên đàng của Kitô giáo và Hồi giáo khác hẳn nhau. Hơn nữa, người Kitô hữu tin rằng ngày Cánh Chung – ngày Tận Thế thì không chỉ linh hồn bất tử mà cả thân xác cũng được sống lại.

 

Như vậy, có rất nhiều quan điểm về cái chết; thế nhưng, dù quan niệm thế nào, dù muốn dù không thì sự chết vẫn hiện hữu trong kiếp nhân sinh của nhân loại. Vậy, sự hiện hữu này có ý nghĩa gì đối với con người không? Thánh Augustinô đã nói rằng : “hãy để sự chết làm thầy dạy ta”. Ông thầy sự chết dạy ta điều chi ?

Tiên vàn, sự chết nói với nhân loại rằng : cuộc đời rồi sẽ kết thúc ; nơi thế giới này chẳng có chi là vĩnh cửu. Hay nói cách khác, sự chết nhắc nhở chúng ta ý thức về sự giới hạn. Mọi tiền tài, danh vọng, quyền lực, mọi cuộc vui thú rồi ra cũng chấm dứt. Ý thức về sự giới hạn của cuộc đời cũng mở ra cho chúng ta ý thức về sự tương đối nơi các giá trị của cuộc sống. Trước cái chết thì nhiều điều chúng ta tưởng rằng vô cùng quan trọng nhưng thực ra chẳng quan trọng chút nào. Một bài học nữa mà sự chết đưa vào nhân loại đó là hy vọng. Nghe qua dường như có gì đó thật trái khoáy, nhưng quả thật sự chết mở ra cho chúng ta một hy vọng ; sự hy vọng phát xuất từ niềm tin rằng mọi đau khổ, khó khăn, thử thách dù bi đát thế nào thì cũng không phải là mãi mãi mà sẽ có lúc kết thúc. Tắt một lời, kinh nghiệm về sự hiện hữu của cái chết mang đến lời hứa giải thoát cho con người khỏi cuộc sống này. Thêm vào nữa, khi suy tư về sự chết của bản thân, chúng ta sẽ biết trân trọng, biết ơn về những gì mà ngày hôm nay chúng ta được đón nhận. Bởi lẽ, chẳng có chi bảo đảm rằng những gì hôm nay tôi đang có phải được trao cho tôi ; khi mà rất có thể hôm qua hay một thời điểm nào đó trong quá khứ tôi đã không còn hiện hữu.

 

Như chúng ta vừa đề cập ở phần trên, ngoài quan niệm coi cái chết là sự kết thúc, sự hư vô hóa hoàn toàn thì còn lại đại đa phần nhân loại đều tin vào sự bất tử của linh hồn. Quả vậy, thực tế cho thấy khao khát bất tử được biểu lộ rất rõ trong suốt dòng lịch sử con người – nơi khoa học, nơi y học, nơi xã hội, nơi tôn giáo…Điều này đặt ra cho chúng ta một câu hỏi căn bản : tại sao con người lại tin vào sự bất tử ? Nói cách khác, đâu là lý chứng cho bất tử tính của linh hồn con người ?

Trước khi đi vào giải quyết câu hỏi trên, chúng ta cần định nghĩa hạn từ “bất tử”. Bất tử có nghĩa là không thể chết, không thể thể tan rã, không thể mất sự sống ; có nghĩa là linh hồn con người tồn tại và hoạt động vĩnh viễn[10]. Giờ đây, chúng ta trở lại với câu hỏi được nêu ra ở trên.

Một cách rất tự nhiên, chúng ta thấy rằng cuộc sống đời sau, linh hồn bất tử là những chân lý đã ghi sâu vào tâm khảm con người. Niềm tin này biểu lộ qua nhiều hình thức khác nhau như thờ cúng tổ tiên, kính nhớ các bậc thánh hiền, bậc anh hùng ; quan niệm sống thiện đời này để trông phúc đời sau ; một hình thức nữa rất phổ biến tại Việt Nam là tục lệ đốt vàng mã, cúng bái.[11]

Lý chứng tiếp theo chúng ta có thể nêu ra ở đây là lý chứng luân lý học. Lý chứng này nói với chúng ta rằng : những con người tốt lành, liêm chính không phải lúc nào cũng được hạnh phúc, bình an ; còn kẻ gian ác thì không phải lúc nào cũng phải trả lẽ công bằng ở đời nay. Như vậy, phải có sự báo ứng, thưởng phạt công minh cho quy luật luân lý ; cho nên phải có đời sau để công minh được thể hiện[12]. Đây cũng chính là quan điểm của triết gia Kant[13]. Dĩ nhiên, lý chứng này chỉ có sức thuyết phục những ai tin có Thượng Đế - Đấng Chí Công. Thêm vào nữa, chúng ta cũng có lý chứng tâm lý học. Lý chứng này dựa trên ước muốn tự nhiên của con người là mong ước được sống vĩnh viễn. Thánh Tôma Aquinô kết luận rằng : “ước vọng tự nhiên không thể là hão huyền, cho nên mọi bản thể hiểu biết đều bất khả toại”. Ngoài ra, với những ai tin rằng con người, vũ trụ được Thiên Chúa sáng tạo, chúng ta còn có thêm lý chứng về hữu thể học.[14]

Bên cạnh đó, con người là hữu thể tôn giáo. Chính trong tôn giáo mà nhiều người có kinh nghiệm sâu xa về sự bất tử. Trong kinh nghiệm tôn giáo, con người sống một mối tương quan sâu xa với một Đấng quyền năng và vĩnh cửu. Từ quan điểm của kinh nghiệm về mối tương quan vĩnh cửu ấy mà con người ý thức cuộc sống của riêng tôi là bất tử[15]. Như chúng ta đã nói ở trên, mỗi tôn giáo có rất nhiều hình ảnh, giáo thuyết khác nhau để nói về sự bất tử của linh hồn (Atman, thiên đàng, Niết Bàn, sự luân hồi…)

Với những gì trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy rằng: khi suy tư nghiêm túc về kiếp nhân sinh, con đường tư tưởng đưa chúng ta đến việc ý thức về sự chết và sự bất tử. Hai thực tại này khác biệt nhưng liên kết chặt chẽ với nhau. Có thể nói trong một mức độ nào đó, chúng ta sống cả sự chết và sự bất tử ngay giây phút hiện tại. Như thế, quan điểm của chúng ta về hai thực tại này sẽ hướng dẫn - nói đúng hơn - chi phối cách hành xử, cách thế hiện hữu của chúng ta trong cuộc đời này.

Đối diện với sự chết, nếu chúng ta quan niệm rằng chết là hết, là chẳng còn gì như các triết gia hiện sinh vô thần hay các nhà chủ nghĩa duy vật, thì chắc chắn chết là điều gì đó thật bi quan, man rợ và đáng sợ nhất trong thân phận làm người. Vì thế mà triết gia Heiddegger đã phải thốt lên rằng: “sống làm gì để ngày mai, rơi vào cõi hư vô?”. Có lẽ, một chủ trương như thế sẽ đưa con người ta đến hai thái cực trái chiều. Hoặc là theo chủ nghĩa hưởng thụ, tìm cách để sống sao cho sung sướng, mọi hoạt động đều hướng đến vui thú bản thân bất chấp những lề luật luân lý vì đâu có thưởng phạt đời sau. Đó là điều triết gia Aristippus (435-366 TCN)- người sáng lập ra trường phái Cyrenaic- đã quan niệm: hãy ăn uống, tận hưởng mọi thú vui trần gian, vì rồi mai đây chúng ta sẽ chết[16]. Hoặc là họ sẽ nhìn cuộc đời với một lăng kính buồn chán, thất vọng. Đâu cần phải cố công xây dựng cuộc sống làm chi khi mà rồi thì mọi sự sẽ rơi vào hư vô ; hơn nữa, ta chẳng biết được lúc nào ta chết – một thái độ sống cho qua ngày vì “đời là phi lý” (J.P. Sartre).

Có thể thấy rằng cả hai thái cực trên thật đáng thương. Cuộc sống như thế thì thật tầm thường; liệu rằng sống như vậy thì có đáng không ?

Còn với những người tin rằng chết là sự chuyển tiếp sang một trạng thái khác (vòng luân hồi), thì chí ít cũng có nhiều điều đem đến cho họ động lực sống tốt hơn để hầu mong kiếp sau được đầu thai vào tình trạng phúc hơn. Tuy thế, niềm tin này rất dễ đưa con người đến một thái độ sống tương đối, dễ chiều theo những sai lạc trong cuộc sống nhằm thỏa mãn bản thân. Bởi lẽ, cho dầu tin vào sự thưởng phạt kiếp sau do cái nghiệp mình tạo ra, nhưng rốt cục thì đó cũng chỉ là tình trạng tạm thời không mang tính chung cuộc – vẫn còn đó cơ hội để làm lại; thêm vào nữa, chuyện kiếp sau thì ta không biết được chi, còn đời này thì lại quá hấp dẫn, thu hút con người sống tận hưởng. Cũng cần nói thêm, thuyết luân hồi cho thấy con người không phải là một toàn thể thống nhất. Sở dĩ, linh hồn kết hợp với thân xác chỉ như một vị khách [17]. Như vậy, điều này dễ đưa đến những lối sống, cách nhìn lệch lạc trong việc sử dụng, tôn trọng, giữ gìn thân xác mình cũng như người khác.

Thiết tưởng rằng, quan điểm cho rằng chết là cánh cửa đưa vào cuộc sống vĩnh cửu mang nhiều yếu tố tích cực nhất cho đời sống nhân loại. Thực vậy, ý thức về cuộc sống hiện tại là duy nhất nhưng tạm thời, con người sẽ nỗ lực sống sao cho tốt, lắng nghe tiếng lương tâm hầu mai hậu được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Tin vào thưởng phạt công minh đời sau sẽ giúp con người can đảm vượt qua những khó khăn, đau khổ, thậm chí những điều dường như quá bất công; sự sống vĩnh cửu sẽ đem đến câu trả lời cho những vấn nạn của kiếp nhân sinh mà bây giờ không thể lý giải được. Một điều nữa, cái chết bao hàm sự bất tử cũng mở ra cho đời sống nhân loại về một hy vọng hạnh phúc đích thực mà ai cũng luôn khắc khoải, mà nơi thế gian này không thể thỏa lòng được. Cảm nghiệm như thế, thần đồng âm nhạc W. A. Mozart đã nói: “Tôi cảm ơn Chúa đã độ lượng ban cho mình cơ hội để hiểu rằng cái chết là chìa khóa mở ra cánh cửa dẫn tới chân hạnh phúc”.

Suy nghĩ đến ba quan điểm về điều gì xảy ra sau cái chết (Chết là chấm dứt, hoặc là luân hồi, hoặc là đi vào đời sống vĩnh cửu), thật hợp lý để một lần nữa chúng ta đánh lại canh bạc của B. Pascal.[18]

Với tất cả những gì chúng ta vừa trình bày trên, nói như Platon, thì “chưa phải là những gì chúng ta có thể hay phải nói”. Tuy thế, có một điều chúng ta dám quả quyết khẳng định rằng : cái chết là điều hiển nhiên, là điều bất khả tránh né. Vì thế, có lẽ điều quan trọng không phải là quá ưu sầu, lo lắng vì sẽ phải chết, nhưng là sống ; chúng ta phải làm chủ cuộc sống, đừng để cái chết bóp nghẹt đời sống chúng ta. Điều thiết yếu, ta phải sống sao cho cuộc sống được triển nở, phong phú. Sống sao cho đáng là người, để khi cái chết đến bất kỳ lúc nào ta cũng nhẹ nhàng đón nhận; “Cái chết không bao giờ khiến người thông thái ngạc nhiên, anh ta luôn sẵn sàng lên đường” (J. De La Fontaine)

Tắt một lời, mỗi khi suy tư về sự chết thì nó sẽ lại kéo chúng ta trở lại với những câu hỏi về cách sống hiện tại của chúng ta. Chúng ta là những hữu thể nhân linh có tự do – ý chí và lý chí ; chúng ta sẽ chọn sống theo cách phải chết hơn (chú tâm đến những khía cạnh mà rồi ra sẽ kết thúc) hay là chọn sống theo cách bất tử [19] (chú tâm trên những khả năng vĩnh cửu của đời sống) ? Nói cho cùng, dầu chết dầu sống, chính mỗi chúng ta phải tự xây dựng, tự sáng tạo, tự chịu trách nhiệm cho cuộc đời chúng ta. Chẳng ai sống thay ta mà cũng không ai có thể chết thay ta.

 



[1] Lê Văn Đức, Tự điển Việt Nam. Nhà sách Khai Trí, 1970, tr.282.

[2] Gioan Nguyễn Ngọc Hải, CSsR, Con người một huyền nhiệm, Học viện Thánh An Phong sô, Lưu hành nội bộ, Sài gòn 2011, tr.167

[3] Bernard Morichère, Triết học tây phương từ khởi thủy đến đương đại. [Bản dịch Phan Quang Định], Nxb Văn hóa Thông tin, 2010, tr.71

[4] Nguyễn Trọng Viễn, Lịch sử triết học tây phương. Thời thượng cổ, Học viện Đa Minh, Lưu hành nội bộ, 1995, tr.187-188

[5] Gioan Nguyễn Ngọc Hải, CSsR, Con người một huyền nhiệm, Sài gòn 2011, tr.168

[6] Gioan Nguyễn Ngọc Hải, CSsR, Con người một huyền nhiệm, Sài gòn 2011, tr.166

[7] Lý Minh Tuấn, Đông phương triết học cương yếu, Nxb Hồng Đức, 2014, tr.448 - 462

[8] Lý Minh Tuấn, Đông phương triết học cương yếu , tr.592 - 593

[9] Nguyễn Trọng Viễn, Lịch sử triết học tây phương. Thời thượng cổ, Tr.58

[10] Fx.Phạm Đình Phước, Triết học về con người. Học viện Don Rua, Lưu hành nội bộ, Đà Lạt 2017, tr.275 - 276

[11] Fx.Phạm Đình Phước, Triết học về con người, tr.277

[12] Fx.Phạm Đình Phước, Triết học về con người. Đà Lạt 2017, tr.278

[13] Nguyễn Hồng Giáo, Thần lý học. Đại chủng viện thánh Giuse, 1998, tr.16

[14] Fx.Phạm Đình Phước, Triết học về con người. Đà Lạt 2017, tr.278 - 279

[15] Michael D.Moga, Điều gì làm cho con người thực sự là người [người dịch: Lê Đình Trị], Nxb Phương Đông, Tp.Hồ Chí Minh 2014, tr.242

[16] Bernard Morichère, Triết học tây phương từ khởi thủy đến đương đại, tr.78

[17] Gioan Nguyễn Ngọc Hải, CSsR, Con người một huyền nhiệm, Sài gòn 2011, tr.173

[18] Đây là một luận cứ triết học hộ giáo của Pascal. Luận cứ này giả thiết rằng toàn nhân loại đang đặt cuộc đời mình vào một ván bài đánh cược một ăn hai thua. Một cửa đặt cược “Có Thiên Chúa”, cửa đặt cược còn lại là “Không có Thiên Chúa”. Mỗi cửa đặt cược đều có hai khả năng “được” hoặc “mất”. Người chọn “Có Thiên Chúa” thì cố gắng sống tốt lành như thể Thiên Chúa thật sự hiện hữu; nếu sau này hóa ra không có Thiên Chúa, thì sự mất mát chỉ hữu hạn mà thôi. Trái lại, người chọn cửa “Không có Thiên Chúa” thì sống tự do theo ý mình; nếu sau này hóa ra Thiên Chúa thật sự hiện hữu, thì sự mất mát của người ấy là vô hạn. Xem thêm Nguyễn Đình Diễn,Từ điển Công giáo anh việt, Nxb Đồng Nai, 2014, tr.1483

[19] Michael D.Moga, Điều gì làm cho con người thực sự là người, tr.242


NGƯỜI MÔN ĐỆ - Tập II