ĐÔI NÉT VỀ DÂN LUẬT

VÀ Ý NGHĨA CỦA DÂN LUẬT

TRONG TÂM THỨC CỦA NGƯỜI  KƠ HO

Đaminh Phạm Văn Khánh

 

Giáo phận Đà Lạt nằm gọn trong tỉnh Lâm Đồng, ở cực nam Tây Nguyên, trong tọa độ từ 11˚12’ đến 12˚15’ vĩ Bắc và từ 107˚15’ đến 108˚45’ kinh Đông; phía Bắc và Tây Bắc giáp với giáo phận Kontum và Ban Mê Thuật; phía Tây và Tây Nam giáp với giáo phận Phú Cường và Xuân lộc; phía Đông giáp với giáo phận Nha Trang; phía đông nam giáp với giáo phận Phan Thiết. Việc tiếp giáp với nhiều giáo phận, với nhiều sắc tộc khác nhau, tạo thuận lợi cho nơi đây tiếp nhận, giao lưu với nhiều nền văn hóa đa dạng.

Mặc dù chỉ là một giáo phận với diện tích tương đối nhỏ (9.764 km², tương ứng với địa bàn tỉnh Lâm Đồng), tuy nhiên đây lại là địa bàn cư ngụ của rất nhiều sắc tộc. Trước năm 1975, nơi đây có gần 30 dân tộc; đến nay (2017) có hơn 43 dân tộc cùng cư ngụ. Trong đó, người Việt chiếm hơn 77%, người Kơho chiếm 12%, và các sắc tộc khác chiếm 11% (Mạ, Mnông, Churu, Raglai…).  Việc chiếm 12% dân số toàn tỉnh Lâm Đồng, cùng với đó là một kho tàng văn hóa sẵn có vô cùng phong phú và đa dạng nơi mình nên ít nhiều người Kơ Ho cũng ảnh hưởng đến các dân tộc thiểu số khác. Trong kho tàng phong phú, đa dạng này, bộ dân luật hay luật tục (Nri\ hay Nri\rềng) có thể được xem như một nét đặc trưng, tiêu biểu của người Kơho.

Bài viết ngắn dưới đây không nhằm mục đích gì khác hơn là trình bày những nét đặc trưng của bộ dân luật Kơ Ho thông qua những điểm chính yếu như: Đôi nét về bộ dân luật Kơ Ho (Phần II). Điều này được thể hiện qua: Tên gọi và  nguồn gốc; đặc điểm của bộ dân luật Kơ Ho. Tất cả những điều này đều nhằm đến mục đích là làm nổi bật lên ý nghĩa của bộ dân luật đối với mỗi người Kơ Ho (Phần III). Nhưng trước hết hẳn cũng nên biết đôi chút về dân tộc Kơ Ho (Phần I) để làm nền tảng đi vào hai phần trên.

 

 

I.ĐÔI NÉT VỀ DÂN TỘC KƠ HO

Kơ Ho là tên gọi chung chính thức của một dân tộc. Tuy nhiên, dân tộc này gồm các nhóm nhỏ khác: Srê, Nồp, Cơ Don, Chil, Lạch, Mạ. Ngôn ngữ của người Kơ Ho thuộc ngữ hệ Môn Khơme, dẫu rằng có chút khác biệt về ngôn ngữ giữa các nhóm này. Ngoài nhóm Srê là canh tác lúa nước, các nhóm khác theo phương thức làm rẫy. Trước khi tiếp xúc, chịu ảnh hưởng bởi phương thức canh tác của người Kinh, phương thức sống của họ là săn bắt, hái lượm, chăn nuôi trâu, bò… Về tổ chức xã hội, người Kơ Ho sống thành từng “”òn” (làng) do nhiều gia đình có mối quan hệ huyết thống hợp lại.  Đứng đầu mỗi “”òn” là “Kuang ”òn”. Người Kơ Ho theo chế độ mẫu hệ, người mẹ đứng đầu trong gia đình, con cái sinh ra lấy tên họ mẹ. Trước khi theo Kitô giáo, người Kơ Ho thờ nhiều thần khác nhau: thần mặt trời (Yàng măt tơngai), thần mặt trăng (Yàng àng kơnhai), thần lúa (Yàng kòi), thần nhà ( Yàng hìu)…. Đôi nét như thế cũng đủ để cho thấy kho tàng văn hóa hay đời sống tinh thần của người Kơ Ho vô cùng phong phú, đa dạng.

 

II. ĐÔI NÉT VỀ BỘ DÂN LUẬT KƠ HO

        1.Tên gọi  của bộ dân luật Kơ Ho

Khi nói đến tên gọi bộ dân luật của dân tộc mình, người Kơ Ho dùng từ NR& hay NR&NRỀNG. Đây là từ dùng để chỉ những bài văn vần, có nội dung và ý nghĩa đặc thù, được các bô lão, trưởng bối đọc lên khi xét xử. Nr^ có đặc điểm là sự đồng nhất, tức được toàn thể dân tộc Kơ Ho đồng thuận coi như một gia tài chung, được tất cả mọi người đón nhận. Đồng thời, nó có một sự thống nhất, cố định, về nội dung lẫn hình thức, ngay cả về những từ được chọn lọc và sử dụng. “Nó không được đọc buông, không được phép ngân nga, không được phép thêm bớt như các thể văn khác. Nó chỉ được sử dụng và đọc lên khi có sự tham gia đầy đủ của các người có liên quan trực tiếp, trong một hoàn cảnh đặc biệt. Cụ thể, phải là một phiên tòa đúng nghĩa. Hơn thế, nó chỉ được tuyên đọc chính danh và có hiệu quả do miệng của vị trưởng tộc đã được nại tới để xét xử các thành viên trong gia tộc, dòng tộc mình, khi có các sự cố cần phải làm vậy”.[1] Tuy vậy, nó vẫn có thể được những người lớn sử dụng để dạy dỗ, nhắc bảo con cái…. Mặc dù đó là những bài văn vần có tiết tấu, nhịp điệu, vần thơ…theo kiểu pơnđik (hay pơnđik pơnđing) nhưng đây không phải là pơnđik. [2]

 

 

2. Nguồn gốc của bộ dân luật Kơho

Bộ luật này có từ lúc nào ắt hẳn không ai có thể biết cách chính xác, tuy nhiên, nó là một bộ luật rất cổ xưa, được hình thành từ lúc dân tộc Kơ Ho còn đang sống quây quần bên nhau. Khi mà các tổ chức làng chưa có hoặc nếu đã có các tổ chức làng thì cũng không ở quá xa nhau như ngày nay. Nói cách khác, lúc mà dân tộc Kơ Ho chưa phải tách ra để đi tìm nơi sinh sống, kiếm ăn:

Bơnồr òr nau he Jrê Bup sơl 

Neh sơrplup he wơl Jrê Bàng’  

Neh sơrplàng he Wơl Jrê Tàp 

Òp Jrê Dờng Jrê Phe                 

Me kòn bàp pơrlơ di cau”.

Dịch:

“Xưa xửa xừa xưa, chúng ta vẫn là Đại Đa

Chúng ta đã bị lật úp rồi, thành Trung Đa

Chúng ta đã bị lật ngửa rồi thành Tiểu Đa

Lẫn lộn các cây đà Cổ Đa, Tạp Đa

Con mẹ con cha bị lật nhào thành tôi mọi người ta”.

Hay :

Bơh bơnồr kàlge Kòncau he  

Ơm kis bal dùl lơgar              

Căr bal dùl bơr noh               

Boh bal dà  dùl cơnòng”.       

Dịch:        

“Từ xa xưa thưở trước, người Thượng chúng mình

Sinh sống chung một quê hương

Tết bện chung một nơi chốn

Be đắp chung nước một dòng”.

Từ những sự cố đơn giản, nhỏ bé, đơn lẻ trong cuộc sống hàng ngày giữa các cá nhân, gia đình… các vị bô lão, trưởng bối đã ngồi lại, cùng nhau bàn bạc, cầu xin Thần Linh chỉ bảo để tìm ra những cách giải quyết rốt ráo, không chỉ đáp ứng được tức thời nhưng còn đáp ứng được cả trong tương lai. Dần dà theo tiến độ của cuộc sống có những vấn đề rắc rối, nhiêu khê hơn. Đồng thời, những vấn đề của cuộc sống không còn bó hẹp trong phạm vi từng gia đình, từng dòng họ nữa nhưng mở rộng ra cả cộng đồng, rồi cả những cộng đồng chung quanh. Và cứ như thế hình thành nên các khoản luật, rồi cả một bộ luật.

Nói như thế không có nghĩa là bộ luật này không có uy tín, chất lượng bởi được viết bởi những con người bình thường, không có học thức…, hay nó xuất phát từ những vấn đề nhỏ nhặt bình thường của cuộc sống, vào cái thời kì bán khai, khi còn “ăn lông ở lỗ”.... Trái lại, bộ luật này được “các thế hệ bô lão, trưởng bối, có sự kết hợp đắc lực của các lớp văn nghệ sĩ thượng thặng Kơ Ho hình thành và phát triển. Tất cả các vị này đã trải qua hàng ngàn mùa lễ hội đúng thời vụ và truyền thống, họ đã cùng nhau cầu nguyện, bàn bạc, nêu sáng kiến, chọn ngôn từ…, rồi sáng tạo ra theo thể văn vần đặc biệt, dành riêng.”[3] Nhất là với người Ko Ho, họ tin rằng bộ luật này được chính Thần Linh chỉ dạy:

He Kòncau geh Yàng ătbồ

“Chúng ta có Thần linh lãnh đạo”

Tóm lại, đây là bộ dân luật cổ xưa mà không ai có thể biết cách chính xác nó có vào thời điểm, mốc thời gian cụ thể nào. Tuy vậy, một điều chắc chắc là “bộ luật này được các tiên tổ Kơ Ho, qua các văn sĩ nhân dân đại tài, đã phổ thành thơ tự do và được truyền tụng nguyên vẹn trong các dòng tộc của dân tộc Kơ Ho, từ khi nó được hình thành cho đến ngày nay. Cụ thể nó đã được các thế hệ bô lão, trưởng bối, văn sĩ của toàn thể dân tộc Kơ Ho đọc thường xuyên và lớn tiếng từng khoản có liên hệ trong các buổi xét xử công khai các thành viên của dân tộc mình”[4]

3. Hình thức

  Như đã nói ở trên, bộ luật này được sáng tác theo thể văn vần pơnđik pơnđing. Tuy nhiên, nó lại thuộc dạng văn vần đặc biệt. Vì “nó được sáng tác trong và cho những trường hợp đặc biệt, tức đã có những sự cố tiêu cực nào đó xảy ra. Cho nên các từ ngữ được lựa chọn để sử dụng vào đây cũng rất đặc biệt, nói chung là có nội dung ý luật lệ, kể cả kết án. Vì thế với “người ngoài” thì rất khó phân biệt. Nhưng với người koho, mỗi khi nghe thấy hay đọc nó ra, thì mọi người đều bảo đây là Nri\ hay Nri\ nrềng, chứ không phải là Pơnđik hay pơnđik pơnđing”.[5] Cùng với đó, đây cũng là một bộ luật có bố cục chặt chẽ, được phân chia thành các chương, các mục rõ ràng; ngôn từ thì được tuyển lựa kĩ lưỡng qua nhiều thế hệ để vừa có thể mang tính cố định, nhưng cũng không kém uyển chuyển để áp dụng vào nhưng trường hợp cụ thể.

Cùng với đó, bộ luật này cũng mang một tính thống nhất, phổ quát. Nó được mọi người Kơ Ho đón nhận, sử dụng, dẫu có sự khác biệt giữa làng này, làng khác, hay giữa nhánh này với nhánh kia. Một sự thống nhất trong bộ luật của người Kơ Ho là hoàn toàn có cơ sở.  Vì với mọi người Kơ Ho, tất cả đều có chung một lãnh thổ, nơi chốn, cuộc sống mưu sinh hằng ngày:

        He ơm kis bal dùl lơgar

        He ơm căr bal dùl bơrnoh              

        He ơm boh bal dà dùl cơnòng       

        He ơm bal cik lòng dùl nrang 

        He ơm pơ\ bal  “ăng dùl bơkào    

 

Dịch:

Chúng mình cùng sống chung một lãnh thổ

Chúng mình cùng tết bện chung một nơi chốn

Chúng mình cùng be đắp nước chung một dòng chảy

Chúng mình cùng chụm chung củi một khúc đoạn

Chúng mình cùng bẻ măng chung một đọt ngọn

 

4. Đặc điểm về nội dung bộ dân luật

Nếu so sánh bộ luật của dân tộc Kơ Ho với những bộ luật của các các dân tộc khác thì có lẽ bộ luật này tương đối ngắn;[6] tuy nhiên xét về nội dung thì nó lại không hề ngắn. Bộ luật này bao trùm mọi mặt của đời sống con người: từ cuộc sống của mỗi cá nhân đến cộng đoàn xã hội, hay từ những kinh nghiệm của cuộc sống hằng ngày đến cách đối nhân xử thế, hay từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần; thậm chí ngay cả đời sống tâm linh. Cách rõ ràng, đây chính là một bộ luật có sự kết hợp hài hòa mang tính toàn diện giữa các yếu tố: Thần linh – con người – thiên nhiên.  Ba yếu tố hay ba chủ đề muôn thưở này vẫn chi phối cuộc sống của con người. Tất cả các yếu tố này đan xen vào nhau, hun đúc, tạo nên một con người Kơ Ho đích thực.

Sur geh gơna

Iăr geh gơnăp

He Kòncau geh Yàng ătbồ

He Kòncau geh Sơđèn [7] ătbồ

He Kòncau geh kồ` pàng ătbồ’’

Dịch:

“Heo cộ có thể thống

Gà qué có trật tự

Chúng mình người Kơ Ho có trưởng bối cầm đầu

Chúng mình người Kơ Ho có vị Trung gian cầm đầu

Chúng mình người Kơ Ho có Thần linh cầm đầu”

Sự kết hợp hài hòa này được diễn tả cụ thể qua:

a. Tương quan giữa con người với Đấng thần linh

Thông qua bộ luật tục người ta sẽ nhận ra được một mối tương quan mật thiết giữa con người và Thần linh.

Người Kơ Ho luôn tin rằng chính họ được Thần linh dẫn dắt, chỉ bảo. Thậm chí những khoản luật họ có là do Thần linh hướng dẫn vì để có thể giải quyết được những vấn đề của cuộc sống ngoài việc các bậc trưởng bối phải ngồi lại bàn thảo với nhau thì họ còn phải khẩn xin Thần linh chỉ bảo.

Tiếp đến, với bộ luật này người ta sẽ nhận ra một niềm tin vững chắc của người Kơ Ho vào các vị Thần Linh. Niềm tin  này mang một đặc tính phổ quát cho tất cả mọi người, của cả cộng đồng Kơ Ho chứ không phải mang tính cá nhân của từng con người như khi tin mới là người Kơho, còn khi không tin thì không phải là người Kơ Ho. Qua bộ luật này chúng ta sẽ nhận ra một niềm tin tưởng trọn vẹn của người Kơ Ho vào sự an bài, sắp xếp của Thần linh nơi cuộc đời mỗi người, cùng với đó là sự đồng hành của các Ngài nơi từng con người:

Deh mơ dùh Yàng klăc mhàm

Bau mơ kòn Yàng kwăt che so\

Chơt mơ jê Yàng du, Yàng hòi

Dịch:

“Sinh đẻ Thần nặn máu

Dựng vợ gả chồng Thần kết tóc

Chết chông Thần định, Thần gọi”

Hay:


Yàng ơm bal tam tăp

Yàng grăp bơh tam sò

Yàng crò bơh tam soàn

Yàng tàm bơh tam ndul

“Thần ở từ trong trứng nước

Thần giữ từ trong thai nhau

Thần nhét từ trong linh hồn

Thần linh từ trong bụng mẹ”


 

 

Hay:

“Yàng cih dơ jơng lòt brê

Yàng cih dơ tê lơh kòi

Yàng cih dơ bơr hòi Yàng”

Dịch:

         “Thần vạch nơi chân để đi rừng

        Thần ghi nơi tay để làm lúa

        Thần khắc nơi cửa miệng để gọi thần”

Tiếp đến, đó là một niềm tin vào sự sáng tạo của các Ngài, là đấng dựng nên con người:


Yàng klăc

Yàng mòn

Yàng klăc he gơs kòn

Yàng mòn he gơs bơnus

 

 

“Thần nắn

Thần tạo

Thần nặn chúng ta thành người con

Thần tạo chúng ta thành con người”


Cùng với đó là sự quan sát, đồng hành của thần linh. Dù một chuyện nhỏ nhất trong cuộc sống cũng không nằm ngoài sự an bài, chăm sóc của ngài.

“Rụng trái dưa nơi kia thần nghĩ

Rơi trái gấc nơi kia Thần bảo

Rớt trái đậu nơi kia thần đè

Cà chua cà pháo nơi đây Thần gọi”

Với sự đồng hành của Thần linh, tức sự trợ giúp của các ngài dành cho con người, người Kơho luôn tin rằng bên cạnh mỗi con người luôn có một quyền lực che chở, bảo vệ, sẵn sàng giúp đỡ mỗi người khi họ cần đến sự trợ giúp này:

“Ờ jai khồm, jồm klau sơnuh

Ờ jai truh, jồm klau iăr lu

Ờ jai ge\, jồm klau rơpu kwăng’’

Dịch:

“Không thể thổi, thì mượn chàng ống bễ

Không thể chọi, thì mượn anh gà cồ

Không thể húc, thì mượn anh trâu bự.”

Tuy nhiên, xét cho cùng ảnh hưởng và niềm tin vào thần linh được diễn tả cụ thể, rõ ràng nhất liên quan đến luật đó là qua những lời xin lỗi sau những phiên xét xử. Theo người Kơ Ho, khi đã ý thức về việc mình đã làm sai một điều gì đó thì phải xin lỗi công khai. Tuy nhiên, một lời xin lỗi suông thì chưa đủ, nhưng nó phải được thực hiện công khai trước bàn thờ Thần Linh và Chóe gia tiên, tức lời xin lỗi phải được thể hiện dưới sự chứng giám, đón nhận từ thần linh.

Người Kơ Ho không chỉ có những khoản luật đòi buộc mỗi người phải tin có Thần linh, nhưng còn có khoản luật đòi buộc phải tin có Đấng trung gian giữa Thần linh và con người:

Tip mơ tu bơtau dơ dà

Dồ mơ brà bơtau dơ gle

He Kòncau bơtau Sơđèn

  Dịch :

“Con gián và con sâu, gốc cội của nó là nước nôi

Con khỉ và con công, gốc cội của nó là tre pheo

Người Kơ Ho chúng mình, chủ tể là Sơđèn.

Một niềm tin vững mạnh vào thần linh nơi người Kơ Ho hoàn toàn có cơ sở và có thể được tóm kết qua những câu văn dưới đây:

Yàng crơng gơs trồ tiah

Yàng tờm gơnrơh

Yàng tờm gơnwăr

Yàng klăc Yàng mòn

Yàng klăc  he gơs  kòn

Yàng mòn he gơs bơnu\s

De\h mơ dùh  Yàng c^h gur

Bun mơ kòn  Yàng  klăc mhàm

Bun mơ  kòn  Yàng ơn sò

Bun mơ kòn Yàng crò swàn

Bau kòn  Yàng kwăt che so\

Chơ\t  mơ jê Yàng  du|

Chơ\t mơ jê Yàng hòi

Yàng dê, tờm tơmoh bơh lài

Yàng dê, tờm tơ mài bơh yau

Yàng mòn trồ

Yàng  klăc ù

Yàng neh ơm bơh  tam tăp

Yàng neh  grăp bơh tam sò

Yàng neh  crò bơh tam  soàn

Yàng neh tàm bơh tam ndul

 Yàng cih dơ jơng  lòt brê

Yàng cih dơ tê  lơh kòi

Yàng cih dơ tê bơr  hòi  yàng

Yàng pà tai

Yàng ai ngăn

Yàng te\ măt

Yàng jăt sền.”

Dịch:

“Thần linh sáng tạo trời đất

Chính thần linh toàn năng

Chính thần linh quyền phép

Thần linh viên nặn

Thần linh viên nặn chúng mình thành người con

Thần linh nắn tạo chúng mình thành con người

Sinh đẻ Thần linh vạch mầu

Thai con Thần linh nặn máu

Thai con Thần linh đặt nhau

Thai con Thần linh phú hồn

Vợ chồng con cái Thần linh bện tóc, xe tơ

Tử vong Thần linh định

Chết chóc Thần linh gọi

Chính thần linh đặt tên từ trước

Chính thần linh trui rèn từ xưa

Thần linh tạo ra trời

Thần linh nặn ra đất

Thần hiện hữu từ trong trứng nước

Thần đã gìn giữ từ trong nhau thai

Thần đã luồn xỏ từ trong linh hồn

Thần đã linh nghiệm từ trong bụng dạ

Thần vạch nơi chân đi rừng

Thần khắc nơi tay làm lúa

Thần ghi nơi miệng cầu Thần

Thần linh ban thêm

Thần linh cho nữa

Thần linh đưa mắt

Thần linh theo nhìn.”

b. Tương quan giữa con người với môi trường xung quanh

Khi nói đến vấn đề môi trường chung quanh và luật tục có lẽ chẳng mấy liên quan. Tuy nhiên, với người Kơ Ho môi trường hay những yếu tố thiên nhiên đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của họ. Thiên nhiên và con người như sát cánh cùng nhau để sống. Họ rất thích dùng những hình ảnh về cây cối, loài vật để nói lên những khoản luật, bài học:

Bau mơ phìng gàr dà.”

Dịch: 

 “Kết hôn với ráy cá thì phải canh nước”

Hay:

Dùl  plai khê hơ ne Yàng lo

Dùl  plai kho hơ ne Yàng lah

Dùl  plai khwăh hơ ne Yàng jơlơn

Blơn plai prền hơ do Yàng hòi

Dịch:

“Rụng trái dưa nơi kia thần nghĩ

Rơi trái gấc nơi kia Thần bảo

Rớt trái đậu nơi kia thần đè

Cà chua cà pháo nơi đây Thần gọi

Dù ờ bất cứ nơi đâu, dù làm việc gì, người Kơ Ho cũng nhận ra sự hiện diện, sự gắn bó với cảnh vật xung quanh:

Lòt tam dà, mpong bơka

Mut tam ja, mpong bơ ke

Ơm tam sre, mpong bơkwăt, bơtàm

Dịch:

“Đi xuống nước thì vọng lại tình cá

Vào trong tranh thì vọng lại tình chuột

Ở nơi ruộng thì vọng lại tình ốc, tình cua.”

Người Kơ Ho cũng tin rằng có rất nhiều điều họ có được là do một số loài động vật hướng dẫn, chỉ bảo:

Bơh bơrling kòn phàng dê lăm

Bơh bơr làng kò bồ dê lăm

Bơh dồ gle kòn đời dê lăm

Tàng he đòm ngai do

Dịch:

“Từ chính họa mi con tổ dẫn đường

Từ chính le te trắng dầu chỉ lối

Từ chính khỉ tre con côi hướng dẫn

Nên mình bắt chước hôm nay.

Thiên nhiên đóng vai trò quan trọng với người Kơ Ho không phải không có lý do. Trước hết, cuộc sống của họ luôn gắn liền với rừng. Chính nơi rừng mà kiếm được thức ăn hằng ngày: săn bắn, hai lượm. Nhất là với niềm tin: vạn vật hữu linh , họ tin rằng ẩn đằng sau tất cả các sự vật thiên nhiên luôn có sự hiện diện của thần linh. Từ đó có các thần : Thần rừng (Yàng brê), Thần lúa (Yàng kòi), Thần dê (Yàng be), Thần nước (Yàng dà)

c. Tương quan giữa con người với nhau

Người Kơ Ho rất đề cao tính cộng đồng. Với họ, không ai sống một mình mà không có người khác. Cụ thể, làm việc gì cũng phải có nhau, đồng lòng đồng sức mới thành công được.

“Dùl nă he piah kòi do ờ che

Dùl nă he piah phe do ờ hăc

Dùl nă he duh  năc do ờ git”

Dịch:

“Một mình ta giã lúa thì không thể kĩ

Một mình ta giã gạo thì không thể trắng

Một mình ta tiếp khách thì không thể tròn”[8].

Về điểm này người Kinh cũng có câu:

“Một cây làm chẳng nên non,

Ba cậy chụm lại nên hòn núi cao.”

Trong mối tương quan với người khác, luật của người Kơ Ho đảm bảo được bốn đặc điểm cốt yếu: tính dân chủ, tính giáo dục, tính hòa giải và tính nhân đạo. Tuy nhiên, một điểm cốt yếu làm nền tảng cho bốn đặc điểm này đó chính là bổn phận, trách nhiệm của mỗi người dành cho chính mình. Cụ thể:

- Tính dân chủ

        Tính dân chủ nơi bộ luật của người Kơho trước tiên được diễn tả qua tinh thần đại đồng. Với họ, tất cả mọi người đều là anh em của nhau, không phân biệt chủng tộc hay người làng này làng khác. Nói cách khác, “tứ hải giai huynh đệ’’:

 

“Lòt hơ yồ, bơngư hơyồ

Mù hơđơm, bơngư hơ đơm

Ơm dơ gùl, bongư hơ gùl”

Dịch:

“Đi về miền thượng du thì làm thân ở thượng du

Xuống miền hạ du thì làm thân ở hạ du

Ở miền trung thì làm thân ở trung du”

Cùng với đó, tính dân chủ này còn được thể hiện qua việc hưởng thụ các quyền lợi cả về vật chất cũng như tinh thần. Ví như khi săn bắt được một con thú nào thì tất cả mọi người đều có phần. Hay khi một ai chết thì không chỉ những người sống được chia, được hưởng tài sản nhưng cả người chết cũng được hưởng.

- Tính giáo dục

Trước tiên luật nói lên bổn phận, trách nhiệm của mỗi người đối với chính mình cùng với đó là với cộng đồng xã hội. Bởi lẽ, với họ “mọi người nữ từ khi sinh ra đã có “cái giống” làm “bà chủ” tương lai. Mọi người nam từ lọt lòng mẹ, là đã bắt đầu phải học để có đủ khả năng làm trưởng tộc ngày mai của dòng họ mình”.[9] Muốn làm được điều này thì con cháu phải ý thức, lắng nghe cha mẹ, các bậc bô lão, trưởng bối… Còn về phần mình thì các bậc bô lão, trưởng bối thì học hỏi từ người xưa. (jòi kồ lồ yau: truy gốc tầm cổ). Tóm lại, luật tục trước hết nhằm đạo tạo nên một con người thành toàn, nhạy cảm với cuộc sống, biết hoàn thiện chính mình..

 Cùng với đó, luật tục cũng có điểm nhắc nhở mỗi người không được quên đi gốc gác, cội nguồn của mình:

Ba` hwi\ sơmpơr

Ba` hwơr sơmpài.

Dịch:

“Đừng có quên làng gốc gác

Chớ có sảng sót cuội nguồn.”

Luật tục cũng có những khoản luật dạy mỗi người phải có tinh thần tự giác, không cần ai phải nhắc nhở làm. Không được chần chừ, né tránh, thoái thác cho người khác:

Geh cing di tànsah

Geh rơpu di lơh wàng

Geh  sơn tàng di lơh hìu”

Dịch:

“Có chiêng thì phải đan gùi giỏ

Có trâu thì phải làm chuồng trại

Có chóe quý thì phải làm nhà cửa.”

Tinh thần tự giác này không phải chỉ riêng người mới làm, nhưng nhìn vào trong tự nhiên người Kơ Ho cũng thấy nhiều loài vật cũng làm như thế:

Ngò` lòt twăn

Răn lòt băc

Răc kơnàng păr wàng lơgar

Jơr ke dăm kò kồr bòng bơnơm.”

Dịch:

“Kiến cỏ thì đi lượm lặt

Giun dế thì đi xây đắp

Ri sẻ già thì bay lượn quanh lãnh thổ

Lợn lòi đực trắng thì chũi nhủi khe long núi non.”

-                Tính hòa giải

Tính hòa giải có lẽ chính là đặc điểm chính yếu, cốt lõi mà tất cả các bộ luật trên thế giới đều nhắm tới. Nói cách khác, luật được lập ra để làm thế nào giải quyết được những mâu thuẫn, xung đột xảy ra. Bộ luật của người Kơ Ho cũng không đi ra ngoài khuôn khổ này. Tuy nhiên, với họ nếu là việc trong dòng họ thì trước tiên trong gia đình đó mọi người sẽ ngồi lại cùng khuyên bảo, răn đe. Khi gia đình nói không giải quyết được mới đem ra hội đồng dòng tộc. Khi đã đem ra hội đồng dòng tộc thì bao nhiêu phiền toái, rắc rối kéo theo. Do vậy, dù sự việc có to, có lớn đến đâu đi nữa thì việc xét xử vẫn phải luôn lấy tính hòa giải làm chính. Mà khi cùng cực lắm mới đem ra xử.

Người Kơ Ho lấy tính hòa giải làm chính, vì trong đới sống cộng đồng, mọi người đều chung nhau từng việc vui buồn, giúp nhau trong sản xuất, lấy tình hàng xóm làm đầu. Nhất là họ sống thành từng làng (“òn), tức nhiều gia đình có quan hệ máu mủ kết hợp mà thành. Chính vì đề cao tính hòa giải này mà luật đòi buộc mỗi người trước hết cần phải cố gắng nỗ lực thường xuyên để trở thành một con người thành toàn. Cùng với đó, luật cũng đòi buộc mỗi người cũng phải có một sự nhạy cảm thường xuyên để rồi khi có sai phạm là cá nhân đó tự nhận ra ngay, và cũng tự tìm cách sửa chữa theo như những điều trong tập quán đã quy định. Do đó, khi có những sai phạm xảy ra, cho dù to hay nhỏ, thì phong tục tập quán  đã có sẵn mọi phương thế để sửa trị. Điều quan trọng là đương sự phải thật lòng chấp nhận những sai lỗi của mình và không được né tránh. Khi né tránh tội của mình, họ sẽ phải nhận những hình phạt thích đáng, thậm chí rất nặng:

Dô tam dơr klìu 

Dô tam  dà bơya  sa”

Dịch:

“Trốn vào rừng thì cọp beo xé

Lẩn xuống suối thì cá sấu táp.”

- Tính nhân đạo

Với người Kơho, sai lầm, thiếu sót trong cuộc sống là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, “tiêu cực chỉ là chuyện nhất thời phải vượt qua, phải xóa sạch, để trả lại cái tình trạng tốt đẹp đã có từ trước. Sống trên đời có ai mà tránh khỏi nhiều lần lỗi lầm, sai xẩy. Tự mình gây ra cũng có, mà do hoàn cảnh bên ngòai cũng có” [10]. Đồng thời mỗi người cũng phải thông cảm cho người khác vì lẽ ai  mà chả có những giới hạn nhiều khi không thể vượt qua được:

Kup bơrling jăk dùl tùng

Kup bơrlàng jăk  dùl  đăr”

Dịch:

“Bắt họa mi có giỏi thì túm được đuôi

Tóm le te có tài thì phải được cánh.”

III. Ý NGHĨA CỦA BỘ DÂN LUẬT ĐỐI VỚI NGƯỜI KƠHO

Cũng như luật của các dân tộc khác trên thế giời, luật của người Kơ Ho cũng trước hết nhắm tới việc xét xử. Xét xử sao cho công minh, công tâm, công bằng, hợp lý hợp tình. Tuy nhiên nếu bộ luật này chỉ nhắm đến những mục tiêu như thế thôi thì chả có gì đáng để bàn đến, nhưng bộ luật này còn nhằm hướng đến mục tiêu cao cả hơn là xây dựng, phát triển con người cách toàn diện với ba chiều kích nền tảng: Với Thần linh, với tha nhân và với môi trường chung quanh. Ba yếu tố này luôn luôn chi phối, hình thành nên một con người.

Cùng với đó, luật tục cũng là một “túi khôn” của người Kơ Ho; ẩn sâu trong đó là một kho tàng tri thức dân gian phong phú. Luật đề cập đến mọi mặt của đời sống con người, chứa đựng những tri thức dân gian được rút tỉa từ chính kinh nghiệm của cuộc sống qua nhiều thế hệ khác nhau. Đó là những tri thức về đời sống tâm linh, về môi trường thiên nhiên, về trồng trọt, chăn nuôi, nhất là về cách đối nhân xử thế. Những tri thức về mọi mặt đời sống này đã dần định hình, hun đúc nên từng người Kơ Ho mang những nét đặc trưng tiêu biểu: một con người vừa mang trong mình một nỗi khát khao, cố gắng nỗ lực từng ngày để trở nên hoàn thiện hơn, đồng thời cũng là một con người mang trong mình một sự nhạy cảm, luôn biết nhìn ra những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa.

 

IV. THAY LỜI KẾT

Sống giữa một xã hội hiện đại, cùng với đó là việc trao đổi, giao lưu văn hóa giữa tộc người này với tộc người khác được diễn ra cách dễ dàng, đã ảnh hưởng không ít đến nếp sống của người Kơ Ho. Tuy nhiên, dù có biến động, ảnh hưởng gì đi chăng nữa thì với mọi người Kơ Ho, Luật tục vẫn luôn là một cái gì đó chi phối, ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc sống, cuộc đời của họ. Họ có thể tự hào về những nét đẹp của bộ luật nơi dân tộc mình.

Một bộ luật vừa mang chiều kích Thần Linh, hướng lên trên, nhưng đồng cũng mang chiều kính đối nhân và thiên nhiên, hướng ra ngoài. Những nét đẹp này chính là một điểm gặp gỡ chung giữa người Kơ Ho và người Kitô hữu. Vì với mỗi người Kitô hữu, để hình thành nên một con người, cần phải có Ân Sủng của Thiên Chúa, hướng thượng.

Đồng thời cũng cần phải có sự giúp đỡ, tương quan với những người chung quanh. Và cũng cần phải tôn trọng thiên nhiên chung quanh, ngôi nhà chung của tất cả mọi người, vì chúng cũng là những thụ tạo của Thiên Chúa, cùng với con người ca tụng Ngài. Điểm gặp gỡ này đã giúp cho hạt giống đức tin khi vừa mới được gieo vào vùng đất Tây Nguyên lập tức lớn lên và sinh hoa trái.

Mỗi người chúng ta mặc dù không phải là người dân tộc Kơ Ho nhưng chúng ta cũng luôn được mời gọi cộng tác để làm cho hạt giống đức tin này mỗi ngày được lớn lên, sinh hoa kết quả.

Cụ thể qua việc bảo vệ, khơi lên những nét đẹp truyền thống trong kho tàng của họ. Đây không chỉ là quyền nhưng đó còn là bổn phận của từng người Kitô hữu, những người đã được lãnh nhận hạt giống đức tin và nhiệm vụ mang hạt giống này gieo vào lòng thế gian như lời Đức Giêsu đã truyền: Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 16 – 20)

 

* Tài liệu tham khảo:

- Linh mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng, Phác họa chân dung dân tộc Kơho

- Linh Mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng, Phác Họa Chân Dung Dân Tộc Kơho, Chuyên Đề: Bộ Dân Luật Kơho

- Linh Mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng, Từ Điển Kơho  Việt

 



[1] Linh Mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng, Phác Họa Chân Dung Dân Tộc Kơho, Chuyên Đề: Bộ Dân Luật Kơho, Tr 18

[2] Theo từ điển Kơho của Cha Đaminh Nguyễn Huy Trọng: Pơnđik đó là nói, hát, ví, có vần, có điệu; nói ẩn dụ, ví von, ẩn ý,..nói ca dao. Danh từ có ý nghĩa: ca dao, tục ngữ, cách ngôn, thành ngữ...

[3] Linh Mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng, Phác Họa Chân Dung Dân Tộc Kơho, Chuyên Đề: Bộ Dân Luật Kơho, Tr 197

[4] Linh mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng, Phác Họa Chân Dung Dân Tộc Kơho, Chuyên Đề: Bộ Dân Luật Kơho, Tr 17

[5] Linh mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng, Phác họa chân dung dân tộc Kơho, Tr 378

[6] Theo Cha Jac ques Dournes, bộ luật của người koho gồm 9 chương 92 khoản

  Theo Cha Đaminh Nguyễn Huy Trọng, bộ luật này 4 chương 86 khoản

[7] Sơđèn : Vị thần trung gian duy nhất giữa người dân tộc Kơho và Thần linh

[8] Bản dịch, phác họa chân dung dân tộc koho tr 214

[9]  Linh Mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng, Phác Họa Chân Dung Dân Tộc Kơho, Chuyên Đề: Bộ Dân Luật Kơho, Tr 14

[10] Linh Mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng, Phác Họa Chân Dung Dân Tộc Kơho, Chuyên Đề: Bộ Dân Luật Kơho, Tr 34


NGƯỜI MÔN ĐỆ - Tập II