THEO CHÚA

 

SỨ VỤ VÀ HÀNH TRANG

NGƯỜI MÔN ĐỆ

(Gợi hứng từ bài giảng Chúa Nhật Truyền giáo 2020

của cha Giám Đốc Micae)

Antôn Nguyễn Đức Đường

 

Cuộc đời người môn đệ bắt đầu với lời mời gọi “hãy theo Ta” của Chúa Giêsu. Động từ “theo” hàm ẩn một tương quan, một hành trình, một sứ vụ, một sự dấn thân trọn vẹn. Hành trình thì phải có hành trang; vậy đâu là hành trang của người môn đệ trong hành trình này? Để trả lời cho câu hỏi này, trước hết ta phải cố gắng định vị sứ vụ của người môn đệ, nhưng sứ vụ này phải được nhìn trong mối tương quan với Thầy mình. Một khi đã xác định được sứ vụ người môn đệ trong mối liên hệ biện chứng với Thầy ta sẽ biết được hành trang cho sứ vụ đó là gì bởi lẽ có biết mình đi đâu, làm gì thì mới biết phải chuẩn bị ra sao và mang theo điều gì.

Chúng ta thấy hình ảnh người môn đệ đã hiển hiện ngay từ những trang đầu Tin Mừng. Nếu cần một cái nhìn chính xác về chân dung người môn đệ, có lẽ nên lấy nhóm Mười Hai làm chuẩn, vì họ là những người gần gũi với Đức Giêsu, những người đúng chất môn đệ hơn cả. Maccô mô tả vắn gọn nhóm này như sau: “Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (Mc 3,13-15). Trước hết họ là những người được gọi theo ý muốn của Đức Giêsu, đã đáp lại tiếng gọi để đến với Người, để ở với Người và để được sai đi rao giảng. Như vậy có thể thấy được sứ vụ của nhóm là đi rao giảng với quyền trừ quỷ. Thật lạ lùng, đây cũng chính là sứ vụ của Đức Giêsu khi Người xuất hiện công khai: “Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa” (Mc 1,14); rồi Người cũng đã đoan quyết sứ vụ đó với các môn đệ: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó(Mc 1,38). Và Người đã sai họ đi thi hành sứ vụ này lúc Người còn tại thế (x. Mc 6,7-13; Mt 10, 5-15; Lc 9,1-6) cũng như trước khi về trời (x.Mc 16,15-18).

Sứ vụ rao giảng này nơi Đức Giêsu cũng như nơi các môn đệ có thể quy về hai điều này: nội dung lời rao giảng là Nước Trời và đối tượng của sự rao giảng là cho người khác. Như thế, sứ vụ này không hề quy về bản thân người được sai đi nhưng hoàn toàn hướng lên Thiên Chúa cũng như mở ra với tha nhân. Sứ vụ đó là một sự trao ban hoàn toàn, và đã được diễn tả cách tuyệt hảo nơi Đức Giêsu. Và nếu đẩy vấn đề xa hơn nữa, chúng ta sẽ thấy rằng bản chất cũng như đặc tính của sứ vụ nơi người môn đệ phải họa lại chính cuộc đời Thầy mình: sống trọn vẹn cho Thiên Chúa và trọn vẹn cho con người. Thậm chí có thể nói một cách mạnh mẽ rằng các ông đang được tham dự vào chính sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu Kitô. Các ông không chỉ mang trên vai vận mệnh của mình, nhưng còn là vận mệnh của biết bao con người, và ngay cả vận mệnh của Thầy mình (bởi lẽ chính Người đã ký thác gia sản của Người cho các ông). Sứ vụ đó chứa đựng một tin mừng trọng đại mà người môn đệ phải hô vang như các thiên thần đã reo vui loan báo: “Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em” (Lc 2,10-11).

Trong sứ vụ cao cả này, đâu là hành trang? Việc sai đi rao giảng được cả ba Tin Mừng nhất lãm thuật lại, và trong đó chứa đựng những chỉ thị quan trọng của Đức Giêsu dành cho người môn đệ và cảnh báo cho các ông biết hiểm nguy của sứ vụ: “Thầy sai các con đi như chiên đi vào giữa bầy sói” (Lc 10,3). Điều khó hiểu là dù hiểm nguy, khó khăn nhưng Đức Giêsu lại đưa ra cho các ông một danh sách các điều “không”: không mang gì đi đường, không được mang lương thực, không bao bị, không tiền đồng để giắt lưng, không được mặc hai áo.  Danh sách “các không” này muốn nói điều gì? Người muốn các môn đệ phó thác vào quyền năng của Người ư? Đúng vậy. Người muốn các ông được nhẹ nhàng thanh thoát mà thi hành sứ vụ ư? Chính xác. Người muốn các ông quên mình (nghĩa là quên các nhu cầu của mình) để phục vụ Nước Trời và tha nhân ư? Vâng. Nhưng còn gì nữa? Người còn muốn nói với các ông điều gì đây? Ẩn đằng sau các “điều không” nổi bật lên một cái có và chính điều đó mới là nhắn nhủ quan trọng nhất: hành trang duy nhất, một hành trang không còn nằm trên bình diện tùy phụ (có thì tốt mà không thì cũng chẳng sao), nhưng thuộc bình diện yếu tính (người môn đệ buộc phải có, nếu không có thì không còn là môn đệ nữa). Hành trang đó được Đức Giêsu diễn tả bằng một tính từ sở hữu “của các con”, và đó chính là “sự bình an” (x.Lc 10,6). Điều này làm vọng lại lời ngôn sứ Isaia khi ông gọi người rao giảng tin mừng là người công bố bình an (x.Is 52,7).

Nhưng “bình an” là gì? Phải chăng đó là một sự an toàn khỏi mọi hiểm nguy? Không phải vậy, bởi lẽ chính các môn đệ sẽ là những người đổ máu ra để minh chứng cho lời rao giảng của mình. Hãy để thánh Phaolô trả lời câu hỏi này cho chúng ta, bởi chính thánh nhân là một môn đệ đích thực đã ra đi rao giảng cho muôn dân. Ngài nói: “Chính Đức Giêsu Kitô là bình an của chúng ta” (Ep 2,14) và cũng chính Người đã đến loan Tin Mừng bình an” (Ep 2,17). Quả vậy, trong Cựu Ước, khi loan báo về Đấng Cứu Thế, các ngôn sứ đã gọi Người là “thủ lãnh hòa bình” (Is 9,5) vì chính Người đem lại hòa bình (x.Mk 5,4). Và khi Người giáng trần, các sứ thần đã loan báo rằng bình an đã được trao ban cho loài người (x.Lc 12,14). Rồi khi tại thế, Người cũng đã hứa trao ban bình an – một thứ bình an không như của loài người – cho các môn đệ (x.Ga 14,27). Sự hiện diện của Người sau phục sinh đi đôi với lời chúc bình an (x.Ga 20,19.26). Do đó, bình an mà người môn đệ mang nơi mình là chính Đức Giêsu Kitô – là Thầy và là Chúa của họ. Như vậy, một khi người môn đệ đã được sai đi thi hành sứ vụ của Đức Giêsu, thì họ cũng phải có Người là hành trang, một hành trang không tách rời, cũng không ai có thể lấy mất, bởi lẽ hành trang này không còn ở bên ngoài, nhưng đã thuộc về căn tính của người môn đệ. Họ không còn là mình, nhưng có Đức Kitô sống trong mình (x.Gl 2,20). Đó là hành trang mà họ sẽ mang theo và tặng cho tha nhân?

Từ những điều chúng ta đã nói ở trên, chúng ta phải đi tới kết luận rằng cuộc đời người môn đệ, xét cho cùng, chỉ có ý nghĩa khi đặt trong mối tương liên với Thầy, vì không thể có người môn đệ mà không có Thầy hay ngoài tương quan với Thầy – một tương quan mật thiết đến nỗi nên một với Thầy và mang nơi mình sứ vụ của Thầy. Nhưng còn hơn thế nữa, người môn đệ phải biết rằng Đức Giêsu không trao ban điều gì khác ngoài chính bản thân Ngài, vì Ngài là điều mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người (x.Ga 3,16). Theo ngôn ngữ của Phaolô mà chúng ta đề cập ở trên thì Đức Giêsu vừa là bình an (x.Ep 2,14), vừa là Đấng trao ban bình an (Ep 2,17). Như vậy, nơi Đức Giêsu hữu thể và sứ vụ là một; hay nói cách khác, hiện hữu là sứ vụ[1]: hiện hữu cho con người và vì con người. Nếu đem áp dụng vào điều vừa suy tư, chúng ta sẽ thấy rằng người môn đệ đích thực cũng được mời gọi trở nên một hiện hữu hoàn toàn khai mở. Nếu chỉ dừng lại ở đây, ta sẽ nhận thấy rằng ơn gọi là ân ban nhưng cũng là một nhiệm vụ, một trọng trách. Chính thánh Phaolô khi cảm nhận về ơn gọi và đòi hỏi kèm theo cũng đã phải thốt lên: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9, 16).

Chúa Giêsu biết điều đó, nên ngay từ đầu Ngài đã ban nhiều ân huệ khác để nâng đỡ các môn đệ: được ở cùng Ngài, được dạy dỗ riêng, được ơn hiểu các dụ ngôn, chứng kiến các phép lạ. Và trên hết, Ngài đã ban cho các ông một lời hứa ngay từ lúc khởi đầu ơn gọi: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1,17). Động từ “làm” quy gán tác nhân chính yếu cho Chúa và gợi ra một sự sáng tạo trong tự do và tình yêu, về cả hai phía: trong tình yêu, Thiên Chúa tự do kêu gọi và cũng trong tình yêu mà con người tự do đáp trả lời mời gọi đó.

Như vậy, sứ vụ của người môn đệ là ra đi rao giảng Tin Mừng, với hành trang là Đức Kitô nơi mình, trong tư cách là một alter Christus – một Kitô khác.

Người môn đệ hôm nay cũng được mời gọi lãnh nhận cùng một sứ vụ và hành trang đó. Chính Giáo Hội, vì ý thức bản chất truyền giáo nơi mình và nơi người sứ giả Tin Mừng, đã vạch ra con đường đào tạo các linh mục: từ người môn đệ (giai đoạn triết học) tiến lên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô (giai đoạn thần học), để họ có thể ra đi thi hành sứ vụ của chính Đức Kitô. Định hướng đào tạo đó hình thành một trục thống nhất nơi người ứng sinh, xoay quanh một ưu tư duy nhất như thánh Phaolô đã từng nói: “hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá  (1Cr 2,2). Sự thống nhất đó giúp người môn đệ không bị cuốn trôi giữa dòng đời, đồng thời giúp họ nối kết các môn học trong những chiều kích đào tạo.

Kinh nghiệm về sự yếu đuối, hèn mọn nơi bản thân mỗi người chúng ta như một tiếng nói phản kháng chống lại lời mời gọi cao quý của Chúa. Những lúc đó, hãy tin Chúa ban ơn đủ cho ta (x.2Cr 12,9) và đối với Chúa không gì là không thể (x.Lc 1,37) miễn là ta dám cộng tác và để Chúa hành động.

 



[1] Để hiểu thêm điều này, xin xem ĐGH Bênêđictô XVI, Đức tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay, bản dịch của Lm. Athanasiô Nguyễn Quốc Lâm và Phạm Hồng Lam, Nxb Tôn Giáo, 2009, trang 211-214.


NGƯỜI MÔN ĐỆ - Tập II