TÌM LẠI MÌNH

Nguyễn Hoàng Anh Linh

 

 

Còn Đức Giê-su, thì Ngài đi ra núi Cây Dầu. Vừa rạng đông, Ngài đã vào lại đền thờ, và toàn dân đến với Ngài. Và ngồi xuống, Ngài giảng dạy cho họ. Ký lục và Biệt phái dẫn đến một phụ nữ ngoại tình và bắt quả tang, và bắt đứng giữa đám. Họ nói với Ngài: “Thưa Thầy, phụ nữ ngoại tình này bị bắt tại trận. Trong lề luật, Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà như thế. Vậy Thầy dạy sao?”. Họ nói thế với chủ ý cho Ngài mắc bẫy, để làm sao có cớ để bắt tội Ngài. Còn Đức Giê-su, thì Ngài cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Bởi họ cố riết hỏi Ngài, thì Ngài ngẩng lên và bảo họ: “trong các ông, ai vô tội thì hãy ném đá trước hết người này đi!”. Rồi Ngài lại cúi xuống viết trên đất. Họ nghe thế rồi, thì kẻ trước người sau họ rút lui hết, các kẻ cao nhân dẫn đầu, mà để lại một mình Ngài, và phụ nữ kia đứng ở giữa. Ngẩng lên, Đức Giê-su nói với người ấy: “Bà kia, họ đâu rồi? Không ai xử tội ngươi sao?”. Người ấy đáp: “Thưa Ngài, không ai cả!”. Đức Giê-su lại nói: “Ta cũng không xử tội ngươi đâu! Đi đi! Và từ nay đừng phạm tội nữa!”. (Ga 8, 1-11)

Đoạn Tin Mừng theo thánh Gioan thuật lại việc xử án người phụ nữ bị bắt quả tang đang ngoại tình. Những người lên án cũng như những người có quyền xét xử là những người kinh sư và Pharisêu đã dẫn người phụ nữ này đến với Chúa Giê-su. Lúc đó, Người đang giảng dạy dân chúng trong đền thờ. Họ xin ý kiến của Người để có bằng chứng mà tố cáo Người. Người không dùng uy quyền để bảo vệ người phụ nữ ngoại tình. Người cũng không bác bỏ quyền ném đá của dân chúng, Người chỉ đưa ra lời khuyên: “ai vô tội thì hãy ném đá trước hết người này đi”. Họ dần buông tay bỏ về và chẳng còn ai ở lại để chứng kiến việc Chúa Giêsu tha thứ cho người phụ nữ cả.

Bức tranh toàn cảnh bài Tin Mừng này đã vẽ nên bốn khuôn mặt nổi bật mang bốn thân phận khác nhau. Hình ảnh những người kinh sư và Pharisêu: một mặt thì đại diện cho những người có uy quyền, đạo đức, lãnh đạo con dân Do Thái; mặt khác thì lo sợ bị lật đổ bởi chính giáo lý mới của Đức Giêsu; họ lại đang tự đắc vì đã có chất liệu để tố cáo về giáo lý mới của Người, đó là người phụ nữ này.

Hình ảnh người phụ nữ phạm tội: có thể là một ả đào có sắc, mùi hoa xen lẫn mùi men; khuôn mặt xấu hổ có thể đã chai lì theo năm tháng, nhưng có thể đây là một trong những lần đầu tiên đôi mắt của chị khóc thật cho chính số phận đen tối của mình. Hình ảnh Chúa Giêsu đang say sưa giảng dạy cho dân chúng, bất chợt buồn rầu vì những sự thể mà cả người lên án lẫn người bị lên án mang đến cho Người. Hình ảnh dân chúng có thể là đang say mê nghe giảng nhưng bị rối loạn vì sự kiện người phụ nữ ngoại tình này. Họ có ngồi yên để lắng nghe vụ xử án chăng? Hay là họ liền đi kiếm cho mình những hòn đá để kết án người phụ nữ kia? Nếu là chúng ta, trước mặt Đức Giêsu, chúng ta đang đứng ở đâu?

Cả bốn khuôn mặt này đều đang đứng ở một vị trí chung trong bức tranh, đó là trên mặt đất. Thế nhưng, có mấy ai biết được rằng họ đang đứng trên mặt đất hay là đang đứng ở đâu? Đức Giêsu vừa mang bản tính Thiên Chúa, vừa mang bản tính con người. Mặt đất không đủ chỗ để Người ghé qua, nhưng Người đã hy sinh dìm mình vào thế gian để cứu độ nó. Có ai đo được khoảng cách từ ngai vàng của Người tới “chuồng bò” ở Bê-lem là bao nhiêu? Hơn ai hết, Đức Giêsu biết mình đang đứng ở đâu và để làm gì! Còn người phụ nữ bất hạnh kia, chúng ta không biết quá khứ ngoài tội của chị. Chị cũng được sinh ra trên mặt đất, lớn lên trên mặt đất và bây giờ, chị đang bị vướng mắc trong vũng lầy đen tối của tội lỗi. Chắc chắn qua biến cố thập tử nhất sinh này, chị biết mình là ai và đang đứng ở đâu một cách rõ nhất.

Còn những người Pharisêu và kinh sư, họ cũng là những con người được sinh ra trên mặt đất, lớn lên trên mặt đất. Thế nhưng, họ có biết họ đang đứng trên mặt đất? Những tua áo dài, những thẻ kinh rộng, những công việc bố thí giữa ngã tư đường, những điều luật truyền thống tự suy diễn, những lần ăn chay cả vàn thiên hạ biết,… liệu có làm cho họ biết chính xác họ đang đứng ở đâu? Hay những phương tiện đó lại là những bậc thang giúp họ có thể đứng ở trên đầu trên cổ người khác? Họ đang cố dấn thân hay họ đang cố kéo mình ra khỏi bản chất của mình? Còn đám dân chúng tội nghiệp kia, có mấy ai ý thức được mình đang đứng ở đâu? Ở dưới đế giày của những người kinh sư và Pharisêu hay đang ở dưới bùn đen?

Trái lại, với Đức Giêsu, Ngài biết rõ mình là ai, không có một sự kiện nào hay một hành động nào có thể làm cho Ngài mất đi như Ngài đã là và luôn là. Ngài là mục tử nhân lành, người không bao giờ bỏ rơi đoàn chiên của mình. Người luôn sẵn sàng lên đường tìm kiếm những con chiên lạc, và khi tìm được Ngài vác chúng trên vai mang về đàn.

Còn những con chiên lạc ấy, chúng có thực sự biết chúng là ai? Có mấy ai biết mình là người con phạm tội để được Đức Giêsu tha thứ như người phụ nữ ngoại tình này? Hay chúng ta cứ để cho số phận mặc nhiên định nghĩa con người chúng ta mà không cần biết Thiên Chúa là Cha và chúng ta là con của Người? Hay chúng ta cứ ham mê chạy theo những thói lề đạo đức giả tạo của thế gian – danh, lợi, tiền bạc - kiến thức để cố đứng lên đầu lên cổ người khác và để cố quên đi mình là ai như những người Pharisêu và kinh sư? Liệu có phải khi chúng ta ham mê một thứ gì đó, khi chúng ta làm nô lệ cho một thứ gì đó, chúng ta đánh mất chính mình trong đó, chúng ta có bán thân mình cho nó rồi chăng? Chúa cúi xuống đến bên con người, ôm nó lên khỏi đống bùn nhơ hôi thối của tội lỗi bằng giá máu. Thế nhưng chúng ta cũng muốn được nâng lên cùng với họ hay chúng ta còn cố gắng đạp họ xuống sâu hơn nữa? Chúng ta lấy quyền gì để kết án anh em? Kiến thức ư? Đạo đức ư? Khiêm nhường ư? Gánh tội thiên hạ kéo giãn lồng ngực Chúa trên thập giá còn chưa đủ nặng hay sao?

 Những con người trên mặt đất thì bị giới hạn bởi chính mặt đất và dùng những lề luật của mặt đất mà giới hạn nhau. Luật của Môsê là luật do Thiên Chúa viết ra để mưu ích cho con người chứ không phải là để chèn ép con người. Đáng tiếc thay, con người đã lợi dụng những điều luật đó như luật của mặt đất để sát phạt nhau. Họ học luật, họ nắm luật, họ sống luật cách công khai. Họ được mọi người kính phục và được coi như là thầy dạy luật. Một cách tự nhiên, họ cho mình quyền dùng luật để kết án người khác. Thay vì dùng luật để nhắc nhở, nâng đỡ, bảo vệ và khuyên răn con người, họ lại lạm dụng luật đó như một thứ công cụ để chì chiết con người. Họ tự hào vì mình giữ luật, mình thay mặt công lý, dùng luật để trừng trị những bọn dân đen phạm tội.

Thế nhưng, họ lại không tự hào vì những người ăn năn phạm tội đã sám hối, họ không tự hào vì những con người trở lại hay được chữa lành mà họ càng ganh ghét và muốn hạ bệ những kẻ hèn yếu. Họ xem luật như là một thứ của cải để họ có thể ích kỷ với mọi người. Họ xem luật như là một thứ tài sản riêng mà chỉ mình họ mới được có. Họ chẳng nể Đấng làm ra luật và họ cũng khinh thường những người chưa biết luật. Họ đã bán thân mình cho luật, họ coi mình chính là luật và họ có quyền kết án bất cứ ai lỗi phạm đến luật.

Đức Giêsu đến không phải là để bãi bỏ lề luật mà chính Người đã viết ra nhưng là để kiện toàn nó. Người không biến nó thành một thứ logic “phạm” rồi “phạt” cứng ngắc. Nhưng Người thêm vào logic đó “phạm”-“phạt”-“tha” và “yêu”. Đôi khi chữ “phạt” bị đóng dấu ngoặc đơn bởi lòng bao dung của Thiên Chúa và sự trở về của hối nhân. Nếu chỉ dùng luật để kết án thì nạn nhân chỉ có một con đường duy nhất để đi là tiến về phía tương lai của hậu quả do những nguyên nhân trong quá khứ đã làm. Nhưng nếu dùng luật mới là luật của tình yêu, mọi chuyện sẽ khác hoàn toàn.

Không một linh hồn nào mà không cần đến hạnh phúc, kể cả những linh hồn xấu xa nhất. Hạnh phúc lại bắt nguồn từ tình yêu. Khi đối diện với tình yêu, chúng ta hạnh phúc bởi vì mình yêu và được yêu, chia sẻ và được chia sẻ. Nhưng khi ta yêu người mà mình yêu quý nhất trên đời, người mà yêu ta hơn bao giờ hết, người mà hy sinh tất cả vì ta, chúng ta có bao giờ nghĩ rằng chúng ta có đủ xứng đáng để được người đó yêu như vậy? “Cái tôi” của tôi có xứng đáng với tình yêu đó không? Luật phán chúng ta là tội nhân thì chúng ta phải là tội nhân. Nhưng tình yêu không phán chúng ta là tội nhân mà nó giúp chúng ta nhận ra chính mình là tội nhân, nó giúp chúng ta nhận ra sự thực của chính bản thân “cái tôi” của mình. Luật phán chúng ta là kẻ có tội, cuộc đời chúng ta là một tội phạm. Nhưng luật của tình yêu không chỉ giúp chúng ta phản tỉnh chính mình như tội nhân mà còn vươn xa hơn nữa, nó giúp mình biết ý thức để trở về với chính mình, và luật của tình yêu còn biến chúng ta thành người yêu của Thiên Chúa chứ không phải là một thứ tội nhân xấu xa và ô uế phải vứt bỏ.

Người phụ nữ ngoại tình trong bài Tin Mừng là người được tác động để phản tỉnh chính mình nhiều nhất và rõ nhất. Tưởng chửng như ngày bị kết phải là ngày đau khổ nhất của chị. Thế nhưng, với tình yêu của Đức Giêsu, ngày đau khổ đã trở thành ngày hạnh phúc nhất của chị, không phải bởi vì chị thoát chết, nhưng bởi vì chị biết mình là ai? Và chị biết Đấng đang đứng với mình là ai? Còn chúng ta là ai? Chủng sinh là gì? Trong con mắt của Chúa, tôi thực sự là ai và tôi có đúng là như vậy không?

Cuộc sống mưu sinh xô bồ ngày nay thực không dễ dàng để cho con người đi tìm về chính mình. Một con người thực sự là chính mình khi họ có được sự hạnh phúc chân chính. Nhưng có quá nhiều lý do để khiến họ khỏi bận tâm về hạnh phúc thực sự bên trong mình. Họ cố gắng tìm mọi cách để leo lên ngọn tháp giá trị vật chất trong cộng đồng; họ tự hào và cảm thấy hạnh phúc về những cố gắng và tài năng của họ. Nhưng ngọn tháp đó quá dễ dàng sụp đổ. Vì lẽ, nền móng của nó dựa trên những giá trị quá yếu, không phải trên “nền đá” chân lý đích thực.

Để bắt đầu xây dựng một căn nhà hay một ngọn tháp, chúng ta phải bắt đầu dựng cột móng trên nền đá để xây dựng hạnh phúc đích thực cho chính mình. Thiết nghĩ không có nền móng nào vững chắc hơn “Tám mối phúc”. Để tìm về chính mình, trước hết ta hãy suy nghĩ về mối phúc đầu tiên: có một tinh thần nghèo khó. Tội nguyên tổ xuất phát từ lòng kiêu ngạo. Kiêu ngạo làm chúng ta ảo tưởng về bản thân. Nói cách khác, sự kiêu ngạo không cho ta nhìn nhận ra: mình là ai? tôi đang ở đâu? Câu trả lời thực nhất có lẽ là lúc mà ta cảm thấy yếu lòng nhất (người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng, David lúc phạm tội, Saolo trên đường Damas,…!). Lúc ta yếu lòng là lúc không còn sự kiêu ngạo nào che mất con người “trần trụi” của ta. Sự “nghèo khó” về tinh thần sẽ giúp ta tự rõ mình hơn hết.

Còn “lòng tham” sẽ khiến cho lòng ta phải dằn vặt luôn mãi bởi không bao giờ ta cảm thấy là đủ. Là con người, không ai không vướng tội. Thật vậy, chúng ta đều tự cảm thấy đau khổ về chính tội của mình. Sự đau khổ này lại là một mối phúc thứ hai. Nó giúp chúng ta ý thức được giá trị của hạnh phúc mà ta đã đánh mất bao lâu nay. Thiên Chúa luôn muốn cho con người hạnh phúc, nhưng để thực sự hạnh phúc một cách có ý nghĩa thì con người phải biết cách đau khổ. Đó là cách Chúa gieo niềm an ủi cho những người đang phải đối mặt với khổ đau. Phúc thay ai hiền lành!

Mối phúc thứ ba này nhắc đến mối tương quan của ta với người khác, với chính mình và với cả Chúa. Một khi ta đã hiểu chính mình trong mọi hoàn cảnh, ta mới có thể cảm thông cho người khác trong trạng huống của họ, từ đó ta mới có được một đời sống hiền lành. Ngay cả với bản thân, nếu ta không thể hiền lành với chính mình, ta cũng không thể hiền lành với người khác, thậm chí với Chúa nếu ta không có một cái nhìn xác tín về sự “hiền lành” của Ngài.

Sống công chính là một cách để chúng ta trở về với chính mình trong mối phúc thứ tư. Để biết mình đang là ai, đang đứng ở đâu, cần có một điểm quy chiếu để đối sánh. Điểm quy chiếu này phải là bất biến và là điểm chung cho tất cả mọi người. Mốc “lộ giới” này không đâu khác là nơi Chân Lý. Chỉ nơi đây, ta mới lượng được khoảng cách chính xác nhất và trung thực nhất. Khi ao ước được sống công chính, Chúa sẽ chúc phúc và làm cho ta được thỏa lòng, bởi hạnh phúc khi thực thi chân lý thì trường tồn.

Giữa bao cảnh đời lầm than, khi ta chứng kiến được những lòng thương cảm con người dành cho nhau, trong đó có ta, sẽ có lúc chúng ta nghĩ về lòng thương xót mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta. Lòng thương xót này được thể hiện rất rõ trong lời kinh Cám Ơn. Mối phúc thứ năm về lòng thương xót này cũng giúp ích rất nhiều cho ta trong việc suy nghĩ về cuộc đời của mình. Biết được mình cũng chính là biết được mình tội lỗi và yếu đuối. Biết được tội rồi phải biết thống hối và dốc lòng chừa, sau đó ta tìm hiểu nguyên nhân cám dỗ và chống lại nó. Khi ta biết chỗ yếu đuối của mình bị tấn công, ta sẽ chờ chực ở đó để chiến đấu. Khi tỉnh thức chờ chực, chúng ta sẽ dần chống lại được những cám dỗ và giữ cho mình có được một tâm hồn sạch sẽ. Mối phúc này sẽ giúp chúng ta được ngắm nhìn Đấng đang làm chủ con người của ta.

Khi con người chung sống với nhau, xích mích là một điều không thể không có, từ đó có thể gây nên nhiều điều đáng tiếc. Nhưng khi ta có thể giúp cho hai bên đối tượng có được một cái nhìn thấu hiểu lẫn nhau thì lòng xích mích sẽ bị đập tan. Khi đó, chúng ta được Thiên Chúa nhìn nhận như là con của Ngài. Đạo yêu thương mà chúng ta xác tín từ xưa đến nay luôn chịu bách hại rất nhiều. Tuy bị đàn áp như thế nhưng nó không thể làm chùn bước được những con người anh dũng đứng lên làm chứng. Điều gì làm cho họ hy sinh cả bản thân mình như thế? Họ được gì cho chính bản thân họ chăng? Chịu bách hại vì đạo không có nghĩa là chối bỏ chính bản thân xác thịt của họ. Nhưng họ biết chính con người của họ là do Thiên Chúa mà có chứ không phải tự mình mà có. Họ muốn dâng chính mình họ cho Thiên Chúa để được trở về với nguồn gốc của mình, nơi mà chính bản thân họ được làm một với Thiên Chúa, nơi mà họ phát xuất. Nơi đây họ thực sự là chính mình và không còn gì có thể che dấu họ được nữa. Việc hy sinh này còn là cách để họ làm chứng về Chân Lý, là nơi mà mọi con người cần phải xác định để quy chiếu bản thân mình về đó để tìm ra mình và nguồn gốc của chính mình.

Thay lời kết, xin được chia sẻ tư tưởng của thánh Augustinô trong việc nên thánh của ngài. Con đường tìm kiếm chân lý khôn ngoan của ngài là trở về với chính mình chứ không phải là một con đường nào đấy xuất hiện trên bản đồ: “Đừng tìm kiếm chân lý ở bên ngoài! Hãy quay trở về trong chính mình. Vì chân lý ở ngay trong chính nội tâm con người. (…) Trí năng con người chỉ có thể khám phá ra được chân lý chứ không tạo nên chân lý được”.[1] Chân Lý không chỉ hiện diện trong sâu thẳm thâm tâm con người, Chân Lý đã được mặc khải cho con người, hãy sống lời giảng của Người!

 



[1] Lm JB. Nguyễn Hữu Thy, Sứ Điệp Fatima (tái bản lần 4), trung tâm mục vụ CGVN, GP Trier, CHLB Đức, tr 371, trích De vera Religione 30, 70f.


NGƯỜI MÔN ĐỆ - Tập II