Nhân đánh dấu 95 năm thành lập Họ đạo Nicholas (10/5/1920-10/5/2015 ) - tiền thân Giáo xứ Chính tòa Đà Lạt. Xin trân trọng giới thiệu bài lược ghi của thầy Giuse Bùi Văn Tường, điểm lại 95 năm hình thành và phát triển của giáo xứ. - (Ban Truyền thông Giáo xứ Chánh Tòa - Đà Lạt)

 

GIÁO XỨ CHÍNH TÒA ĐÀLẠT: 95 NĂM THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN  1920 – 2015

 

1. Giáo điểm truyền giáo Đà-lạt :

- Ngày 21.6.1893, bác sĩ Yersin, cùng đoàn thám hiểm của ông (trong đó có Cha Robert, quản lý của Hội Truyền Giáo Paris – MEP – trụ sở đặt tại Singapore) khám phá ra Đà-lạt trên cao nguyên Langbian (Lâm-viên).

- Đầu năm 1900, Đà-lạt được người Pháp chọn làm nơi xây dựng một trung tâm nghỉ mát, sau đó phát triển thành thành phố.

- Cuối năm 1917, Đức Cha Lucien Mossard (Mão), Giám mục địa phận Tây Đàng Trong (Sài-gòn), có Cha Nicolas Couvreur (người kế nhiệm cha Robert) tháp tùng, từ Sài-gòn lên Đà-lạt, tìm địa điểm xây dựng một nhà nghỉ dưỡng cho các giáo sĩ. Năm 1918, Dưỡng Viện Giáo Sĩ được xây dựng, gồm một Nhà Nghỉ Dưỡng (nay là Nhà Xứ) được nối dài về phía cánh trái bằng một phòng lớn dùng làm Nhà Nguyện(nay là Phòng Truyền thống). Công trình hoàn tất vào đầu năm 1919. Với công trình này, Giáo Điểm Truyền Giáo Đà-lạt được thiết lập, đời Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XV (1914-1922). Vào thời điểm đó, ngôi Nhà Nguyện của Dưỡng Viện Giáo Sĩ là nơi thờ phượng duy nhất trên toàn miền Nam Tây Nguyên, trong đó có phần đất nay là giáo phận Đà-lạt. Tại đây, ngày 25.01.1919, Đức Cha Mão đã cử hành nghi thức ban Bí tích Thánh Tẩy đầu tiên cho một em bé người Việt nguy tử, tên thánh là Phê-rô (Sổ Rửa Tội quyển I, số 1) và ngày 13.6.1919, nghi thức ban Bí tích Hôn phối đầu tiên được cử hành cho đôi vợ chồng Mác-ti-nô Tri và An-na Kéc (Sổ Hôn Phối quyển I, số 1).

2. Họ đạo Đà-lạt :

 

3. Giáo xứ chánh toà :

 

4. Nhà thờ chánh toà Đà-lạt :

ü  nhà thờ có 70 cửa kính màu, trong đó 38 tấm có ảnh Chúa, Đức Mẹ và các Thánh,

ü  dài 65 thước, rộng 14 thước, tháp cao 47 thước (50 thước kể cả thánh giá và con gà cồ bên trên),- con gà cồ (dùng để chỉ hướng gió, cũng là biểu tượng của sự thống hối, theo Mt 26, 34.27, 75 – Mc 14, 30.72 – Lc 22, 34.23, 61-62 – Ga 13, 38.18,27), cao 0,58m, dài 0,66m, đã được đặt trên đỉnh thánh giá ngày 14.11.41  - 4 quả chuông trên tháp nhà thờ (quả lớn nhất nặng 415 kg, đánh nốt DO, quả thứ hai nặng 185 kg, đánh nốt MI, quả thứ ba nặng 120 kg, đánh nốt SOL, quả thứ tư nặng 117 kg, đánh nốt FA) đã được đưa từ nhà thờ cũ lên đặt ở độ cao 25m trên tháp nhà thờ mới, ngày 15.01.1942.

ü  24.4.1983 : Lễ xức dầu cung hiến, do Đức Cha Ba-tô-lô-mê-ô chủ sự.

ü  Từ đường PS : tầng hầm của nhà thờ được cải tạo thành Nhà Hài Cốt – khởi công : cuối năm 2001; làm phép và khánh thành (do Đức Cha Phê-rô) : 16 giờ 30, thứ Bảy, 16.02.2002.

 

5. Thánh Giám Mục NI-CÔ-LA, Bổn mạng giáo xứ :

          Ngày 17 tháng 02 năm 1924, khi làm phép khánh thành ngôi nhà thờ đầu tiên của họ đạo Đà-lạt (xem số 2 trên đây), Đức Cha Tôn (Victor Quinton) chấp thuận đề nghị của Cha sở Nicolas, nhận Thánh Giám Mục Ni-cô-la làm Bổn Mạng của nhà thờ và họ đạo mới Đà-lạt. Ngày 19 tháng 7 năm 1931, khi làm phép và đặt viên đá đầu tiên của ngôi nhà thờ thứ hai (nay là nhà thờ chánh toà), các vị chủ chăn cũng tái dâng hiến nhà thờ và họ đạo cho Thánh Giám Mục Ni-cô-la. Sau đây là đôi nét về Ngài :

          Sinh tại thành Myra trong nước Thổ-nhĩ-kỳ, năm 270, thánh Ni-cô-la được Đức GM Myra là cậu của ngài phong chức LM ở tuổi 33. Khi vị GM này qua đời, các GM vùng Tiểu Á đã bầu ngài lên kế vị…Ngài qua đời năm 343, thọ 73 tuổi, và được mai táng trong nhà thờ chánh toà Myra. Năm 1063, thành Myra cũng như toàn vùng Tiểu Á bị người Hồi giáo xâm chiếm. Hơn 50 năm sau, các thuỷ thủ người đảo Sicile (Ý) lấy được hài cốt của ngài và rước về thành phố Ba-ri, một thành phố cảng biển ờ mạn đông nam nước Ý, ngày 09.5.1087. Do đó mới có tên gọi là Thánh GM Ni-cô-la Ba-ri. Năm 1670, ngài được Đức GH Clê-men-tê X (1670-1676) tôn phong Hiển Thánh; lễ nhớ : ngày 06.12… Thánh Ni-cô-la đã được Chúa ban cho làm nhiều phép lạ giúp đỡ người nghèo khó bất hạnh. Ngài đặc biệt yêu thương thiếu nhi. Bởi đó có truyền thuyết về Ông Già No-en, được đồng hoá với Thánh Ni-cô-la.

 

6. Di cốt 9 Thánh Tử Đạo Việt-nam –“những người gìn giữ”nhà thờ Chánh tòa Đàlạt:

          Nơi cung thánh, dưới bàn thờ, có một khảm bạc lưu giữ thánh cốt của 9 Thánh Tử Đạo Việt-nam. Qua năm tháng, cùng với Thánh GM Ni-cô-la, các ngài  như là “những người gìn giữ”, bảo vệ ngôi nhà thờ và gia đình giáo xứ qua mọi gian nan thử thách. Danh sách các ngài xếp theo ngày kính nhớ như sau:

v   Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc, Linh mục, Giám đốc Chủng viện Thị Nghè Sài Gòn. Bị trảm quyết (tức chém đầu)

v  ngày 13-2-1859 tại Trường Thi, hưởng dương 29 tuổi, 2 năm linh mục. ĐGH Piô X phong Chân Phước ngày 2-5-1909. ĐGH Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19-6-1988.

v   Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu, Linh mục, Cha xứ Mặc Bắc, Sa Đéc, Mỹ Tho. Bị trảm quyết ngày 7-4-1861, hưởng dương 49 tuổi. ĐGH Piô X phong Chân Phước ngày 2-5-1909, ĐGH Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19-6-1988.

v   Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu, Trùm họ, ông Trùm họ Mặc Bắc, bị bắt ngày 28-2-1853, ông bị chết trong tù vì tuổi già sức yếu, hưởng thọ 64 tuổi. ĐGH Piô X phong Chân Phước ngày 2-5-1909, ĐGH Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19-6-1988.

v   Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm, thương gia, ông bị bắt và trảm quyết ngày 11-5-1847 tại Sài Gòn, hưởng dương 34 tuổi. ĐGH Piô X phong Chân Phước ngày 2-5-1909, ĐGH Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19-6-1988.

v   Thánh Phi-líp-phê Phan Văn Minh, Linh mục, linh mục rao giảng nhiều nơi ở vùng Tiền Giang, Hậu Giang. Ngày 26-2-1853 bị bắt khi ở nhà ông Trùm Giuse Lựu, tử đạo ngày 3-7-1853 tại Cái Sơn Bé, hưởng dương 38 tuổi, 13 năm linh mục. ĐGH Lêô XIII phong Chân Phước ngày 27-5-1900, ĐGH Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19-6-1988.

v   Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông), Trùm họ, ông giúp Đức cha Thể và nhiều linh mục ẩn trú tại nhà, bị tố cáo và bị bắt. Ông bị chết trên đường áp giải xuống Mỹ Tho ngày 17-7-1805, hưởng dương 55 tuổi. ĐGH Piô X phong Chân Phước ngày 2-5-1909, ĐGH Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19-6-1988.

v   Thánh Phê-rô Đoàn Công Quý, Linh mục, phụ trách Giáo họ Bầu Nước ở Cù Lao Giêng, An Giang. Cha bị trảm quyết tại Xóm Chà, cùng với Thánh Lê Văn Phụng ngày 31-7-1859, hưởng dương 33 tuổi, 1 năm linh mục. ĐGH Piô X phong Chân Phước ngày 2-5-1909, ĐGH Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19-6-1988.

v   Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện, Chủng sinh, Chủng sinh chủng viện Di Loan, Quảng Trị. Bị xử giáo thắt cổ ngày 21-9-1838 tại làng Nhan Biểu, Quảng Trị. Hưởng dương 18 tuổi. ĐGH Lêô XIII phong Chân Phước ngày 27-5-1900, ĐGH Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19-6-1988.

v   Thánh Si-mon Phan Đắc Hoà, Y sĩ,  ông cho các linh mục Thừa Sai trú ẩn tại nhà mình. Bị bắt ngày 13-4-1840 trên thuyền Đức cha Motte. Bị áp giải về Huế và bị trảm quyết ngày 12-12-1840. Hưởng thọ 66 tuổi. ĐGH Lêô XIII phong Chân Phước ngày 27-5-1900, ĐGH Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19-6-1988.

 

7. Tổ chức giáo xứ : Các Giáo họ & Giáo sở:

 Trong quá trình phát triển của họ đạo Thánh Ni-cô-la, nay là giáo xứ chánh toà Đà-lạt, từ cuối thập niên 1960 của thế kỷ trước, đã hình thành những đơn vị trực thuộc (giáo họ  và giáo sở) sau đây :

§  Giáo họ Gioan Bao-ti-xi-ta, khu vực đường Nhà Chung, Xuân-an.

§  Giáo họ Giu-se thợ, khu vực đường Đào-Duy-Từ, dốc Nhà Bò.

§  Giáo họ Ki-tô Vua, khu vực trung tâm thành phố, khu Hoà-Bình.

§  Giáo họ La-vang, khu vực đường Yersin, Nha Địa Dư.

§  Giáo họ Mân Côi, khu vực đường Hà-Huy-Tập.

§  Giáo họ Mẹ Vô Nhiễm, khu vực đường Phan-Đình-Phùng.

§  Giáo họ Mông Triệu, khu vực đường Phạm-Hồng-Thái, ga xe lửa.

§  Giáo họ Pha-ti-ma, khu vực thư viện thành phố, đường Trần-Phú và Phạm-Ngũ-Lão.

§  Giáo họ Si-mon-Hoà, khu vực đường Lê-Hồng-Phong và Triệu-Việt-Vương.

§  Giáo họ Thánh Gia, khu vực đường Trần-Phú.

§  Giáo họ Thánh Linh, khu vực đường 3 - 4, Trần-Hưng-Đạo và Đặng-Thái-Thân.

§  Giáo họ Tử Đạo, khu vực đường Hồ-Tùng-Mậu và Lê-Đại-Hành.

 Ngoài 12 giáo họ trên đây, còn có 2 giáo sở trực thuộc giáo xứ, nhưng theo quy chế tự quản :

o   Giáo sở Don Bosco, do các LM dòng Salésien Don Bosco quản nhiệm, nhà nguyện ở số 4G đường Bùi-Thị-Xuân.

o   Giáo sở Thánh Tâm, do các LM Tu hội Truyền giáo Vinh-sơn (Lazaristes) quản nhiệm, nhà nguyện ở số 40 đường Trần-Phú.

 

8. Các Cộng đoàn tu sĩ trong địa bàn Giáo xứ:

v  Cộng đoàn Lasan, Tư thục dạy nghề, đt: 01292834369, địa chỉ: Triệu Việt Vương, F.4, Đà Lạt

v  Cộng đoàn Mến Thánh Giá Đà Lạt, đt: 0633821561, địa chỉ: 253 Phan Đình Phùng, F.2, Đà Lạt.

v  Cộng đoàn Mến Thánh Giá Gò Vấp, đt: 0633821523, địa chỉ: 26 Bà Triệu, F.4, Đà Lạt.

v  Cộng đoàn Mến Thánh Giá Thủ Đức, đt: 0633826633, địa chỉ: 39/3 Hồ Tùng Mậu, F.3, Đà Lạt.

v  Cộng đoàn Mến Thánh Giáo Thủ Thiêm, đt: 0633821869, địa chỉ: 38 Thủ Khoa Huân, F.1, Đà Lạt.

v  Cộng đoàn Phaolô, đt: 0633822671, 20 Trần Phú, F.3, Đà Lạt.

v  Cộng đoàn Phaolô Thiện Bản. đt: 063356178, địa chỉ:4/19A Đào Duy Từ, F.4, Đà Lạt.

v  Cộng đoàn Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, đt: 0633827438, địa chỉ: 21/8 Trần Phú, F.3, Đà Lạt.

v  Cộng đoàn Tiểu Muội Đà Lạt, đt: 0633823471, địa chỉ: 15 Trần Phú, F.3, Đà Lạt.

v  Cộng đoàn Nữ Tỳ Chúa Thánh Thần, đt: 0633821205, địa chỉ: 23 Nguyễn Văn Cừ, F.1, Đà Lạt.

 

9. Những người con của giáo xứ Chánh toà trong đời thánh hiến :

Trong lịch sử 95 năm xây dụng và phát triển của mình, họ đạo Đà-lạt đã dâng hiến cho Giáo Hội 61 người con trong hàng giáo phẩm, giáo sĩ và tu sĩ :

ü  Đức Hồng Y Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám Mục Hà-nội : sinh ngày 01.4.1938, LM 21.12.1967, GM 03.12.1991, TGM 13.5.2010, HY 14.02.2015.

ü  Đức Cha  Phao-lô Bùi Văn Đọc, Tổng Giám Mục Sài-gòn : sinh ngày 11.11.1944, LM 17.12.1970, GM 20.5.1999, TGM 22.3.2014.

ü  Đức Cha Giu-se Võ Đức Minh, Giám Mục Nha-trang : sinh ngày 10.9.1944, LM 24.4.1971, GM 15.12.2015.

 

10. Các Linh mục coi sóc giáo xứ hiện nay :

          Hiện nay, giáo xứ chánh toà Đà-lạt được các Linh mục sau đây coi sóc :

v  Quản xứ (xin xem mục số 3 trên đây) : Cha Phao-lô LÊ ĐỨC HUÂN, sinh ngày 29.7.1945, LM 19.12. 1972, về xứ ngày 28.11.2005 - [Cha Phao-lô cũng là Tổng Đại diện giáo phận, kiêm Quản hạt Đà-lạt], ĐT: 0633500805.]

v  Các Cha phó:

§  Cha Giu-se ĐINH TẤN HOÀI, sinh ngày 06.02.1972, LM 29.9.2005, về xứ năm 2011, ĐT: 01633116083.

§  Cha Grê-gô-ri-ô NGUYỄN AN PHÚ ĐÔNG, sinh ngày 18.3.1968, LM 27.9.2007, về xứ năm 2011, ĐT: 0912508834.

§  Cha An-rê PHẠM VIỆT SƠN, sinh ngày 24.6.1975, LM 18.10.2011, về xứ năm 2011, ĐT: 0633706268.

 

11. Hội Đồng Giáo xứ :

Hội Đồng Giáo xứ, nhiệm kỳ 2013 – 2017, được bầu ngày 27.01.2013, gồm có :

·         ĐT:0633702969

§  ĐT: 0913639799

 

Giuse Bùi văn Tường

 

 


Hạt Đàlạt