Năm Thánh 2010
Tài Liệu Làm Việc Đại Hội
Dân Chúa Việt
(21 – 25.11.2010 )
LƯỢC ĐỒ TỔNG QUÁT
Dẫn nhập : Giới thiệu Tài Liệu Làm Việc của Đại Hội Dân Chúa
Chương 1. Mầu nhiệm
Giáo Hội Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt
Chương 2. Hiệp thông
Giáo Hội như dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp nhất giữa
con người với Thiên Chúa và giữa con người với
nhau
Chương 3. Sứ vụ
Giáo Hội Việt
PHẦN II. HƯỚNG ĐI MỤC VỤ
1. Củng cố mối hiệp thông giữa
tín hữu với Thiên Chúa
2. Hội nhập văn hóa
3. Phát huy sự hiệp thông và
tham gia trong đời sống Giáo Hội
4. Đào tạo nhân sự
5. Loan báo Tin Mừng trong
hoàn cảnh ngày nay
6. Công bằng xã hội và thực
thi bác ái
DẪN NHẬP
(1) Giáo Hội tại Việt Nam, tràn
ngập hân hoan trong Chúa Thánh Thần, cất vang lời ngợi khen Chúa Cha, Đấng đã
trao ban cho đoàn con của Ngài trên đất nước Việt Nam này ơn phúc nhận biết
Chúa Giêsu Kitô và mầu nhiệm khôn dò của Người (x. Pl 3,7-8. 10; Ep 2,8-9; Gl
4,8).[1]
Trong bối cảnh của Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thiết lập hai địa phận đại diện
tông tòa đầu tiên và 50 năm thiết lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam, niềm vui lại
càng dâng cao trong tâm tình cảm mến tri ân khi nhìn lại những chặng đường lịch
sử đã qua và khám phá những hoa trái dồi dào từ đời sống đức tin kiên cường anh
dũng của bao thế hệ tiền nhân, nhất là của các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam.
Càng tri ân Thiên Chúa, Giáo Hội tại Việt Nam càng nhận ra mình còn nhiều thiếu sót đối với
tình yêu và lòng nhân hậu của Thiên Chúa (x. Tv 50). Tâm tình sám
hối xin dâng lên Thiên Chúa vì nhiều khi Giáo Hội
đã che khuất thay vì bày tỏ khuôn mặt đầy yêu thương của Ngài cho những người chung
quanh, đồng thời chân thành xin lỗi mọi người vì đã chưa yêu mến và phục vụ con
người như Chúa Kitô mong đợi. Với thái độ khiêm nhường xin ơn tha thứ và ơn
thánh hóa để luôn là Hiền Thê tinh tuyền của Chúa Kitô (x. Ep 5,26) và trở nên Thánh
Đô mới của Thiên Chúa (x. Kh 21,9-14), Giáo
Hội tại Việt Nam ước mong thực hiện cuộc đổi mới trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa toàn năng và giàu lòng thương xót, Đấng đang dẫn dắt lịch sử đến
chỗ viên thành.[2]
Nỗi thao thức canh tân chính
là động lực thúc đẩy Hội Đồng Giám Mục Việt
PHẦN I
NỀN TẢNG THẦN HỌC
CHƯƠNG I
MẦU NHIỆM
GIÁO HỘI
CHÚA KITÔ
GIỮA LÒNG
QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM
(2) Giáo Hội Công Giáo tại Việt
Nam luôn ý thức mình là Giáo Hội của Chúa Kitô, Đấng mãi mãi là đá tảng góc
tường, là nguồn mạch và cùng đích của căn tính cũng như hoạt động của toàn thể
cộng đồng tín hữu. Thật vậy, Giáo Hội được thiết lập không phải do con người tự
ý qui tụ, lại càng không phải do những xu thế hay động cơ chính trị, kinh tế
hay văn hóa. Giáo Hội được khai sinh do chính ý định ngàn đời của Thiên Chúa Cha, được hướng dẫn và tăng trưởng nhờ tin vào Chúa Kitô phục sinh và
trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần, qua
các mục tử hiệp thông với Đức Giáo hoàng.[4]
Giáo Hội hoàn toàn phát xuất từ Thiên Chúa, sống nhờ Thiên Chúa và hướng tới Thiên Chúa.
Với trọn niềm tin, cậy,
mến, đoàn tín hữu Việt Nam đã đón nhận Thiên Chúa tình yêu, đồng thời cũng
nhận lãnh sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu rỗi cho anh chị em đồng bào của mình.
Và trên quê hương Việt Nam, với một nền văn hóa đặc thù và độc đáo, gồm cả
những điểm mạnh và điểm yếu, cộng đoàn các môn đệ Chúa Kitô có trách nhiệm thể hiện
và thực hiện cuộc nhập thể của Giáo Hội duy Nhất, thánh thiện, công giáo và
tông truyền.[5]
Do đó, Giáo Hội tại Việt Nam chính là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của
tình yêu Thiên Chúa cho quê hương này,[6]
và Giáo Hội đồng hành với người dân Việt trong mọi thăng trầm của lịch sử cũng
như mọi nỗi niềm cuộc sống.[7]
1. Chiều Kích Ba Ngôi
trong Mầu Nhiệm Giáo Hội
(3) Các tín hữu tại Việt Nam
vẫn luôn xác tín Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, là Thân Mình Đức Kitô,
là Đền Thờ Chúa Thánh Thần, đồng thời cũng ý thức chính mình là thành phần, chi
thể và viên đá xây dựng Giáo Hội. Chính niềm xác tín và ý thức này đã là cơ sở
làm nảy sinh nhiều sáng kiến làm phong phú cho cuộc sống các kitô hữu Việt Nam.[8]
Dĩ nhiên những hình ảnh mang tính biểu tượng này chưa hẳn đã được mọi người
thấu triệt ý nghĩa, nhưng trong một mức độ nào đó, các tín hữu Việt Nam đã thể
hiện được những nội dung ấy của Giáo Hội trong nếp sống của mình, kể cả trong
những hoàn cảnh khó khăn và thử thách.[9]
Cách nào đó, có thể nói họ đã sống trước những điều Giáo Hội sẽ minh định trong
các văn kiện Công đồng.[10]
a. Dân Thiên Chúa
(4) Giáo Hội tại Việt Nam nhận
biết mình thuộc về dân tộc được Thiên Chúa qui tụ và thiết lập khi
ký kết giao ước mới và vĩnh cửu trong máu của chính Con Một Ngài. Trong đoàn
Dân Thiên Chúa, các tín hữu thật sự bình đẳng trong phẩm giá,
được chia sẻ cùng một ơn gọi làm con cái Thiên Chúa, có cùng một căn tính
Kitô hữu.[11]
Được thanh tẩy và mang ấn tín Chúa Thánh Thần, các tín hữu được thánh hiến cho Thiên Chúa (x. Ep 5,26), được tiếp nhận vào gia đình của Ngài (x. Ep 2,19),[12]
và được thừa hưởng mọi gia sản ân phúc (x. Rm 8,17; 9, 4-5). Là Dân Thiên Chúa, Giáo Hội nhất thiết phải thể hiện chiều kích cộng đoàn. Vì thế,
với ý thức mình phải là thành viên năng động, mỗi tín hữu, dù là giáo dân hay
giáo sĩ, đều nhiệt thành cộng tác vào các hoạt động của Giáo Hội tùy theo ơn
gọi và căn tính riêng của từng bậc sống.[13]
Tính cách đa dạng nơi các thành phần Dân Chúa được đón nhận như một ơn phúc làm
cho đời sống và sứ vụ của Giáo Hội càng thêm phong phú.
Trong ý định khôn ngoan
và nhân lành cùng với sự quan phòng kỳ diệu,
Thiên Chúa đã
chọn các môn đệ Chúa Kitô tại Việt Nam, cho gia nhập đoàn dân thánh “hăng say
làm việc thiện” (Tt 2,14; x. Ep 4,17-24; Cl 3,5-8) để thực hiện kế hoạch cứu độ
tất cả mọi người trên quê hương này. Trong hoàn cảnh lịch sử nhiều đổi thay của
dân tộc Việt Nam, các môn đệ Chúa Kitô luôn trung thành với niềm xác tín ấy và
nỗ lực sống đúng theo tư cách Dân Thiên Chúa, để từ đó, bằng nhiều
cách thức bổ sung cho nhau, họ cùng thực thi điều đã quyết tâm là sống và loan
báo Phúc Âm để phục vụ sự sống và sự phát triển toàn diện của tất cả mọi người.[14]
Ý thức về ơn gọi làm Dân Thiên Chúa sẽ giúp các tín hữu làm
chứng cho một Giáo Hội hiện diện trên đất nước này không như một nhóm người xa
lạ, hay như một cộng đồng tự cô lập theo một thứ chủ nghĩa chủng tộc hẹp hòi,
nhưng là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trao tặng dân tộc Việt Nam.[15]
b. Thân Mình Chúa Kitô
(5) Dân Thiên Chúa trong Tân ước còn được gọi là
Thân Mình Chúa Kitô, một hình ảnh tuyệt vời cho thấy rõ chiều kích mầu nhiệm của
Giáo Hội, được biểu hiện trong sự kết hợp bất khả phân ly với Chúa Kitô là nguyên
lý sống còn của Giáo Hội (x. 1 Cr 15, 3-14; Gl 1, 9). Chính Chúa Kitô “trong hy
tế thập giá, đã sinh ra Giáo Hội như Hiền Thê và Thân Thể của Người,”[16]
đã yêu thương cứu chuộc Giáo Hội bằng giá máu cực thánh (x. 1 Pr 1,19; 1 Cr
6,20), không ngừng thánh hóa và làm cho Giáo Hội nên một với mình, và trao ban
chính Thịt Máu mình cho Giáo Hội (x. Ep 5,25, 35; 1 Cr 12, 27). Như thế, bí
tích Thánh Thể chính là trái tim của Nhiệm Thể, là “nguồn mạch và chóp đỉnh của
đời sống và sứ vụ của Giáo Hội.”[17]
Sống nhờ Thánh Thể và sống
trong Nhiệm Thể, mỗi tín hữu phải làm tăng triển mối tương quan của từng người
với Chúa Kitô là Đầu, đồng thời cũng phải làm sinh động mối tương quan giữa các
chi thể với nhau trong tình bác ái, yêu thương. Trong các cộng đoàn Kitô hữu, mầu
nhiệm này soi sáng cho những nỗ lực hiệp nhất giữa người giáo dân với các chủ
chăn cũng như với nhau,[18]
đồng thời thúc đẩy cộng đoàn tín hữu học biết trân trọng và khích lệ việc sử
dụng cách hữu hiệu những đoàn sủng được trao ban vì lợi ích của toàn Thân Mình
là Giáo Hội của Chúa Kitô.[19]
c. Đền Thờ Của Chúa Thánh Thần
(6) Giáo Hội luôn xác tín Chúa
Thánh Thần chính là linh hồn, là nguyên lý tác sinh và tác động trong Giáo Hội
của Chúa Kitô.[20]
Theo cách diễn tả của thánh Phaolô, cộng đoàn Dân Chúa được xây dựng để trở nên
ngôi Đền Thờ của Chúa Thánh Thần, (x. 1 Cr 3,16-17; 6,19; Rm 8,9) được trang
hoàng bằng muôn vàn ân điển (x. Rm 12,6-8; 1 Cr 12,4-11, 27-30; Ep 4,11-13).
Đồng thời, “Chúa Thánh Thần là nguyên lý hiệp nhất, làm phát sinh và thúc đẩy
đức ái. Cũng chính Chúa Thánh Thần là tác nhân chính yếu của công cuộc phúc âm
hóa mới trong thời đại chúng ta.”[21]
Như thế, mọi hoạt động của Giáo Hội tại Việt Nam hoàn toàn đến từ Chúa Thánh Thần,
Đấng hằng thánh hóa các tín hữu và đem lại hiệu quả cho những nỗ lực bé nhỏ của
con người. Chính Ngài làm cho Giáo Hội tại Việt Nam được hợp nhất trong đức tin
và hiệp thông trong đức mến, được luôn kiên vững trong niềm hy vọng để quảng
đại dấn thân vào công cuộc thăng tiến các thực tại trần thế. Cũng chính Ngài
làm cho Giáo Hội tại Việt Nam nên bén nhạy trước những dấu chỉ thời đại trong
lịch sử.[22]
Là Đền Thờ của Chúa Thánh
Thần, nhờ tình yêu Thiên Chúa đã được đổ đầy trong lòng họ (x. Rm 5,5; 8,5-17),
các môn đệ Chúa Kitô trung thành bước theo Thần Khí, (x. Gl 5,25) luôn nỗ lực vươn
đến sự thánh thiện chính là sự hoàn thiện của đức ái.
Như thế, các tín hữu Việt
Nam tin nhận Giáo Hội xuất phát từ Thiên Chúa, được thông hiệp vào mầu
nhiệm tình yêu vô biên tuyệt đối giữa cung lòng Ba Ngôi chí thánh là nguồn cội,
là khuôn mẫu và cùng đích của toàn thể Giáo Hội.[23]
2. Chiều Kích Kitô
Học trong Mầu Nhiệm Giáo Hội
a. Cấu Trúc Thần-Nhân
(7) Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình khi “Ngôi Lời đã trở nên người phàm” (Ga
1,14; cũng x. Gl 4,4).[24]
Tương tự như thế, Giáo Hội Chúa Kitô cũng mang cấu trúc thần-nhân, có đặc tính
“vừa nhân loại vừa thần linh, vừa hữu hình vừa hàm chứa những thực tại vô hình,
vừa nhiệt thành hoạt động vừa chiêm niệm, vừa hiện diện nơi trần gian nhưng
đồng thời cũng là lữ khách.”[25]
Trong cấu trúc đó, “yếu tố nhân loại qui hướng và lệ thuộc vào yếu tố thần
linh, những thực tại hữu hình qui hướng về những thực tại vô hình, những hoạt
động phải hướng về chiêm niệm, và những gì hiện tại phải hướng về thành đô
tương lai.”[26]
Vì thế, Giáo Hội không phải là một thực thể duy linh thuần túy thiêng liêng
cũng không là một cộng đồng thuần túy nhân loại như các tổ chức chính trị hay
kinh tế xã hội.[27]
Giáo Hội là một thực thể đặc thù, trong đó cái hữu hình là dấu chỉ và dụng cụ
của cái vô hình, còn cái vô hình được nhập thể trong cái hữu hình.[28]
Vì thế, các bí tích và tổ chức phẩm trật trong Giáo Hội thuộc về bản chất của
Giáo Hội do chính Thiên Chúa thiết lập, chứ không
chỉ là một tùy thể ngoại tại hay do con người khởi xướng. Và chính mối “tương
quan chặt chẽ giữa yếu tố vô hình và yếu tố hữu hình của sự hiệp thông Giáo Hội
đã làm cho Giáo Hội nên như bí tích cứu độ.”[29]
b. Tính Bản Địa và Hội Nhập Văn Hoá
(8) Trong mầu nhiệm Nhập Thể,
Con Thiên Chúa đã thật sự hòa nhập vào nền văn hóa Do thái. Người đã sống như
bất cứ người Do thái nào khác, từ lối hành xử theo phong tục tập quán đến cung
cách sinh hoạt hằng ngày, chỉ khác một điều là Người đã đưa vào đó Tin Mừng là
chính bản thân Người để mang lại ý nghĩa mới và vĩnh cửu cho nền văn hóa đó. Thật
vậy, Con Thiên Chúa nhập thể được biết đến
qua tên gọi “Giêsu người làng Nazareth” (x. Lc 4,16; Mt 2,23).[30]
Người sinh ra trong một gia đình và có cả một gia phả, (x. Lc 3,23-38; Mt
1,1-17) Người lớn lên và chia sẻ cùng một vận mệnh với quê hương đất nước,
Người đến trong lịch sử nhân loại và chấp nhận trọn vẹn phận người, ngoại trừ
tội lỗi (x. Dt 4,15; Pl 2,7).
Theo khuôn mẫu của mầu nhiệm
Nhập thể, đặc tính bản địa luôn gắn liền với sự hiện diện của Giáo Hội trong
từng địa phương và trong lòng mỗi dân tộc trên thế giới. Thật vậy, “người Kitô
hữu không khác với người khác về ngôn ngữ, tập tục. . . .”[31]
Cũng thế, Giáo Hội tại Việt Nam có thể và phải giữ gìn cũng như phát huy những
nét đặc thù của Việt Nam, miễn sao không đánh mất bản chất là Giáo Hội của Chúa
Kitô.[32]
Đây cũng là một trong những phương thức truyền giáo khả thi và có hiệu quả mà
Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu rất quan tâm.[33]
Giáo Hội tại Việt Nam nỗ lực khám phá những giá trị cao đẹp trong nền văn hóa
dân tộc, đồng thời cố gắng làm cho những giá trị đó được diễn tả “trong lời
kinh tiếng hát, trong cử hành phụng vụ, trong cuộc sống hằng ngày cũng như
trong suy tư và ngôn ngữ thần học.”[34]
(9) Khi nhập thể, Con Thiên Chúa đã đồng bàn với ông Lêvi và những người thu thuế, (x. Lc 5,29) đồng
thuyền với các môn đệ trên mặt hồ Galilê nhiều gió bão, (x. Mc 4,37-38) và đồng
hành với hai môn đệ làng Emmaus (x. Lc 24,13-31) để làm họ bừng cháy lửa mến
yêu và hy vọng (x. Lc 24,32).
Cũng thế,[35]
Giáo Hội đồng hành với nhân loại trong từng trạng huống lịch sử, chia sẻ trách nhiệm
trong các lãnh vực văn hóa, xã hội và cả kinh tế, chính trị, để đem vào đó Tin
Mừng có sức biến đổi và thăng tiến con người. Trong ánh sáng đó, Giáo Hội tại
Việt Nam nhận ra rằng quê hương là chiếc nôi trong đó ơn gọi Kitô hữu tăng
trưởng,[36]
và người tín hữu sống đức tin trong tinh thần đồng hành với mọi người anh chị em
trong cộng đồng dân tộc: “Tinh thần đồng hành của chúng ta là tinh thần nhập thể
của Chúa Giêsu Kitô. Đồng hành như những thành viên thật sự của cộng đồng dân
tộc, chứ không phải như những kẻ xa lạ. Đồng hành không phải để tranh giành quyền
lực, nhưng để cùng với Chúa Kitô và như Chúa Kitô, trở nên người tôi tớ của Thiên Chúa và của nhân loại.”[37]
Thật vậy, Giáo Hội tại Việt Nam mong muốn và nỗ lực đồng hành với mọi người,
nhất là những ai đang đau khổ, vì xác tín rằng chính Thiên Chúa đang hiện diện
trong họ (x. Mt 28,28).[38]
Để được như thế, phải học để biết “nhìn tha nhân theo quan điểm của Chúa Giêsu
Kitô.”[39]
Như thế, khi nỗ lực sống mầu nhiệm Nhập Thể, Giáo Hội tại Việt Nam sẽ tỏ bày
cho mọi người Đấng mà họ đang kiếm tìm trong nỗi khát khao sâu kín,[40]
không phải theo kiểu “áp đặt đức tin của Hội Thánh trên người khác,”[41]
nhưng tìm cách biểu thị sự hiện diện của Con
Thiên Chúa nhập thể khi sống theo linh đạo của Kinh Lạy Cha, khi tuân hành
Hiến Chương Nước Trời và thực thi Luật yêu thương của Chúa Kitô.[42]
d. Cộng Đoàn Vượt
Qua và Lữ Hành
(10) Giáo hội sẽ không khác gì
một tổ chức nhân loại, nếu không được mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu chiếu soi.
Thật vậy, Giáo Hội được khai sinh từ cạnh sườn của Đức Kitô bị đâm thâu. Nhờ thập
giá, Người đã phá đổ mọi bức tường ngăn cách và làm cho chúng ta được hòa giải
với Thiên Chúa. Khi phục sinh, chính Người qui tụ các môn đệ tản mác và ban
Thánh Thần cho các ông (x. Ga 20,22). Trong ánh sáng của mầu nhiệm Vượt qua,
Giáo Hội nhận biết mình đã được ban cho một Tin mừng duy nhất là Tin mừng của
Đức Kitô chịu đóng đinh, và tất cả phải nhờ Người mới được cứu độ.[43]
Chỉ mình Người mới làm cho đau khổ và cả cái chết trở thành con đường dẫn tới
sự sống.
Có Đấng phục sinh là đấng
cứu độ duy nhất, (x. Cv 4,10-12; Gl 1,7-9) Giáo Hội tin vào sự chiến thắng của
ân sủng trên tội lỗi, tình yêu trên thù hận (x. Rm 5:20; 8:37). Nhờ vị Thượng
Tế đã trải qua đau khổ để nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu, (x. Dt 4,15-16; 5,7-9)
GH biết rằng những đau thương của mình sẽ được biến đổi khi được kết hợp với hy
tế của Đức Kitô (x. Rm 8,18-19). Vì thế, dù không thiếu những khó khăn trở
ngại, thử thách và cả bách hại, Giáo Hội tại Việt Nam vẫn tiến bước trong an
bình và tín thác. Trong gian khổ, các môn đệ của Chúa Kitô vẫn hân hoan vì được
chia sẻ cùng một số phận với Thầy mình (x. 1 Pr 4,13-14; 2 Tm 2,8-13; Pl 1,29;
Mt 5,11-12).[44]
Thật vậy, khi được liên kết với Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, thì không một
đau khổ nào của bất kỳ một phần tử nào trong Giáo hội, lại không được thánh hóa
và có giá trị cứu độ. Tuổi già, bệnh tật và những thử thách của mọi Kitô hữu
vẫn luôn có giá trị trong hy tế thập giá của Chúa Kitô và có thể trở thành mối
phúc lành cho toàn Giáo hội. Chứng từ của biết bao vị tử đạo và chứng nhân
trong suốt dòng lịch sử Giáo Hội Việt Nam minh chứng quyền năng Thiên Chúa được
bày tỏ trong những mỏng dòn của phận người. Những chứng từ đó giúp chúng ta
ngày một xác tín vững chắc hơn rằng, “Trái tim của mọi hoạt động mục vụ cũng
như mọi hình thức hoạt động tông đồ là sự kết hiệp với Mầu nhiệm Vượt Qua của
Đức Kitô.”[45]
Với xác tín đó, giữa lòng
thế giới, Giáo Hội luôn tiến bước như chứng nhân của niềm hy vọng cánh chung
hướng đến trời mới đất mới (x. Kh 21,1-4; 2 Pr 3,13). Sống trong lịch sử nhưng
Giáo Hội của Chúa Kitô không dừng lại để định cư hay xây dựng thành trì ở trần
gian này, trái lại không ngừng vươn tới Nước Trời. Dù vậy, Giáo Hội không hề
coi thường những thực tại nhân sinh, nhưng cùng với mọi người tích cực xây dựng
trần thế theo đường hướng của Tin mừng, chuẩn bị cho lòng người tiếp nhận Nước
Trời.[46]
Giáo Hội tin rằng mọi nỗ lực nhằm xây dựng và phát triển phẩm giá con người, sự
tự do, tình huynh đệ… tất cả sẽ được biến đổi khi “Chúa Kitô trao lại cho Chúa Cha
Nước vĩnh cửu và phổ quát,”[47]
“tràn đầy tình thương, công lý và bình an.”[48]
Thật vậy, Chúa Giêsu Kitô chính là tương lai của Giáo Hội, một “tương lai huy
hoàng và vững chắc. Người là hy vọng, là cùng đích của ta.”[49]
CHƯƠNG II
HIỆP
THÔNG
GIÁO HỘI NHƯ
DẤU CHỈ VÀ KHÍ CỤ CỦA SỰ HIỆP NHẤT GIỮA CON NGƯỜI VỚI THIÊN CHÚA VÀ GIỮA CON NGƯỜI
VỚI NHAU
(11) Lịch sử cứu độ hướng đến cùng
đích là qui tụ đoàn con cái Thiên Chúa đang tản mác về một mối
(x. Ga 11,52) trong sự hiệp thông trọn vẹn giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau.[50]
Vì nơi đâu có Thiên Chúa ngự trị thì ở đó có sự
hiệp thông và nơi đâu có hiệp thông thì ở đó có
Thiên Chúa,
nên hiệp thông là quà tặng của Thiên Chúa và cũng là trách vụ của
con người.[51]
Xuất phát từ sự hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội vừa là
dấu chỉ vừa là khí cụ của tình yêu hiệp nhất bằng cách trở nên chứng nhân và trường
dạy hiệp thông.[52]
1. Hiệp Thông Với Thiên Chúa: Nền Tảng Và Điều Kiện Của Sự Hiệp Thông Giữa Con Người
(12) Trước khi cầu xin cho các
môn đệ được hiệp nhất nên một, Chúa Kitô đã mời gọi họ ở lại trong tình yêu của
Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần (x. Ga 15,1-10). Sự hiệp thông theo chiều dọc nối kết con
người với Thiên Chúa chính là nền tảng và
điều kiện thiết yếu cho mối hiệp thông theo chiều ngang giữa con người với con
người. Chỉ khi gắn bó trọn cả con người và cuộc sống của mình với Thiên Chúa nhờ các nhân đức đối thần tin, cậy, mến, người tín hữu mới có thể
hoàn thiện mối tương giao với tha nhân nhờ các đức tính nhân bản. Tình yêu hiệp
nhất với Thiên Chúa phải trở thành động lực
và chuẩn mực cho sự thông hiệp với mọi người chung quanh. Vì thế, không thể
kiến tạo sự hiệp thông bền chặt và chân chính nếu sự hiệp thông với Thiên Chúa suy giảm hay thiếu vắng.[53]
Thiên Chúa muốn cho Giáo
Hội đáp trả hồng ân hiệp thông với Ngài bằng cách sống và phát huy tình hiệp
thông giữa các tín hữu trong Giáo Hội để từ đó trở thành tác nhân kiến tạo sự hiệp
thông của cả gia đình nhân loại. Để được như vậy, Giáo Hội được nuôi dưỡng bằng
Lời Thiên Chúa và Mình Máu Đức Kitô để nhờ Chúa Thánh Thần tác
động, Giáo Hội trở nên Đấng mà Giáo Hội lãnh nhận.[54] Qua các ân điển khác nhau, Thánh Thần
liên kết mọi chi thể trong Nhiệm thể bằng mối dây hiệp nhất bền chặt giữa các
tín hữu để từng ngày làm cho Giáo Hội tăng trưởng, đạt tới tầm vóc viên mãn của
Đức Kitô (Ep 4,11-13). Trong ân phúc cứu độ, Thánh Thần nối kết các dân tộc
bằng cách phá vỡ mọi hàng rào ngôn ngữ (x. Cv 2,1-12);[55] đồng thời, Chúa Cha phá đổ bức tường
ngăn cách là sự thù hận (x. Ep 2,16-17) và thâu kết tất cả trong Chúa Kitô để Thiên Chúa là tất cả trong mọi người (x. Ep 2,14-18). Giáo Hội đã được dựng xây
như là Nước-Trời-đang-phát-triển để qua đó toàn thể nhân loại và muôn loài thọ
tạo sẽ được thâu họp cách viên mãn trong thời cánh chung.[56]
2. Giáo Hội Như Dấu Chỉ
Hiệp Thông
(13) Giáo Hội nhận ra mình có sứ
mạng đáp trả khát vọng yêu thương và hiệp nhất, vốn là khát vọng thâm sâu của
con người, nhưng thường xuyên bị tan vỡ do những chia rẽ vì hận thù và ích kỷ.
Vì thế, hơn ai hết, Giáo Hội không hề muốn mình trở thành nguyên cớ gây xung
đột và bạo lực. Trái lại, trong mọi hoàn cảnh, Giáo Hội Chúa Kitô nhất quyết mở
rộng con đường hiệp nhất để đẩy nhanh tiến trình hiệp thông giữa các dân tộc,
Giáo Hội muốn tác động như chất xúc tác cho tình hiệp thông,[57]
khi mang đến cho thế giới hôm nay chính Chúa Kitô, Con Người Hoàn Hảo, là “hạt nhân”
cho một nhân loại mới.[58]
Dấu chỉ hiệp thông đó được biểu tỏ cách đặc biệt qua đời sống thờ phượng và mối
tương quan giữa các thành phần Dân Chúa trong Giáo Hội, để từ đó Giáo Hội góp phần
xây dựng sự hiệp nhất trong cộng đồng nhân loại.
a. Tương
Quan Hiệp Thông với Thiên Chúa
(14) Thiên Chúa yêu thương những
kẻ thuộc về Ngài, không những muốn cho họ ở trong nhà Ngài luôn mãi (x. Tv
23,6), mà còn cho họ được nên một với Ngài trong Đức Giêsu Kitô. Vì thế, các tín
hữu phải luôn khao khát gặp gỡ Thiên Chúa trong đời sống cầu nguyện
và không ngừng vun đắp tâm tình thờ phượng tin yêu. Với tâm hồn trong sạch, các
tín hữu thông hiệp thường hằng với Thiên Chúa trong ân sủng, họ sốt
sắng tiếp nhận Thánh Thể và liên kết với các chi thể khác trong Thân Mình của
Chúa Kitô, họ biến tâm hồn mình thành đền thờ của Chúa Thánh Thần, họ nối kết
bằng một tình yêu mạnh hơn cả sự chết đối với những người đã an nghỉ trong Chúa
Kitô, đang còn phải thanh luyện hay đã được tôn vinh.
Trong một mức độ nào đó,
các tín hữu Việt Nam vẫn nổi bật về cách sống đạo siêng năng cầu nguyện và lãnh
nhận bí tích. Tuy nhiên, Giáo Hội tại Việt Nam cần xây dựng và canh tân một đời
sống thờ phượng có khả năng nối kết đức tin với cuộc sống.[59] Để việc canh tân được sâu xa, các tín
hữu Việt Nam được Thiên Chúa mời gọi đọc Thánh Kinh, và như Đức Maria, suy niệm
Lời Chúa không ngừng.[60]
Chính nhờ Lời được vang lên trong ngôi nhà Giáo hội có truyền thống sống động,
không phải như một kiến thức suông nhưng như lời cầu nguyện có sức hoán cải và
tạo sự hiệp thông, chúng ta mới nhận ra khuôn mặt đích thực của Đức Kitô, là
ngôi vị trung tâm của Mạc khải, chứ không đơn thuần là một học thuyết hay lý
tưởng cao cả.[61]
Một khi được thấm nhuần Lời Chúa, bám chặt vào Lời Chúa như lương thực trường
tồn của mình (x. Ga 6,27; Mt 4,4; Kh 10,9; Gr 15,16; Đnl 8,3), người tín hữu
Việt Nam sẽ vững bước trên những nẻo đường của cuộc sống và thế giới khi thi
hành sứ mạng của người ngôn sứ.[62]
Chính vì thế, trong mọi hoàn cảnh, Giáo Hội tại Việt Nam cần thúc đẩy việc học
hỏi, suy niệm và sống Lời Chúa, coi đây như mối ưu tiên hàng đầu của mọi hoạt
động mục vụ.
b. Tương Quan Hiệp Thông Giữa Giáo Hội
tại Việt Nam và Giáo Hội Phổ Quát
(15) Sách Khải huyền mô tả nền móng của thành Giêrusalem trên cao có
khắc tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên (x. Kh 21,14). Giáo Hội địa phương chân
thật phải mang tính tông truyền, tức là phải liên kết bền chặt với các thánh
tông đồ được biểu lộ qua việc gắn bó bền chặt với Đấng Kế vị thánh Phêrô, là
“nguyên lý và nền tảng hữu hình và trường tồn của sự hợp nhất, cả của cộng đoàn
các Giám mục cũng như của cộng đoàn các tín hữu,”[63]
nhằm phục vụ sự hiệp nhất trong đức tin và đời sống của toàn thể Dân Thiên
Chúa.[64]
Cộng đoàn tín hữu tại Việt Nam luôn thể hiện tình hiệp thông với Giáo Hội phổ
quát, với Đức Thánh Cha là Đấng Kế Vị thánh Phêrô, qua thái độ tôn kính vâng
phục chân thành. Chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã ca ngợi vẻ đẹp đức tin
này của Giáo Hội tại Việt Nam.[65]
Sự gắn bó trung thành này phát xuất từ chính bản chất đức tin công giáo chứ
không chỉ đơn thuần do quan hệ ngoại giao hay xã hội. Do đó, phải nỗ lực duy
trì và phát huy sự hiệp nhất với Tòa Thánh; đồng thời, Toà Thánh cũng luôn tôn
trọng và nhạy bén với những nét đặc thù trong lịch sử cũng như văn hoá của dân
Việt.
Cũng trong viễn tượng hiệp
thông, Giáo Hội Việt Nam muốn đẩy mạnh sự gặp gỡ và hợp tác với các Giáo Hội
chị em trong các quốc gia khác, đặc biệt tại Á Châu. Sự liên đới hợp tác giữa
các Giáo hội tại Á châu vốn có nhiều điểm gần gũi về địa lý, văn hóa, tôn giáo,
v.v, sẽ làm nổi bật hơn nữa một Giáo hội duy nhất cũng như giúp ích nhiều cho
việc chu toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng trong châu lục mênh mông này, như Thượng
Hội Đồng Giám Mục Á châu cũng như Tông huấn Giáo
hội tại Á châu mong mỏi.
c. Tương Quan Hiệp Thông Giữa Mọi Thành Phần Dân Chúa
(16) Sống mầu nhiệm hiệp thông
chính là điều mà các môn đệ Chúa Kitô tại Việt Nam phải thực thi mọi nơi và mọi
lúc. Lời nhận định của lương dân về cộng đoàn Giáo Hội sơ khai tại Giêrusalem
“kìa họ thương mến nhau biết bao”, hay biệt hiệu “Đạo yêu thương” được gán cho
cộng đoàn tín hữu đầu tiên trên đất Thăng Long, vẫn luôn thúc đẩy các tín hữu
tại Việt Nam phải thể hiện rõ nét hơn nữa một Giáo Hội hiệp thông bằng cách
phát huy mối tương quan trong đức ái giữa các thành phần Dân Chúa.[66]
Sự hiệp thông này được đặt
nền trên bí tích Thánh tẩy, theo đó mọi Kitô hữu đều bình đẳng với nhau, chia sẻ
cùng một sự sống ơn thánh như trong cây nho và các ngành, chia sẻ cùng một sứ
mệnh, do đó đồng trách nhiệm trong việc thi hành sứ mệnh dù có những chức năng
khác nhau. Theo đó, mỗi giáo phận cũng như giáo xứ phải là một cộng đoàn đồng
trách nhiệm, bình đẳng, và tích cực tham gia vào sứ mạng của Chúa Kitô, nhưng
vẫn luôn xác tín và đề cao Giám mục như người lãnh đạo, thầy dạy và bảo vệ đức
tin, “nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất trong GH địa phương.”[67]
Điều này đòi hỏi Giáo Hội phải làm sao cho mọi thành phần dân Chúa đều được tham
gia vào việc phân định và thực thi ý Chúa. Chính vì thế, Liên Hội Đồng Giám Mục
Á châu đề xướng và kêu gọi xây dựng Giáo
hội tham gia, trong đó mọi thành phần Dân Chúa đều thể hiện được ơn gọi và
vai trò riêng của mình, đồng thời tham gia vào sứ mạng chung của Giáo Hội. Mô
hình “tham gia” bao hàm thái độ cộng tác chân thành và tích cực trong việc lắng
nghe, chia sẻ, thảo luận, duyệt xét, đánh giá về mục tiêu cũng như phương cách
thực hiện những đề án mục vụ. Tham gia còn có nghĩa là mọi thành viên trong
Giáo Hội, dù có những chức vụ và vị trí khác nhau, sẽ dự phần vào các sinh hoạt
trong cộng đoàn với tất cả tinh thần trách nhiệm, không chấp nhận “độc tài”
nhưng cũng không đồng hóa “tham gia” với “dân chủ cực đoan”, vì tất cả đều phải
vâng phục Thiên Chúa và cùng nhau hướng đến mục
đích chung là xây dựng và phát triển cộng đoàn. Mô hình Giáo Hội tham gia cũng
sẽ giúp chúng ta tìm ra ý nghĩa của những dấu chỉ thời đại để cùng nhau làm
việc cho Nước Chúa hiển trị.[68]
Trong giai đoạn sắp tới,
mô hình Giáo Hội hiệp thông và tham gia cần được đề ra như một ưu tiên mục vụ
và tìm cách thể hiện sao cho hiệu quả trong linh mục đoàn, trong tổ chức giáo
xứ như một gia đình, cũng như thúc đẩy sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các giáo
phận, giữa các giáo phận và dòng tu, cũng như giữa các dòng tu với nhau.[69]
Sự hiệp thông và tham gia này cũng cần được thể hiện bằng những phương án cụ
thể như thực hiện những kế hoạch mục vụ chung, nâng đỡ và chia sẻ với nhau về
nhân sự cũng như tài chính, v.v.
d. Góp Phần Xây Dựng Sự Hiệp Thông Trong Cộng Đồng Nhân
Loại.
(17) Giáo Hội tại Việt Nam muốn
thực thi trọn vẹn sứ mạng trở nên dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp thông giữa người
với người, vượt lên trên mọi khác biệt về giai cấp, văn hóa hay chính kiến.[70]
Tuy vẫn còn những thiếu sót do khả năng giới hạn của con người, nhưng kể từ khi
có mặt trên đất nước này, các tín hữu Việt Nam thật sự đã và vẫn đang đóng góp tích
cực cho sự hiệp thông giữa người với người trên quê hương đất nước này, đặc biệt
qua những cách thức phục vụ đa dạng trong các lãnh vực xã hội, y tế và giáo
dục.[71]
Theo hướng đi này và noi gương các vị tiền nhân và chứng nhân đức tin, các tín hữu
Chúa Kitô tại Việt Nam luôn chung tay với những người thành tâm thiện chí nỗ
lực xây dựng và phát triển môi trường mình đang sinh sống cho xứng với phẩm giá
con người.[72]
Đó cũng là cách thức mà Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã cổ võ khi nói đến các “cộng
đồng nhân sinh cơ bản”, trong đó các Kitô hữu không chỉ quan tâm đến đời sống
thờ phượng trong nhà thờ nhưng là những hạt nhân sinh động trong cộng đồng xã
hội.[73]
Khi quan tâm đến việc lành
mạnh hóa và phát triển môi trường xã hội, Giáo Hội tại Việt Nam không chủ trương
chính trị đảng phái,[74]
nhưng chỉ quan tâm đến sự sống và sự phát triển toàn diện của mỗi người và mọi người,
nhất là những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Chính vì thế, một đàng Giáo Hội
không chấp nhận thỏa hiệp với những gì là tội lỗi và bất công; đàng khác, Giáo
Hội vẫn luôn mong muốn giúp mọi người đón nhận lòng nhân hậu xót thương và tha
thứ của Thiên Chúa trong Đức Kitô.[75]
Bằng cách đó, Giáo Hội cống hiến cho quê hương một tình hiệp nhất dân tộc vượt
lên trên những dị biệt về chủng tộc, giai cấp xã hội hay chính kiến.
CHƯƠNG III
SỨ VỤ
GIÁO HỘI VIỆT
NAM VÀ SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG
(18) Giáo Hội tự bản chất là truyền
giáo, nên Giáo Hội không thể không loan báo Tin mừng.[76] Ơn phúc đón nhận đức tin nơi một cộng
đoàn hay một cá nhân luôn gắn liền với bổn phận và trách nhiệm loan báo Tin
mừng (x. 1 Cr 9,16).[77]
Như Tông huấn Loan báo Tin Mừng đã
nêu ra, sứ mạng ấy bao gồm những công tác đa dạng, không chỉ đơn thuần là loan
báo Tin mừng cho những người chưa biết Chúa, nhưng còn đòi hỏi cả việc phúc âm
hóa chính bản thân người tín hữu cũng như môi trường xã hội, văn hóa họ đang
sống.[78]
Hiểu như thế, truyền giáo không có nghĩa là “áp đặt đức tin của Hội thánh trên kẻ
khác,”[79]
nhưng đúng hơn là chia sẻ một tình yêu vĩ đại (x. Ga 3,16; 15:13), một tình yêu
đi đến cùng (x. Ga 13,1) để làm cho đời sống của chính người môn đệ đạt ý nghĩa
sung mãn, (Pl 3,7-9) ngay cả khi không thể nói bằng lời.[80]
1. Thi Hành Sứ Mạng Yêu
Thương và Phục Vụ của Chúa Kitô trên Quê Hương Việt Nam Ngày Nay
(19) Sứ vụ yêu thương phục vụ gắn
liền với bản chất của Giáo Hội, và việc thực thi bác ái là công tác đặc thù của
những người môn đệ Chúa Kitô.[81]
Thật vậy, “Giáo Hội không bao giờ miễn trừ cho mình việc thực hành bác ái xét như
các hoạt động có tổ chức của các tín hữu, và đàng khác, không bao giờ có một
tình trạng mà trong đó người ta lại không cần tới bác ái của mỗi Kitô hữu, vì
con người, ngoài công bằng ra, vẫn và sẽ còn cần đến tình yêu.”[82]
Thánh Augustinô dạy các tín hữu hãy ca ngợi
Thiên Chúa bằng cả con người, nghĩa là “không phải chỉ có miệng lưỡi và tiếng
nói, mà cả lương tâm của anh chị em, đời sống của anh chị em, hành động của anh
chị em cũng ca tụng Thiên Chúa .. . Ai không ngừng
sống tốt, người ấy vẫn ca tụng Thiên Chúa. Bạn thôi không ca
tụng Thiên Chúa khi bạn bỏ không sống công
chính và không làm điều đẹp lòng Thiên Chúa.”[83]
Ngay từ khi hiện diện trên
đất nước này, Giáo Hội tại Việt Nam đã chọn con đường yêu thương và phục vụ con
người, mưu cầu hạnh phúc đích thực cho anh chị em đồng bào trong ánh sáng của
niềm tin vào Chúa Kitô.[84]
Các tín hữu Việt Nam được mời gọi thờ phượng
Thiên Chúa và
để cho Chúa Thánh Thần dẫn mình vào đời sống thờ phượng đích thực đi liền với
việc “thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân và giữ mình cho khỏi mọi
vết nhơ của thế gian,” (Gc 1,27) đồng thời “cam kết với
Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng” (1 Pr 3,21). Ngay cả khi bị hiểu lầm và
bách hại, nhiều tín hữu Việt Nam vẫn tỏ rõ tấm lòng ái quốc và yêu thương mọi
người.[85]
Tiếp nối tinh thần các chứng nhân anh dũng của đức tin và đức mến, người công
giáo Việt Nam luôn nỗ lực bước theo con đường hiền lành, tha thứ và xây dựng
hòa bình (x. Mt 5,1-10), chân thành và khiêm tốn phục vụ anh chị em đồng bào và
đồng loại như người tôi tớ.[86]
Trong hoàn cảnh hiện nay
cũng như tương lai, Giáo Hội tại Việt Nam cần quan tâm hơn nữa đến việc phục vụ
sự sống và sự phát triển con người toàn diện.[87] Các môn đệ Chúa Kitô có thể thực thi sứ mạng phục vụ trong yêu
thương bằng cách tổ chức và tham gia những công tác bác ái từ thiện, giúp đỡ những người nghèo khổ thiếu thốn, đặc biệt
những ai đang gặp thiên tai, hoạn nạn. Đồng
thời, những người có trách nhiệm cũng phải đặc biệt quan tâm tìm cách nâng cao
đời sống của dân chúng nhờ những chương trình giáo dục tri thức và đạo đức, nhằm cổ võ lối sống liên đới, nhân
ái, ngay thẳng, có trách nhiệm, biết hy sinh và cần mẫn thay cho bạo lực, ích
kỷ, hận thù, gian dối, hưởng thụ và phóng túng. Giáo Hội cũng cần hỗ trợ nhiều
hơn nữa cho những chương trình giáo dục
nhân bản, tạo thêm điều kiện cho những giao lưu sinh hoạt lành mạnh, xây
dựng nhóm bạn bè tốt, vận dụng các hoạt động giải trí, văn hoá, thể thao cho
nhiều thành phần dân chúng trong xã hội. Ngoài ra, Giáo Hội cũng mời gọi mọi
thành phần Dân Chúa “dấn thân cách trung thành nhằm xây dựng một xã hội công
bằng, liên đới và bình đẳng.”[88]
Qua mọi hoạt động bác ái-phục vụ, các tín hữu Việt
Nam, cá nhân cũng như cộng đoàn, mong muốn giới thiệu Chúa Kitô cho anh chị em
lương dân bằng chứng tá đời sống, vì biết rằng ngày nay, dân chúng mong muốn
thấy và gặp những chứng nhân hơn là những thầy dạy.[89]
2. Thi hành Sứ Vụ trong
Tinh Thần Đối Thoại và Cộng Tác
(20) Xuất phát từ mầu nhiệm hiệp
thông, hoạt động truyền giáo của Giáo Hội luôn được thực hiện trong tinh thần
đối thoại và cộng tác.[90]
Để có thể phục vụ tốt đẹp hơn nữa một cộng đồng xã hội có những quan điểm đa dạng
và khác biệt, Giáo Hội cố gắng xây dựng sự trao đổi chân thành và cởi mở, đặc
biệt trong cuộc đối thoại với các tôn giáo bạn, với nền văn hoá dân tộc và với
người nghèo.
a. Với Các Tôn Giáo Bạn
(21) Giáo Hội luôn xác tín về hoạt
động tuy âm thầm nhưng đầy năng động và huyền nhiệm của Chúa Thánh Thần nơi các
tôn giáo. Tâm thức người Việt không quá chật hẹp, sẵn sàng chấp nhận sự trao
đổi và hợp tác giữa các tôn giáo.[91]
Tuy thế, vì nhiều lý do khác nhau, Giáo Hội tại Việt Nam còn nhiều hạn chế
trong việc đối thoại với các tôn giáo bạn và còn phải học hỏi nhiều từ kinh
nghiệm của các Giáo Hội trong các quốc gia khác tại Á châu. Những cuộc gặp gỡ
và trao đổi với các tôn giáo bạn chắc chắn sẽ tạo thêm nhiều điều kiện thuận
lợi cho việc cộng tác nhằm lành mạnh hóa xã hội và thăng tiến con người. Mặt
khác, nhờ việc đối thoại và hợp tác với các tôn giáo khác, Giáo Hội càng xác
lập rõ nét hơn về bản chất của chính mình và càng thêm xác tín Đức Giêsu là tương
lai của nhân loại, là Alpha và Omega của toàn thể vũ trụ.[92]
b. Với Nền Văn Hóa Dân Tộc
(22) Bằng nhiều phương thế khác
nhau, Giáo Hội tại Việt Nam cần tìm hiểu bản sắc dân tộc, để từ đó tìm được lối
mở giúp Tin Mừng dễ dàng đi vào tâm hồn người dân Việt, đồng thời cũng tìm ra
những phương thức diễn đạt đức tin Kitô giáo cách thích hợp và hiệu quả hơn.[93]
Nền văn hoá Việt Nam mang nhiều giá trị đáng trân trọng và có thể trở thành những
nẻo đường thuận tiện để Giáo Hội tại Việt Nam tiến bước trong sứ vụ loan báo
Tin Mừng. Thật vậy, văn hoá dân tộc vốn coi trọng nghĩa đồng bào, đạo hiếu
trung,[94]
đồng thời cũng đề cao lòng hiếu khách, đức hy sinh vị tha, tình nhân ái hài hòa,
và đặc biệt luôn quí chuộng đời sống tâm linh.[95] Đây chính là những điểm gặp gỡ gần gũi
với Tin Mừng của Chúa Kitô, cũng như với nếp sống Kitô hữu trong ơn gọi yêu
thương, hiệp nhất, và sống nội tâm chiêm niệm. Ngoài ra, nền văn hoá Việt Nam
ngày nay cũng đang gặp gỡ những trào lưu văn hóa hiện đại được du nhập từ nhiều
nơi khác, những trào lưu gắn liền với kỹ thuật số, truyền thông đại chúng, kèm
theo sự lan rộng của một thứ văn hóa toàn cầu mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa
tương đối, hưởng thụ, duy vật. Qua những tín hữu nhiệt thành và thức thời, Giáo
Hội không né tránh, nhưng nỗ lực đối thoại với các trào lưu văn hóa mới mẻ và
nhiều tác động ấy, để đưa vào đó một “linh hồn”, theo như cách nói của Đức
Bênêđictô XVI,[96]
nhằm tin mừng hoá và mở hướng đi vào ánh rạng ngời của chân lý.[97]
Trong cuộc đối thoại với
văn hóa, Giáo Hội cũng cần chú ý đến những thực tại trần thế, tức là những thực
tại xã hội, kinh tế và chính trị, cũng như tất cả những gì đang xảy ra trên đất
nước này trong mọi lãnh vực. Với sự tôn trọng, chân thành nhưng thẳng thắn và
kiên định, Giáo Hội tại Việt Nam cũng không ngần ngại đối thoại với Chính Quyền
dân sự về những gì liên quan đến lợi ích của đất nước và dân tộc. Trong cuộc
đối thoại này, Giáo Hội phải là tiếng nói của những người không có tiếng nói
hoặc chưa được lên tiếng, phải vượt qua những thành kiến, để làm chứng cho sự thật
và đức ái Kitô giáo, một đức ái tin tưởng mọi sự, hy vọng mọi sự (x.1 Cr
13,1-13).
c. Với Người Nghèo
(23) Theo Công đồng Vatican II,
người nghèo không chỉ là đối tượng để Giáo Hội phục vụ, nhưng còn là những chủ
thể mà một cách nào đó Thiên Chúa dùng để tin mừng hóa Giáo
Hội.[98]
Do đó, Giáo Hội không chỉ nhìn người nghèo bằng con mắt và tình cảm nhân loại, nhưng
từ nhãn giới của Chúa Kitô, để khám phá ra họ như những người bạn đang cần tình
yêu thương chứ không chỉ cần của cải vật chất.[99] Đồng thời, Giáo Hội cũng nhận ra mình
đã học được rất nhiều từ người nghèo, và muốn trao ban cho họ trước tiên một
tình yêu nhân ái và thái độ cảm thông liên đới chân thành. Trong bối cảnh đất
nước đang chuyển biến mau lẹ, nhiều hình thức nghèo khổ mới về văn hóa, giáo
dục, tôn giáo, tình cảm, luân lý, kinh tế đã nảy sinh và đang thúc bách Giáo
Hội phải bén nhạy hơn nữa để có thể đáp ứng những nhu cầu muôn mặt của thực
trạng xã hội ngày nay.
3. Những Lãnh Vực Cần
Quan Tâm
a. Truyền Giáo
(24) Giáo Hội tại Việt Nam ý
thức rõ mình chỉ là một đàn chiên bé nhỏ, nhưng luôn tri ân Thiên Chúa vì hồng ân đức tin được ban tặng. Niềm tri ân đó đi liền với thao
thức truyền giáo. Vì thế, Giáo Hội khuyến khích mọi tín hữu, cá nhân cũng như
đoàn thể, không chỉ quan tâm đến những anh chị em đồng đạo, nhưng hãy nỗ lực
tìm cách chia sẻ niềm tin, đưa dẫn anh chị em đồng bào đến gặp gỡ Chúa Kitô và
đón nhận Tin Mừng của Ngài. Giáo Hội cũng cần đặt việc loan báo Tin Mừng thành
trọng tâm của mọi nỗ lực trong việc đào tạo cũng như trong các sinh hoạt mục
vụ, tu đức, bác ái . . . và mong muốn huy động thêm nhiều nhân lực và tài lực
hơn nữa cho công cuộc loan báo Tin Mừng.
Loan báo Tin Mừng là loan báo chính Chúa Giêsu và Tin Mừng của
Người như thánh Phaolô nhấn mạnh: “Điều chúng tôi loan báo không phải là bản
thân chúng tôi nhưng là Chúa Giêsu, và chúng tôi là tôi tớ” (2 Cor 4,5). Thật
vậy, “sẽ không có việc loan báo Tin Mừng đúng nghĩa nếu tên gọi, giáo huấn, đời
sống, những lời hứa, Vương Quốc và mầu nhiệm của Đức Giêsu Nazaret, Con Thiên
Chúa, không được công bố.”[100]
Đồng thời, Giáo Hội ý thức rằng xây dựng sự hiệp nhất và hòa giải, cổ võ tình
liên đới và tinh thần đối thoại, loại bỏ những thành kiến và củng cố sự tin
tưởng lẫn nhau, tất cả đều là những yếu tố quan trọng trong việc thực thi sứ vụ
loan báo Tin Mừng.[101]
Để có thể chu toàn sứ vụ cao cả nhưng cũng không ít khó khăn
trên, hoạt động truyền giáo cần gắn liền với đời sống cầu nguyện và chiêm niệm.
Không có kinh nghiệm sâu xa về Thiên Chúa trong cầu nguyện và chiêm niệm, sẽ
khó lòng gặt hái thành công trong truyền giáo. Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á nhắc nhớ chúng ta rằng: “Châu Á là chiếc nôi
của những tôn giáo lớn, là nơi các cá nhân và các dân tộc khao khát điều thần
linh, Giáo Hội được kêu gọi trở nên một Giáo Hội cầu nguyện, một Giáo Hội mang
chiều kích tâm linh sâu xa, ngay cả khi phải dấn mình vào những mối quan tâm cụ
thể trước mắt. Mọi Kitô hữu cần đến một linh đạo truyền giáo thấm đượm tinh
thần cầu nguyện và chiêm niệm.”[102]
b. Đào Tạo Nhân Sự
(25) Yếu tố căn bản để tạo hiệu
quả cho các hoạt động của Giáo Hội hệ tại việc đào tạo nhân sự. Trước hết là
đào tạo giáo dân. Trong lịch sử Giáo Hội tại Việt Nam, nhóm Thầy Giảng được
thành lập gồm những giáo dân muốn dành trọn đời mình cho việc dạy giáo lý.
Trong những giai đoạn khó khăn, chính những người giáo dân này đã đóng góp rất
nhiều, hỗ trợ hàng giáo sĩ trong việc phục vụ cộng đoàn và chăm sóc các linh
hồn. Hiện nay, vẫn có rất nhiều giáo dân nhiệt tình dấn thân tông đồ tại các
điểm truyền giáo vùng sâu vùng xa cũng như trong những sinh hoạt mục vụ đa dạng
của Giáo Hội. Dưới sự hướng dẫn của Công đồng Vatican II và Tông huấn Người Kitô hữu Giáo Dân, Giáo Hội tại Việt
Nam cần đẩy mạnh việc huấn luyện và thăng tiến anh chị em giáo dân, giúp họ
sống đạo với một trình độ nâng cao về giáo lý, kinh thánh và mục vụ, kể cả về
nghiệp vụ chuyên môn trong các lãnh vực xã hội, để khuôn mặt Chúa Kitô phản chiếu
trên dung nhan Giáo Hội tại quê hương này được thêm sinh động và hấp dẫn.
Giáo Hội tại Việt Nam
còn quan tâm hơn nữa đến đào tạo linh mục và tu sĩ, vì điều này ảnh hưởng rất
nhiều đến tương lai của Giáo Hội. Việc huấn luyện này phải hòa hợp cách sinh
động bốn chiều kích nhân bản, tri thức, tu đức và mục vụ.[103]
Việc đào tạo linh mục và tu sĩ trong Giáo Hội không chạy theo số lượng nhưng
trên hết, huấn luyện họ thành “những người dẫn đường chân chính và phù hợp với
lòng Chúa ước mong cũng như với giáo huấn của Giáo Hội.”[104]
Để được như thế, cần có trái tim mục tử với lòng mến sâu xa đối với Chúa Kitô,
được bộc lộ ra bằng nhiệt tình phục vụ Giáo Hội, một đam mê dành cho việc cứu
rỗi các linh hồn, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Thánh Thể, kết hợp với lương
tâm trong sáng và đời sống tu đức vươn đến trọn hảo. Trong việc đào tạo linh
mục và tu sĩ tại Việt Nam, cần phải làm cho chiều kích truyền giáo lan tỏa vào
mọi môn học và hoạt động, nhờ đó các linh mục và tu sĩ tương lai được củng cố
xác tín và tăng thêm nhiệt tâm truyền giáo, khả năng làm việc chung, sự nhạy
bén trước những dấu chỉ thời đại và tinh thần phục vụ.
c. Giáo Dục
(26) Giáo Hội tại Việt Nam nhất
thiết phải đặt giáo dục thành mối quan tâm hàng đầu, cho dù hiện nay chưa thể
tham gia trực tiếp vào giáo dục học đường. Giáo dục mang tầm quan trọng đặc
biệt, vì không có giáo dục, Tin mừng không thể thấm sâu vào đời sống người dân
cũng như quê hương, đất nước và văn hóa được.[105]
Như thế, giáo dục ở đây vượt xa việc chuẩn bị nghề nghiệp cũng như không chỉ
đóng khung vào học đường, mà phải hướng tới sự phát triển con người toàn diện.
Giáo Hội muốn cống hiến
một nền giáo dục toàn diện liên quan đến việc nâng cao tri thức, gắn chặt với sự
tăng trưởng nhân bản và tâm linh, với mục tiêu là dẫn tới gặp gỡ Đấng Phục sinh,
Con Người Hoàn Hảo. Thật vậy, giáo dục đức tin phải là sợi chỉ xuyên suốt, là tinh
hoa và cùng đích của tất cả nỗ lực giáo dục gia đình, học đường và xứ đạo. Như
vậy, việc dạy giáo lý không chỉ có ý nghĩa chuyển thông những kiến thức khô
khan trừu tượng, hoặc hạn hẹp vào việc lãnh nhận các bí tích, nhưng phải dẫn
đến gặp gỡ Chúa Kitô, nhờ đó việc giáo dục lương tâm, sự hiệp thông và lòng
nhân ái mới đạt mức thành toàn. Trong một xã hội biến chuyển mau lẹ, việc giáo
dục cần nhạy bén để nhận ra và đáp ứng những thay đổi trong các lãnh vực văn
hóa, xã hội.
Sứ vụ giáo dục cần đến sự
hợp lực cộng tác từ gia đình đến giáo xứ, từ cha mẹ đến thầy cô, từ giáo lý viên
đến linh mục tu sĩ. Đặc biệt, gia đình đóng vai trò bất khả chuyển nhượng hoặc
thay thế trong tiến trình giáo dục giúp nhận ra được ơn gọi của con em mình trong
lòng Giáo Hội.
d. Truyền Thông Xã Hội
(27) Đất nước Việt Nam đang
chứng kiến sự bùng nổ của truyền thông. Gắn liền với sự bùng nổ này là một nền
văn hoá mới với những phương tiện truyền thông mới, ngôn ngữ mới, kỹ thuật mới
và tâm lý mới.[106]
Thật vậy, truyền thông ngày nay là một sức mạnh có khả năng hướng dẫn suy nghĩ
và lối sống của quần chúng, đem đến nhiều điều tốt đẹp nhưng đồng thời cũng có
thể gây ra những tác hại và chia rẽ. Ý thức rõ vai trò là thày dạy chân lý,
Giáo Hội cần can đảm và tích cực hơn nữa đi vào lãnh vực này, nhờ những tín hữu
có năng lực chuyên môn cùng với một lương tâm trong sáng được soi dẫn bởi giáo
huấn xã hội của Giáo Hội. Được vận dụng cách chính đáng và hữu hiệu, truyền
thông có thể trở thành phương tiện hữu ích cho việc truyền giáo, xây dựng tình huynh
đệ, loan truyền chân lý và phục vụ Nước Trời. Vì thế, Giáo Hội cần quan tâm
nhiều hơn đến lãnh vực này trong kế hoạch mục vụ của mình ở cấp giáo phận cũng
như cấp quốc gia. Cần đầu tư nhân sự và phương tiện làm việc, đồng thời cần có
sự cộng tác và hợp lực giữa các giáo phận và các dòng tu cũng như giữa các giáo
phận với nhau.
e. Môi Sinh
(28) Nền kinh tế Việt Nam đang
trên đà phát triển. Tuy thế, sự phát triển ồ ạt và thiếu kiểm soát của tiến
trình công nghiệp hóa, mức độ thấp kém của cơ sở hạ tầng, sự yếu kém trong ý
thức trách nhiệm của dân chúng về vệ sinh môi trường, cách tìm lợi nhuận bất
chấp công ích và cả tệ nạn tham nhũng, tất cả những điều đó đã khiến cho môi
sinh của đất nước xuống cấp trầm trọng. Tình trạng ô nhiễm môi sinh đang gây
những hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người dân. Hơn thế nữa, cả tương
lai lâu dài của đất nước cũng bị đe doạ vì việc khai thác và sử dụng những tài
nguyên thiên nhiên không chỉ liên quan đến những con người đang sống hôm nay mà
còn liên hệ đến những thế hệ tương lai.
Bao lâu thiên nhiên và các
tài nguyên thiên nhiên còn bị khai thác chỉ vì lợi nhuận và thoả mãn hưởng thụ
mà thôi, bấy lâu môi sinh còn bị tàn phá trầm trọng. Người Kitô hữu cần “biết chuyên
cần làm việc không những để no cơm ấm áo và góp phần xây dựng xã hội loài người
mà còn để làm rạng danh Cha và mở rộng Nước Trời ngay tại trần thế.”[107]
Thiên Chúa không trao thiên nhiên vào tay chúng ta như những kẻ khai thác không
thương xót nhưng như những người quản lý khôn ngoan và có trách nhiệm.[108]
Do đó, việc bảo vệ môi sinh không chỉ là vấn đề mang tính kỹ thuật đơn thuần
nhưng còn là vấn đề đạo đức. Giáo Hội tại Việt Nam cần phải học hỏi, suy tư và
thực thi những giáo huấn của Giáo Hội về trách nhiệm đối với sự thiện hảo của
những gì đã được Thiên Chúa tạo thành.
4. Gia Đình, Giới Trẻ, Di
Dân : Những Mối Quan tâm
a. Gia Đình
(29) Được thừa hưởng nền văn hóa
đạo hiếu, người tín hữu Việt Nam đã xây dựng truyền thống đức tin vững mạnh gắn
liền với nếp sống gia đình. Gia đình chính là đơn vị đầu tiên và chính yếu của
Giáo Hội đến nỗi được gọi là Giáo Hội tại gia. Nhiều vị tử đạo Việt Nam đã dành
những lời khuyên cuối cùng cho con cháu trong gia đình.[109]
Các thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã phản ánh mối quan tâm đặc biệt
đến mục vụ gia đình.[110]
Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng nền văn minh vật chất ngày nay đã gây ra nhiều
tác động xấu trên gia đình truyền thống. Nhiều gia đình công giáo cũng bị chi
phối. Vì thế, Giáo Hội tại Việt Nam cần canh tân những chương trình mục vụ,
giúp đào tạo ngay từ gia đình những Kitô hữu thánh thiện, nhiệt thành tham gia
các sinh hoạt trong cộng đoàn, tích cực dấn thân làm tông đồ, ươm mầm cho ơn
gọi linh mục và tu sĩ; các giáo xứ cần có chương trình mục vụ tiền hôn nhân
cũng như hậu hôn nhân, để đồng hành với các bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân
cũng như hiện diện với họ trong những lúc gặp khó khăn, thử thách, mời gọi mọi
thành viên thánh hóa cuộc sống gia đình qua việc nâng cao những giá trị đạo
đức, luân lý và nhân bản của đời sống gia đình theo ánh sáng đức tin. Đối
nghịch với phong trào ly dị và phá thai được xã hội tân tiến cổ võ, người công
giáo nhất tâm xây dựng gia đình mình thành Giáo Hội tại gia, nổi bật về sự
chung thủy, yêu thương nhau và sinh sản có trách nhiệm, luôn đón nhận con cái
như món quà quí giá từ Thiên Chúa nhân hậu và quan tâm giáo dục con cái theo
Luật Chúa.
b. Giới Trẻ
(30) Trong những năm gần đây, Giáo
Hội tại Việt Nam đã có kinh nghiệm về việc giới trẻ bị đẩy xa khỏi tầm tay của
mình do tác động của xã hội, văn hoá và lối sống mới. Đồng thời, Giáo Hội cũng
ý thức rằng cách nào đó mình đang để mất dần giới trẻ. Vì thế, những người hữu
trách cần phải canh tân kế hoạch mục vụ giới trẻ để có thể giúp giới trẻ có
hướng đi đúng đắn cho cuộc sống, xây dựng bản thân và phục vụ Giáo Hội và xã
hội. Cần cổ võ phương án “người trẻ làm tông đồ cho giới trẻ” vì người trẻ
không chỉ là đối tượng được chăm sóc mục vụ nhưng chính họ là những chủ thể
năng động, nhiệt thành và đầy sáng tạo trong đời sống cũng như trong cánh đồng
truyền giáo của Giáo Hội. Giáo xứ, các đoàn thể và phong trào giới trẻ nên đồng
hành với người trẻ không những trong việc dạy giáo lý nhưng còn cả trong việc
tư vấn và hướng nghiệp.
c. Di Dân
(31) Việc phát triển đất nước không
đồng đều đã khiến bộ mặt của một số miền thay đổi hẳn. Có những vùng chỉ còn
lại người già và trẻ em, trong khi nhiều nơi đã trở thành quá chật hẹp vì con
số di dân khổng lồ. Việc thay đổi nơi cư trú cũng đã làm thay đổi nếp sinh hoạt
trong các lãnh vực tôn giáo, văn hóa, kinh tế và xã hội, ở nơi người di dân tìm
đến cũng như nơi họ bỏ đi, trên bản thân họ cũng như trên gia đình họ. Giáo Hội
tại Việt Nam phải tiếp nhận dấu chỉ thời đại này, và ứng xử cách khẩn cấp và có
hiệu quả. Cần phải có kế hoạch mục vụ lâu dài nâng đỡ anh chị em di dân hợp
thời và hợp cách, giúp họ hội nhập vào môi trường mới cũng như vào Giáo Hội địa
phương nơi họ sinh sống. Cần thiết lập mối tương quan huynh đệ cũng như sự cộng
tác chân thành giữa các giáo phận và giáo xứ để các hoạt động mục vụ di dân,
cách riêng trong lãnh vực gia đình và giáo dục, biết quan tâm đến việc phục vụ
con người, chứ không phải chỉ để bảo toàn luật lệ. Kinh nghiệm lịch sử dạy
chúng ta rằng khi được quan tâm đúng mức, chính anh chị em di dân sẽ là những
chủ thể tích cực và năng động trong các sinh hoạt mục vụ của Giáo Hội địa
phương, cũng như trong công cuộc loan báo Tin Mừng.
LỜI NGUYỆN DÂNG LÊN ĐỨC
MẸ LA VANG
(32) Lạy Đức Mẹ La Vang,
Chúng con tin tưởng và cảm
nhận Mẹ hằng che chở phù trì Giáo Hội Việt Nam trong mọi chặng đường, khi an vui
cũng như lúc u sầu, khi hân hoan cũng như lúc khó khăn, thử thách.
Mẹ đã từng nâng đỡ và củng
cố đức tin nơi các bậc cha anh chúng con, nay chúng con xin phó thác cho Mẹ ý
chí và nỗ lực canh tân đời sống Giáo Hội trên quê hương đất nước chúng con.
Mẹ đã trao phó trọn vẹn
con người và cuộc đời mình cho Thiên Chúa, xin dạy chúng con biết vun trồng sự kết
hợp với Chúa Giêsu như chi thể với Đầu, siêng năng tham dự Lễ Tạ Ơn cách sống
động và tích cực, và khiêm nhường đón nhận ơn thanh tẩy nơi bí tích Hòa Giải
Mẹ đã ghi nhớ Lời Chúa
và suy đi nghĩ lại trong lòng, xin giúp chúng con biết yêu mến và đêm ngày suy niệm
Lời Chúa, để Lời Chúa nên lương thực nuôi sống và ánh sáng soi đường cho chúng
con.
Mẹ đã hiện diện trong nhà
Tiệc Ly để nâng đỡ các thánh tông đồ, xin Mẹ dạy chúng con biết đón nhận nhau,
cùng nhau xây dựng một Giáo hội hiệp thông, bằng sự cộng tác và đồng trách
nhiệm trong việc thực thi sứ vụ, xứng đáng với danh hiệu là Dân Thiên Chúa,
Thân Mình Chúa Kitô và Đền thờ Chúa Thánh Thần.
Mẹ đã vội vã lên đường đi
thăm bà Elisabeth và giúp đỡ bà trong lúc thai nghén, xin Mẹ dạy chúng con biết
chú tâm đến những khát vọng sâu xa của tha nhân, nhất là những người nghèo khổ
và bất hạnh, để yêu thương phục vụ họ.
Lạy Mẹ La vang, Mẹ chính
là khuôn mẫu lý tưởng của Giáo hội, khi hoàn toàn tự hiến cho công trình cứu
chuộc của Chúa Kitô như người nữ tỳ hèn mọn.[111]
Chúng con xin phó thác cho Mẹ những đường hướng và chương trình mục vụ của Giáo
Hội Việt Nam, như bằng chứng cho sự hoán cải và kiên quyết bước theo Chúa Giêsu
Con Mẹ. Chúng con phó dâng cho Mẹ cả những thiếu sót không thể tránh được của
chúng con, vì tin rằng không ai kêu cầu Mẹ mà lại không được Mẹ trợ giúp.
Xin Mẹ thương chúc lành
cho chúng con và che chở Giáo hội của Chúa Kitô tại Việt Nam bây giờ và mãi
mãi. Amen.
PHẦN II
HƯỚNG ĐI MỤC VỤ
Trên cơ sở những suy tư
thần học đã được trình bày trong phần I, phần II đưa ra một số đề nghị mục vụ
nhằm biến suy tư thành hành động cụ thể, góp phần xây dựng Giáo Hội mầu nhiệm,
hiệp thông và sứ vụ như mục đích chính của Đại hội Dân Chúa.
A. MẦU NHIỆM
(33)
I.
ĐỀ NGHỊ MỤC VỤ 1 :
CỦNG CỐ MỐI HIỆP THÔNG GIỮA
TÍN HỮU VỚI THIÊN CHÚA
1. Định hướng
Để bày tỏ khuôn mặt Giáo Hội là Dân Thiên Chúa,
Thân Mình Chúa Kitô và Đền thờ Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tại Việt Nam cần quan
tâm đến việc tăng trưởng và đào sâu mối hiệp thông của mỗi tín hữu với Thiên
Chúa Ba Ngôi. Đồng thời mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi phải trở thành mẫu mực cho
đời sống Giáo Hội, được thể hiện qua mối tương quan hiệp nhất và yêu thương
giữa các tín hữu với chủ chăn cũng như giữa các tín hữu với nhau. Ở tâm điểm
của mối hiệp thông sâu xa này là bí tích Thánh Thể, vì “không có cộng đoàn Kitô
hữu nào có thể được xây dựng mà không đặt nền tảng và trung tâm nơi việc cử
hành Thánh Thể” (Gioan Phaolô II, Ecclesia
de Eucharistia, số 33). Nhờ cử hành Thánh Thể, ta đón nhận Chúa Giêsu vào
cuộc đời mình, được Lời Người nuôi dưỡng, Mình và Máu Người ban sức mạnh, và
biến đổi chúng ta thành Thân Mình Người là Giáo Hội.
2.Ưu tiên mục vụ
a) Cử hành Thánh Thể: Giáo dân Việt Nam vẫn giữ
được truyền thống tốt đẹp là trung thành với việc dâng lễ mỗi Chúa nhật. Tuy nhiên
các cộng đoàn cần cử hành Thánh Thể cách ý thức, tích cực và sống động hơn.
b) Ân sủng bí tích phải được phát huy trong đời
sống. Lời Chúa phải trở thành ánh sáng soi chiếu và hướng dẫn đời sống tín hữu trên
mọi bình diện : cá nhân, gia đình, cộng đoàn, xã hội.
3. Kế hoạch thực hiện
a) Các linh mục phải dành nhiều thời giờ và năng
lực hơn cho việc giảng Lời Chúa và dạy giáo lý. Khuyến khích và tạo điều kiện
giúp anh chị em tín hữu trực tiếp đọc, học hỏi, chia sẻ Thánh Kinh.
b) Tạo điều kiện và sử dụng những phương pháp thích
hợp để giúp cho mọi thành phần Dân Chúa thấm nhuần giáo lý và học hỏi những
hướng dẫn của Huấn Quyền.
c) Cố gắng duy trì và cổ võ việc cầu nguyện
chung trong gia đình.
d) Vai trò của giáo lý viên: các giáo phận cần cung
cấp những khóa đào tạo thường xuyên cho giáo lý viên, giúp họ chu toàn bổn phận
quan trọng là giáo dục đức tin cho thế hệ trẻ.
(34)
II. ĐỀ NGHỊ MỤC VỤ 2 : HỘI NHẬP VĂN HÓA
1. Định hướng
Trong mầu nhiệm Nhập thể, Con Thiên Chúa đã thật
sự hòa nhập vào nền văn hóa Do thái, đồng thời Người đưa vào đó Tin Mừng là
chính bản thân Người, để mang lại ý nghĩa mới và tính vĩnh cửu cho những gì Người
đã đón nhận. Cũng thế, Giáo Hội tại Việt Nam trân trọng, giữ gìn và phát huy những
giá trị cao đẹp trong nền văn hóa dân tộc. Đồng thời, Giáo Hội nỗ lực đưa những
giá trị cao đẹp của văn hóa đó vào lời kinh tiếng hát, cử hành phụng vụ, trong
cuộc sống hằng ngày cũng như trong ngôn ngữ, suy tư thần học.
2. Ưu tiên mục vụ
a) Trân trọng, học hỏi, giữ gìn và phát huy những
giá trị cao đẹp trong nền văn hóa của dân tộc Việt Nam cũng như trong các tôn
giáo bạn.
b) Tiến hành cuộc đối thoại sinh động giữa Tin Mừng
Chúa Giêsu Kitô và nền văn hóa dân tộc cũng như với các tôn giáo.
3. Kế hoạch thực hiện
a) Trong việc đào tạo chủng sinh, giáo lý viên,
văn hóa Việt Nam phải được đưa vào chương trình học. Cũng vậy, cần phải dành
cho việc tìm hiểu các tôn giáo bạn một chỗ đứng trong chương trình đào tạo nhân
sự cho Giáo hội tại Việt Nam.
b) Thúc đẩy việc nghiên cứu, tìm kiếm hạt giống
Lời Chúa trong văn hóa dân tộc Việt Nam.
b) Đầu tư nhân lực và tài lực cho việc phát huy
nền thần học, phụng vụ, tu đức phù hợp với những sắc thái tích cực trong văn hóa
Việt Nam.
B. HIỆP THÔNG
(35)
II.
ĐỀ NGHỊ MỤC VỤ 3 :
PHÁT HUY SỰ HIỆP THÔNG VÀ
THAM GIA TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI
1. Định hướng
Cắm rễ sâu trong bí tích Rửa tội, được củng cố nhờ
bí tích Thêm Sức và được thường xuyên nuôi dưỡng nhờ bí tích Thánh Thể, tất cả
mọi tín hữu công giáo – giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân – đều có trách nhiệm
tham gia vào việc xây dựng Giáo Hội và chu toàn sứ vụ của Giáo Hội là loan báo
Nước Thiên Chúa. Để thực hiện được yêu cầu này, Giáo Hội cần đánh giá lại và
canh tân những cơ cấu hiện có, đồng thời đặt ra những cơ cấu mới nhằm thúc đẩy
sự tham gia và hợp tác rộng rãi hơn giữa mọi thành phần Dân Chúa. Có như thế,
Giáo Hội tại Việt Nam mới thực sự là Giáo Hội hiệp thông và tham gia.
2.Ưu tiên mục vụ
a) Thúc đẩy và hình thành những cấu trúc tạo
điều kiện cho sự hợp tác giữa giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân. Cổ võ và phát huy
những đoàn sủng nhằm phục vụ sự hiệp nhất sinh động của Giáo Hội.
b) Thúc đẩy và hình thành những cấu trúc tạo điều
kiện cho sự hợp tác giữa các giáo phận với nhau, giữa các giáo phận và các dòng
tu cũng như giữa các dòng tu với nhau.
3. Kế hoạch thực hiện
a) Cấp giáo xứ
- Hoàn chỉnh cơ cấu Hội Đồng Giáo Xứ theo đúng giáo
luật và thích hợp với hoàn cảnh địa phương.
b) Cấp giáo phận
- Trong Giáo phận hãy làm sao để mức sống của các
linh mục phải tương đối bằng nhau;
- Giáo phận cần có kế hoạch mục vụ chung với định
hướng và quy định cụ thể, thay cho lối làm mục vụ riêng rẽ tùy vào mỗi địa phương
hay mỗi giáo xứ.
- Thành lập những cơ cấu hoạt động và tham vấn của
giáo phận, bắt đầu từ những tổ chức theo quy định của giáo luật như Hội đồng
Linh mục, Hội đồng mục vụ, Hội đồng tài chính…
c) Cấp quốc gia
- Các Giáo phận hãy hỗ trợ nhau về nhân lực cũng
như tài chánh, nếu có thể;
- Các Ủy ban trực thuộc Hội Đồng Giám Mục cần hợp
tác với nhau chặt chẽ hơn. Hội Đồng Giám Mục cần đầu tư nhân lực và tài lực cho
các Ủy ban nhiều hơn. Trong các ủy ban này, hãy cố gắng sao cho sắc thái và tiếng
nói được đa dạng hơn, nhưng cũng không bỏ qua tính chất hiệu quả.
- Xây dựng trụ sở chính thức của Hội Đồng Giám Mục
với Văn phòng Tổng thư ký HĐGM và các văn phòng của các Ủy ban để dễ làm việc
chung.
- Hãy làm sao để sự hợp tác của các dòng tu trong
các giáo phận được phong phú hơn.
- Hội Đồng Giám Mục cần đặt một phát ngôn viên chính
thức để kịp thời thông tin và bày tỏ lập trường của HĐGM trước những vấn đề
liên quan đến đời sống Giáo Hội.
(36)
III.
ĐỀ NGHỊ MỤC VỤ 4 : ĐÀO TẠO NHÂN SỰ
1. Định hướng
“Chức tư tế thừa tác là để phục vụ chức tư tế cộng
đồng, giúp làm tăng trưởng ân sủng Phép Rửa nơi mọi Kitô hữu” (GLHTCG số 1547).
Ân sủng Phép Rửa này vừa là nền tảng vừa là bầu khí quyển bao trùm mọi công
việc phục vụ và lãnh đạo trong Giáo Hội. Do đó những người được trao trách nhiệm
phục vụ và lãnh đạo trong Giáo Hội – giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân – cần
được đào tạo kỹ lưỡng và thường xuyên, để họ có thể chu toàn sứ mạng cao cả là
phục vụ sự tăng trưởng của ân sủng Phép Rửa nơi mọi tín hữu và loan báo Lời
Chúa cho mọi người.
2. Ưu tiên mục vụ
a) Thúc đẩy mạnh mẽ hơn sự cộng tác giữa giáo sĩ,
tu sĩ và linh mục trong việc điều hành giáo xứ cũng như trong các công tác mục
vụ.
b) Trong chương trình đào tạo linh mục, tu sĩ và
giáo dân, cần nhấn mạnh đến tinh thần hợp tác và làm việc chung. Nên để ý đến
vai trò và sự tham gia của giáo dân vào tiến trình đào tạo linh mục tu sĩ.
3. Kế hoạch thực hiện
a) Các giáo xứ đầu tư cho việc dạy giáo lý như ưu
tiên hàng đầu
b) Thiết lập và tổ chức học viện thần học trực thuộc
Hội Đồng Giám Mục nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu, đào tạo và giảng dạy khoa học
thánh cách chuyên sâu hơn.
b) Giáo Hội Việt Nam nên hình thành Học viện
Giáo lý để đào tạo các chuyên viên giáo lý cũng như nghiên cứu những phương thế
thích hợp trong việc giáo dục đức tin.
c) Các Trung tâm mục vụ tại các giáo phận tạo điều
kiện cho những anh chị em tín hữu muốn nâng cao kiến thức Thánh Kinh, thần học
và mục vụ, để họ tham gia vào đời sống của Giáo Hội cách tích cực và hiệu quả
hơn.
C. SỨ VỤ
(37)
IV.
ĐỀ NGHỊ MỤC VỤ 5 :
LOAN BÁO TIN MỪNG TRONG
HOÀN CẢNH NGÀY NAY
1. Định hướng
Mọi tín hữu công giáo đều được kêu gọi và có
trách nhiệm tham gia vào sứ vụ của Giáo Hội, bắt nguồn từ chính sứ vụ của Chúa
Kitô trong Chúa Thánh Thần. Tâm điểm của sứ vụ này là loan báo Tin Mừng Chúa
Giêsu bằng cả con người và cuộc đời mình. Sứ mạng loan báo Tin Mừng cần được
thực hiện ở cả ba mức độ. Mức độ thứ nhất là đón nhận và để cho Tin Mừng thấm
nhập vào tất cả đời sống Kitô hữu, do đó đòi hỏi tín hữu phải thường xuyên hoán
cải và trở về với Chúa. Mức độ thứ hai là đem Tin Mừng đến cho người khác qua
lời rao giảng cũng như qua đời sống làm chứng cho Chúa và Tin Mừng của Người.
Mức độ thứ ba là đem những giá trị của Nước Thiên Chúa – Vương quốc của sự thật,
thánh thiện, công chính, yêu thương, hòa bình – thấm nhập và biến đổi mọi lãnh vực
trong đời sống con người.
2. Ưu tiên mục vụ
a) Ý thức thừa sai: Gây ý thức nơi người tín hữu
và các cộng đoàn tín hữu (giáo xứ, tu viện) để họ không chỉ bằng lòng với việc
chu toàn các việc đạo đức nhưng còn quan tâm đến việc làm chứng cho Chúa và Tin
Mừng.
b) Truyền giáo không chỉ là một trong những hoạt
động của Giáo Hội nhưng tinh thần truyền giáo cần thấm nhập vào mọi lãnh vực
trong đời sống Giáo Hội.
3. Kế hoạch thực hiện
a) Tái lập quỹ truyền giáo của mỗi giáo phận do
đóng góp từ các giáo xứ. (Luật riêng của Địa
Phận Hà Nội 1941, số 120 trg.67).
b) Mỗi giáo phận và dòng tu nên dành riêng một số
nhân sự toàn tâm toàn lực chuyên lo việc truyền giáo.
b) Theo hoàn cảnh cụ thể, mỗi giáo phận quan tâm
đến việc đào tạo nhân sự và vận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại vào
việc loan báo Tin Mừng.
c) Anh chị em di dân là đối tượng cần được quan
tâm đặc biệt trong công tác mục vụ của các giáo xứ và cộng đoàn dòng tu.
(38)
V.
ĐỀ NGHỊ MỤC VỤ 6 : CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC THI BÁC ÁI
1. Định hướng
Người Kitô hữu không sống đức tin cách trừu tượng
nhưng cách cụ thể trong môi trường xã hội với những vấn đề của nó. Vì thế,
chính đức tin đòi hỏi họ phải quan tâm đến các vấn đề xã hội. Hơn thế nữa, góp
phần phục vụ sự phát triển toàn diện của con người và xã hội là thành tố thiết
yếu của sứ mạng loan báo Tin Mừng. Vì thế, mỗi Kitô hữu nói riêng và cộng đoàn
giáo hội nói chung phải quan tâm đến các vấn đề xã hội, nhất là công lý và công
ích vốn là nền tảng của lòng bác ái chân thật (x. Caritas in veritate). Góp phần loại bỏ những cơ cấu bất công và kiến
tạo công bằng trong xã hội là góp phần xây dựng Nước Thiên Chúa trên trần gian.
2. Ưu tiên mục vụ
a) Xây dựng ý thức về công bằng và trách nhiệm nghề
nghiệp cũng như bác ái.
b) Cộng tác với các tổ chức xã hội và các tổ chức
tôn giáo khác trong việc xây dựng một xã hội lành mạnh, công bằng và nhân ái.
b) Quan tâm đặc biệt đến việc bảo vệ phẩm giá con
người, nhất là những người nghèo khổ và bất hạnh.
3. Kế hoạch thực hiện
a) Tìm cách phổ biến rộng rãi giáo huấn xã hội của
Giáo Hội đến mọi thành phần Dân Chúa.
b) Trong tình hình đời sống nhân bản và đạo đức
nơi giới trẻ sa sút trầm trọng, giáo xứ cần quan tâm nhiều hơn đến việc giáo dục
nhân bản, cách riêng trong các lớp giáo lý. Ủy ban Giáo Lý Đức Tin và Ủy ban
Giáo dục nên phối hợp với nhau để cung cấp tài liệu hướng dẫn công việc quan
trọng này.
c) Huấn luyện người tín hữu làm việc bác ái theo
tinh thần Phúc Âm. (Công đồng Đông Dương
số 350).
d) Tái lập quĩ bác ái và khuyến học của giáo xứ
(Luật riêng Địa phận Hà Nội, số 117,
118, 120, trg. 65-67; Luật riêng của Địa Phận
Saigòn, chapitre 4, trg 266).
[1] x. Vatican II, DV 1; cũng xem Ủy Ban Giáo lý Đức Tin (từ
đây: UBGLĐT) trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt
[2] x. Đức Gioan Phaolô II, Sứ điệp gởi hàng Giám mục Việt Nam kỷ niệm 25
năm thành lập, 1960-1985; HĐGMVN, Tài
liệu mục vụ chuẩn bị mừng năm thánh 2000, số I.2; Thư chung 1980, số 15.
[3] x. HĐGMVN, Đề án: Cộng Đồng Dân Chúa Việt Nam cử hành
năm thánh 2010, phần I; Cộng Đồng Dân
Chúa Việt Nam cử hành năm thánh 2010, Nội qui, Phần I; cũng xem Đức
Bênêđictô XVI, Huấn từ trong buổi triều yết
dành cho các Giám mục Việt Nam dịp Ad Limina 2009.
[4] x. Thánh Bộ Giáo Lý Đức
Tin, Letter to the Bishops of the
Catholic Church on some aspects of the Church understood as Communion – Communionis notio , May 28, 1992; cũng xem HĐGMVN, Thông cáo 1986; Thư chung
1989; Đức Gioan Phaolô II, Diễn từ gởi
hàng Giám Mục Việt Nam nhân dịp Ad Limina, 1990; Ủy ban Giáo dân (từ đây:
UBGD) trực thuộc HĐGMVN, Tài liệu Vai trò
của người giáo dân trong Giáo Hội Việt Nam 50 năm qua, trg 1.
[5] x. Vatican II, LG 23; Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Letter to the Bishops of the Catholic Church on some
aspects of the Church understood as Communion – Communionis notio , May 28, 1992, số 9; FABC I, 9 trong For
All Peoples in Asia (từ đây, For All) vol. 1, Claretian Publications, Quezon (1992) trg.
14.
[6] x. HĐGMVN, Thư chung 1989.
[7] HĐGMVN, Thư chung 1980, số 9.
[8] x. Ủy ban Giáo dân (từ đây
UBGD) trực thuộc HĐGMVN, Tài liệu Vai trò
của người giáo dân trong Giáo Hội Việt
[9] x. UBGD trực thuộc
HĐGMVN, Tài liệu Vai trò của người giáo dân
trong Giáo Hội Việt
[10] x. Đức Gioan Phaolô II, Diễn từ gửi hàng Giám Mục Việt
[11] x.
[12] x.
[13] x. Đức Gioan Phaolô II, Diễn từ gửi hàng Giám Mục Việt Nam dịp Ad
Limina 24/11/1990, số 4-6; HĐGMVN, Thư
chung 1991, V-VII; UBGD trực thuộc HĐGMVN, Tài liệu Vai trò người giáo dân 50 năm qua, trg 2.
[14] x. Vatican II, GS 40-41; Đức Phaolô VI, Evangelii nuntiandi (EN), số 19-20; Đức
Gioan Phaolô II, Redemptor hominis (RH), 12, 21; Đức Bênêđictô XVI, Deus caritas est (DCE), 21, 29; FABC IV,
1, 7, (For All, vol. 1, trg 275);
HĐGMVN, Thư chung 1980; x. UBGD trực thuộc
HĐGMVN, Tài liệu Vai trò người giáo dân
50 năm qua, trg 7.
[15] x. Đức Gioan Phaolô II, Diễn từ gửi hàng Giám Mục Việt
[16] Đức Bênêđictô XVI, Tông huấn
Sacramentum caritatis (SC) 14;
[17] Đức Bênêđictô XVI, SC 3.
[18] x. Vatican II, LG 23; SC 41-42.
[19] x.
[20] x. Vatican II, LG 7; Đức Gioan Phaolô II, Dominum et vivificantem (DV), 2-3,
53-54.
[21] HĐGMVN, Tài liệu mục vụ chuẩn bị mừng năm thánh 2000,
II, b. năm thứ hai (1998): Chúa Thánh Thần; cũng x. Đức Gioan Phaolô II, Redemptoris Missio (RM), 21, 24-26, 37-38.
[22] x. HĐGMVN, Tài liệu mục vụ chuẩn bị mừng năm thánh 2000,
II, b. năm thứ hai (1998): Chúa Thánh Thần; cũng x. Đức Gioan Phaolô II, DV, 56, 6-7, 66.
[23] x. HĐGMVN, Thư chung 2003, số 2; Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam 2010, số
8; LG 4; Đức Phaolô VI, “Opening
Address of the Second Session” trong Council Speeches of Vatican II, biên
soan do Hans Kung, Yves Congar và Daniel O’Hanlon, Deus Books, NY, (1964), trg.
19; Thánh Augustinô, In Iohannis
Evangelium Tractatus, 26,5; PL
35, 1609.
[24] Cũng x. Kinh Tin kính Nicea-Constantinople.
[25] Vatican
[26] Vatican
[27] x. Các Giám Mục Việt
Nam, Thư chung 1952; nhất là Thư chung 1953, số B.
[28] x. Vatican II, LG 8; Đức Phaolô VI, The Teachings of Pope Paul VI,
Publications Office, United States Catholic Conference, Washington D.C (1973),
trg. 284; HĐGMVN, Đề cương Giáo hội tại Việt
Nam 2010, số 12. [x. footnote 22;
cũng x. Đức Gioan Phaolô II, DV, 50.]
[29] Đức Gioan Phaolô II, Ecclesia de Eucharistia (EE), 35.
[30] x. Đức Gioan Phaolô II, RH 1, 7-9; Dives in Misericordia (DM) 2, 7; Đức Bênêđictô XVI, DCE 12.
[31] Epist. Ad Diognetum, Nn 5-6; Funk,
397-401; cũng x. Gioan Kim Khẩu, Homilies
on the Gospel of St. Matthew, bài giảng 46 (47), 2: PG 58, 478 về men trong bột.
[32] x. Asian Colloquium on
Ministries in the Church, 24-26 (For All,
vol. 1, trg 72); HĐGMVN, Đề cương Giáo Hội
tại Việt Nam 2010, số 30-31.
[33] x. Asian Bishops’
Meeting, Resolutions of the Meeting,
(For All, vol.1, trg 8-10); FABC I,
25-28, 33, 46. (For All, vol.1, trg
16-19); FABC V, 3-4, (For All, vol.1,
trg 279-282).
[34] HĐGMVN, Thư chung 1992, số 9.
[35] x.
[36] x. HĐGMVN, Thư chung 1980; Thư chung 1989.
[37] HĐGMVN, Thư chung 1992, số 19; cũng x. HĐGMVN, Thư chung 1989; Đức Phaolô VI, The Teachings of Pope Paul VI, 1970,
trg. 192.
[38] x. HĐGMVN, Đề cương Giáo hội tại Việt Nam 2010, số
30; FABC V, 9.1, (For All, vol. 1,
trg 288); FABC V, 6.2, (For All, vol.
1, trg 283).
[39] Đức Bênêđictô XVI, DCE 18.
[40] x. Thánh Augustinô, Confessions, cuốn I, cách riêng Confessions,
III, 6, 11; Đức Gioan Phaolô II, DV 32; RH 9-17.
[41] Đức Bênêđictô XVI, DCE 31.
[42] x. Vatican II, LG 9; Đức Bênêđictô XVI, DCE 40-42, 32-35.
[43] x. Thánh bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngôn Dominus
Iesus (6/8/2000).
[44] x. HĐGMVN, Thư chung 2005, số 9; Thư chung 2004, số 4.
[45] Bênêđictô XVI, diễn từ tại
[46] x. Vatican II, GS 38-39; Đức Bênêđictô XVI, Spe Salve (SS), 23-26; HĐGMVN, Tài liệu
mục vụ chuẩn bị năm thánh 2000, II, năm thứ hai: Chúa Thánh Thần.
[47] x. GS 39.
[48] Sách lễ Roma, Kinh Tiền Tụng
lễ Chúa Kitô, Vua Vũ trụ.
[49] HĐGMVN, Thư chung 1999, số 2; cũng x.
[50] x. Vatican II, LG 1; GS 45.
[51] x. Lời kinh “Ubi caritas Deus ibi est”; Đức Gioan
Phaolô II, Ut unum sint, 5-6; Asian
Bishops’ Meeting, 22, (For All, vol.
1, trg 6).
[52] x. Đức Gioan Phaolô II, Novo Millennio Ineunte 42.
[53] x. Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng tại Fatima, ngày 14 tháng Năm,
2010; Diễn từ nói cho các Giám Mục Bồ Đào
Nha ngày 13 tháng Năm, 2010.
[54] x. Thánh Augustinô, Sermo 227, 1: PL 38, 1099; Đức Gioan Phaolô II, EE 22; Đức Bênêđictô XVI, SC
36-37.
[55] x. Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Lễ Chúa Thánh Thần; Thánh Bộ Giáo
Lý Đức Tin, Letter to the Bishops of the Catholic Church on some
aspects of the Church understood as Communion – Communionis notio, May 28, 1992.
[56] x. Vatican II, LG 5; cũng x. Thánh Irenê, Adversus Haereses, 5. 20 (ANF p. 561), Adversus Haereses, 5. 12 (ANF p. 943), Adversus Haereses, V, 14, 1; cf. V, 14,
2.
[57] x. BISA VI, 18-19, (For All,
vol. 1, trg 226-7); BISA VII, III-V, (For
All, vol. 1, trg 231-233); BIRA IV/2, I-II, (For All, vol. 1, trg 251-253); FABC IV, (For All, vol. 1, trg 178-198).
[58] x. Vatican II, GS 22; 45; cũng x. Đức Bênêđictô
[59] x.
[60]
X. Vatican II, DV 25; PC 6
[61]
X. Thượng
Hội Đồng Giám Mục, Sứ điệp
gởi Dân Chúa của Thượng Hội
Đồng Giám Mục lần XII, số 4-10.
[62] X. Thượng Hội Đồng Giám Mục, Sứ điệp gởi Dân Chúa của Thượng Hội Đồng Giám Mục lần XII, số 10-15
[63] LG23; được trích lại trong
sách GLCHTCG số 882.
[64] x. Đức Gioan Phaolô II, Ecclesia in
[65] x. Đức Bênêđictô XVI, Huấn từ cho các Giám Mục Việt
[66] x. HĐGMVN, Thư chung 1989; Thư chung 1992; Đức Gioan Phaolô II, Diễn từ gửi hàng Giám Mục Việt
[67] Vatican II, LC 23; cũng
x. HĐGMVN, Thư chung 2004, số 9; Đề cương Giáo hội tại Việt Nam 2010, số
21; FABC V, 8.0, (For All, vol. 1,
trg 287).
[68] x. Sách lễ Roma, Kinh tiền
tụng lễ Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ.
[69] x. Đức Bênêđictô XVI, Huấn từ trong buổi triều yết dành cho các Giám
mục Việt
[70] x. Vatican II, LG 1; Đức Gioan Phaolô II, EA 24-25, 27.
[71] Đức Phaolô VI, Sứ điệp gởi hàng Giám mục, Linh mục, và Giáo
dân Việt Nam 1966; Đức Gioan Phaolô II, Diễn
từ gửi Hàng Giám mục Việt Nam dịp Ad Limina 24/11/1990.
[72] x. HĐGMVN, Thư chung 1980, số 10; Thư chung 1989.
[73] x. FABC I, (For All, vol. 1, trg 11-19) II (For All, vol. 1, trg 27-38), III (For All, vol. 1, trg 49-61), IV (For All, vol. 1, trg 177-201), V (For All, vol. 1, 273-289).
[74] x. Đức Bênêđictô XVI, DCE 28; HĐGMVN, Thư chung 1991; Các Giám Mục Việt Nam, Thư chung 1952; Thư chung
1953; Thư luân lưu 1964; Hội Nghị
Giám Mục Miền Nam Việt Nam, Thư chung
1976, số 5.
[75] x. Vatican II, GS 28; Đức Gioan Phaolô II, DM 6; Đức Bênêđictô XVI, DCE, 18.
[76] x.
[77] x. Đức Gioan Phaolô II, EA 31.
[78] x. Đức Gioan Phaolô II, EA 31.
[79] Đức Bênêđictô XVI, DCE 31.
[80] Đức Gioan Phaolô II, EA 1; Đức Bênêđictô XVI, DCE 31; Đức Phaolô VI, EN 26, 41.
[81] x. Đức Bênêđictô XVI, DCE 25-26; Điện văn gởi các tín hữu
Achentina ngày 25 tháng Tám, 2010.
[82] Đức Bênêđictô XVI, Huấn từ cho HĐGMVN, Ad Limina 2009; cũng
x. DCE 19-24.
[83] Thánh Augustinô, Ps 148,
1-2; CCL 40, 2165-2166.
[84] x. Các Giám mục Việt
[85] x. LM Đào Trung Hiệu, Các thánh Tử Đạo Việt
[86] x. HĐGMVN, Kinh Năm
thánh 2010.
[87] x. Các Giám Mục Miền Nam
Việt Nam, Thư chung mùa chay 1960.
[88] Đức Bênêđictô XVI, Huấn từ cho các Giám mục Việt
[89] x. Đức Phaolô VI, EN 41.
[90] x. HĐGMMNViệt Nam, Thông cáo 1966; Thư gửi toàn thể Giáo hữu Công giáo Việt
[91] x. HĐGMMNViệt Nam, Thư luân lưu 1969.
[92] x. Vatican II, GS 40; cũng x. HĐGMVN, Thư chung 1999, số 2.
[93] x. HĐGMVN, Thư chung 1980, số 11; Thư chung 2001, số 14; Thư chung 2003, số 9; Thư chung 1998, số 13.
[94] HĐGMVN, Thư chung 1998, số 5.
[95] HĐGMVN, Thư chung 1998, số 6.
[96] x. Đức Bênêđictô XVI, Sứ điệp nhân ngày Quốc tế Truyền Thông Xã Hội,
ngày 24 tháng Giêng, 2009.
[97] x. Đức Gioan Phaolô II, Splendor veritatis 1-5, 54-63. Huấn từ cho các giám mục Việt
[98] x. Vatican II, GS 44; FABC/BISA VII, 11 (For All, vol. 1, trg 231-2);
Consultation on Christian Presence Among Muslims in
[99] x. Đức Bênêđictô XVI, DCE 18.
[100] Đức Phaolô VI, EN 22.
[101] x. Đức Gioan Phaolô II, EA 24.
[102] Đức Gioan Phaolô II, EA 23.
[103] x. Đức Gioan Phaolô II, Pastores dabo vobis 43-59.
[104] Đức Bênêđictô XVI, Huấn từ cho HĐGMVN, Ad Limina 2009; cũng
x. Cuộc đối thoại “hỏi-đáp” của các linh mục
với Đức Bênêđictô XVI trong ngày bế mạc năm linh mục 11, tháng Sáu, 2010.
[106] x. Gioan Phaolô II, RM
37; Đức Bênêđictô XVI, Sứ điệp nhân
ngày Quốc tế Truyền Thông Xã Hội, ngày 24 tháng Giêng, 2009.
[107]
Sách lễ Roma, Kinh tiền tụng thánh lễ
ngày Mồng Ba Tết – thánh hóa công ăn việc làm.
[108] x. Đức Gioan Phaolô
II, EA
41. Đức Bênêđictô XVI, Caritas in
veritate.
[109] x. LM Đào Trung Hiệu, Các thánh Tử Đạo Việt
[110] x. HĐGMVN, Thư chung 2002; Thư chung 2006, số 10; Thư
chung 2007, số 28, 29; Đề cương Giáo hội
tại Việt Nam 2010, số 35-39.
[111]
X. Sách lễ Roma, Kinh tiền tụng Lễ Đức Maria, Nữ Tỳ của Chúa.