NIỀM TIN NƠI NGƯỜI ANH EM KƠHÔ
Kala, ngày 14/02/2003
Trọng kính Đức Cha,
Con viết những dòng sau đây vì vâng lời Đức Cha. Nhưng con cũng cám
ơn Chúa và đội ơn Đức Cha, vì qua việc vâng lời này, Thiên Chúa qua ý Đức Cha đã
nhắc nhở và dạy dỗ con thêm rất nhiều điều.
Đức Cha muốn con trình bày đôi nét những điều con đã, đang và sẽ còn
thực hành trong công việc Mục Vụ Truyền Giáo của con tại Giáo xứ Kala, nói đúng
hơn là cho anh em dân tộc Kơho-Sre tại đây.
Lần đầu tiên con viết một đề tài không qua trường lớp đào tạo, không
có tư liệu tham khảo, nên chắc chắn sẽ có nhiều lủng củng, và coi chừng còn trái
ngược với các đàn anh đi trước. Đối với người khác là một điều đáng e ngại, nhưng
với con lại không thành vấn đề, vì con viết cho Đức Cha, người hiểu biết con không
nói dối lòng mình và Đức Cha.
Nói kiểu khác, qua cuộc sống chung với anh em Kơho trong 34 năm
qua, con đã được cảm nghiệm sâu sắc đến nỗi có thể đụng chạm và gần như nắm bắt
được ít nhiều cái tình cảm, cái tâm thức, kể cả các ý đồ … của con người Kơho
qua các kiểu diễn tả, lời nói cũng như hành xử. Vậy là chính anh em Kơho đã dạy
con về họ, và con viết về họ như một kinh nghiệm sống. Trước hết nó là những chứng
từ một cuộc tình đã được Thiên Chúa quan phòng liên kết. Ngoài ra tự nó cũng có
một giá trị khách quan mà bất cứ ai có hiểu biết muốn kiểm nghiệm là còn có thể
bắt gặp.
Truyền Giáo nói
chung là đem điều mình học hỏi, tin, sống … trình bày cho người khác. Truyền Giáo
theo nghĩa đạo Công giáo là đem Tin Mừng của Chúa Giêsu mà mình đã học hỏi, tin
theo và sống chết đến với muôn dân.
Giáo lý cũng
như phương thế … đều là của Chúa Giêsu. Mỗi môn đệ đều phải chăm chỉ học nơi Ngài,
nghiền ngẫm để sống cho chính mình và đem áp dụng, trình bày vào những hoàn cảnh
và những con người cụ thể.
Giáo hội Công
giáo đã thực hành mệnh lệnh này của Chúa Giêsu suốt 20 thế kỷ qua. Bề dày kinh
nghiệm này càng ngày càng là bảo chứng cho những người con ý thức và dấn thân.
Con tuyên xưng
mình đã đi, đang đi, và con đi cho đến chết trong đường hướng này. Cụ thể là
qua việc “Sai đi” và những lần thăm viếng, nhắc nhở, khích lệ của các vị Chủ Chăn
Giáo phận. Đặc biệt là của Đức Cha trong những năm gần đây.
Chắc chắn con
còn nhiều điều thiếu sót, kể cả những sai lầm, đôi khi bảo thủ. Nhưng Đức Cha
biết con vẫn luôn ham muốn tìm kiếm, suy nghĩ và đem ra thực hành ngay cho
chính bản thân mình.
Con muốn xin Đức
Cha ngó qua lịch sử ơn gọi của con đôi chút. Vì chính nó đã tết bện nên con người
Linh Mục của con hôm nay. Con cũng ráng bắt chước các anh chị em con trong các
dịp kỷ niệm ơn gọi của mình để nói lên điều : cuộc đời con là một Hồng ân Thiên
Chúa ban. Vì với con, Hồng ân cũng có cái giá của nó. Bố con bị bệnh dịch qua đời
trước khi con sinh ra. Di cư năm 1954 với mẹ con và vài người thân. Đến Blao
thì mẹ con tắt thở ngay trong lúc hai mẹ con đang ôm lấy nhau, sau khi bà đeo
cho con cỗ tràng hạt của bà, và trao cho con một túi nhỏ đựng tiền lận trong lưng
(25 đồng lúc đó). Con coi đó là gia tài hồn xác của bà trao cho con.
Sau khi an táng
mẹ, con lao mình vào cuộc sống tự lập mưu sinh : gói bánh chưng bán dạo ở chợ và
bến xe Blao ; làm cỏ thuê ở Phẹc. Niên khoá 1955-1956, con được gia nhập lớp đệ
thất Tiểu Chủng viện Chân phúc Liêm của Hải Phòng, lúc đó ngụ tại thôn Bình Đức,
tỉnh Mỹ Tho … và đời tu của con cứ dần dần lớn lên cho tới khi làm Linh Mục ngày
01/05/1969.
Mọi chi phí
cho 14 năm tu trì này là do chị cả và anh kế con đài thọ một phần nhỏ, còn lại
là do con đi làm thuê hoặc dạy học trong các kỳ hè.
Vì con vào Chủng
viện hơi muộn, 18 tuổi mới vào đệ thất, nên tự nhiên con cũng phải có một nỗ lực
hơn các bạn cùng lớp lại ít tuổi. Châm ngôn của con ngay từ khi vào Chủng viện
cho đến hôm nay vẫn như một : Chỉ vì Tin Yêu.
Sáng ngày
06/05/1969, Đức Cha Simon Hoà-Hiền đưa con vào nhà nguyện riêng Chầu Mình Thánh
Chúa. Hai cha con quỳ bên nhau. Sau khoảng 15 phút thinh lặng, Đức Cha tâm sự với
con ít phút trước mặt Chúa. Kế đó ngài dẫn con về phòng riêng, ngài viết
“Litterae nominationis”, và ký tên, đóng dấu. Ngài bảo con xem và cho ý kiến. Còn
ý kiến gì nữa phải không Đức Cha. Từ lúc Đức Cha cầm tay dắt vào nhà nguyện, chỉ
chỗ cho quỳ và ngài quỳ bên cạnh, con đã hình dung thấy có điều gì khác thường
rồi. Tâm trạng con xôn xang, nhưng quyết tâm thì rất rõ ràng, là sẽ hết mình làm
theo ý Chủ Chăn của Giáo phận.
Trước đó con đã
thấy anh em dân tộc nhiều lần, nhưng chưa một lần tiếp xúc, chưa hề bước chân vào
một làng Thượng nào dù chỉ là để chơi.
Ngay sau khi
lãnh sứ vụ, con về gặp Cha xứ Di Linh, cha Giuse Phùng Thanh Quang, ngài chở
con vào thăm Kala liền. Cha Phêrô Trần Văn Khoa đang phụ trách ở đây.
Ngày
07/07/1964, con chính thức đem đồ lề trên một chiếc xe “lam” vào. Theo con có
cha Đaminh Lãng (sau này làm Giám mục Xuân Lộc), chị cả con khóc sướt mướt, và
vài người bạn. Cha Lãng có khuyên chị con mấy câu mà con còn nhớ mãi : Đức Cha
Hiền là người đạo đức và khôn ngoan, ngài liệu cơm gắp mắm, liệu con gả chồng,
nên phải tin đây là chỗ tốt nhất cho em nó ở và thi hành sứ vụ.
Sau khi dâng
Thánh lễ lần đầu tiên tại nhà thờ dân tộc với khoảng 100 giáo dân dân tộc, (lúc
đó chỉ có vậy, nếu cộng tất cả người ở nhà cũng chỉ khoảng non 200 giáo dân). Tất
cả ra trước nhà thờ chào nhau, uống thử rượu cần. Con có cảm giác như mình lạc
vào một nơi xa lạ cả về cảnh lẫn về người.
Đầu năm 1970,
cha Phêrô Trần Văn Khoa đi tìm đất mới (Đinh Trang Hoà), đem theo cả nhân sự và
phương tiện ….. trừ vài ba người tình nguyện ở lại.
Những biến cố
trên, một đàng là những kỷ niệm khó quên, một đàng con cảm thấy như tiếng Chúa âm
thầm thôi thúc bắt tay vào việc kẻo muộn.
Song song với
mục vụ và xã hội, con bắt đầu bập bẹ học tiếng. Nhờ có một số giáo viên thượng,
cũng là giảng viên giáo lý giúp, sau hơn một năm học tiếng, thăm nom hết mọi nhà,
dự các buổi lễ hội, đi làm rẫy, đi cày ruộng, kể cả đi hết các vùng đồi núi rừng
chung quanh, con đã có thể nói chuyện thông thường với anh em. Các năm sau đó là
bắt đầu tự mình ghi ký, gặp gì ghi nấy. Lúc đầu có hơi tản mạn, lần lần đi vào
nề nếp. Lúc đầu có tính tò mò, rồi thích thú, và kế đến là gần như đam mê.
Cho đến cách đây
hơn 10 năm, con đã nhờ đi thu băng được trên 500 cuộn băng, và đã nhờ anh em
nghe lại lựa lọc và chép ra được một số lớn. Số còn lại mới đây nhất thì còn lại
ở trong băng.
Mười năm trở
lại đây con đọc lại qua một lần các tư liệu thành văn đó và bắt đầu thử hệ thống
hoá, đề tài nào ra đề tài ấy. Nhưng thú thực cũng chỉ làm được một số đề tài
chung chung. Vừa làm vừa đi học hỏi thêm các cụ già … Các đề tài chung chung đó
là :
1. Phong tục tập quán :
các nghi thức và cầu nguyện, các cách làm ăn, việc sinh đẻ, kết hôn, an táng.
2. Truyện cổ, đặc biệt các
truyện có tính lịch sử.
3. Ca dao, tục ngữ … gồm
đủ mọi thể loại, và câu đố.
4. Các loại trường ca :
về cuộc sống, tình yêu, đức huấn ca … thơ truyện và truyện thơ.
5. Bản các án lệ và các vấn đề có liên
quan trong khi xét xử.
Tất cả mọi sự
con đã làm trên đây chỉ có ý nói lên một điều là con muốn cái hồn sống của anh
em dân tộc thấm nhập vào con, và con đem cái hồn sống của con vào cái hồn sống
của anh em con, cho nó hoà quyện với nhau. Từ “hội nhập” hay “nhập thể” con hiểu
cả hai chiều. Tình yêu sẽ được đáp trả bằng tình yêu. Động cơ tự nó khởi động và
tiến tới. Rất mệt nhưng cũng rất hạnh phúc, thưa Đức Cha.
Bây giờ con
xin đi vào chính đề tài mà Đức Cha muốn con viết. Kết luận hay hệ luận đã có ở
mấy trang trên, và sẽ tiếp nối qua những trang sau, trong khi trình bày.
Nói về một dân tộc rất nghèo di chỉ, về một ngôn ngữ không có chữ
viết … quả là gay go, nếu không dấn thân vào chính cuộc sống thường ngày của họ,
tìm cho ra thật nhiều các dấu chỉ còn có thể tìm được qua các nghệ nhân, nghệ sĩ
dân tộc, kiểm chứng nó qua các cụ ông cụ bà … để cảm nghiệm và bắt gặp được cái
quá khứ càng xa càng tốt.
Quả thực, nếu
nhìn qua những sự kiện và diễn tả hôm nay, người ta khó mà thấy được gì là cái
“đặc sản” của anh em. Ngay cả những người đang chung sống với anh em cũng khó bắt
gặp, biện phân, còn nói gì với những người ngoài cuộc.
Có người đến với anh em nhưng chỉ muốn như đứng ở ngoài nhìn vào,
hoặc tò mò tý chút cho vui. Có người đến với anh em qua những hình thức hội hè,
vui nhộn, khua chiêng gõ trống, sau đó về nhà múa bút khen lấy khen để mà không
chỉ ra được cái mấu chốt, cái lý do của các lễ hội đó. Có người đến với anh em để
tìm kiếm cái gì đó có thể để vào chỗ làm cảnh, có nỗ lực đấy nhưng chỉ được cái
xác vô hồn “să ờ swàn”, cái vỏ cứng ngắc “kwăt rơhwăt”, không có
chất sống. Có người đến với anh em mà chỉ nhận dạng qua cái hiện tại, không muốn
tìm cái vẻ đẹp, cái hào hùng của một dân tộc, chỉ vì khó tìm, rất dễ đi vào kiểu
vo tròn hay vơ đũa cả nắm. Và như vậy thì đâu là bản sắc dân tộc !
Tìm về quá khứ, truy cứu nguồn cội để so sánh và xây dựng nếp sống
hiện tại, luôn vẫn là túi khôn của con người, cách riêng nơi anh em Kơho. Những
câu ca dao nói về vấn đề này có khá nhiều. Ví dụ : Jòi yau krau pàng (tầm
cổ truy nguyên), Jòi kồ lồ yau (tìm gốc nạy cổ), hoặc Jăk đòm lài, chài
đòm yau (giỏi là bắt chước xưa, tài là học đòi cổ) … là những câu cửa miệng
của các bậc phụ huynh khi dạy dỗ con cháu.
Vậy đâu là vấn
đề con dong duổi tìm kiếm bấy lâu nay, và còn tìm kiếm không ngừng. Theo con
suy nghĩ, muốn tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, hay cái hồn sống của anh em Kơho,
ngoài những cách thông thường như sống hoà đồng, yêu thương, truyện trò, cảm thông,
đồng lao cộng khổ … còn có ba cách sau đây :
a. Cụ thể nhất là qua phong tục tập quán với
mọi nghi thức liên hệ.
b. Bình dân nhất là qua các truyện cổ.
c. Khoa học hơn cả là qua các ca dao tục
ngữ.
Qua những điều vừa trình bày, bây giờ thử đi vào một đề tài chung,
mà bất cứ ai khi vào cuộc là bắt gặp ngay nơi anh em Kơho. Đó là Niềm Tin
(Nùs pindờn hay Bơta pindờn).
Ở đây không có ý đụng chạm tới niềm tin của một tôn giáo hay như một
tôn giáo, một thứ niềm tin dẫn tới đức tin như được thị kiến hay mạc khải, rồi
trải qua lịch sử có giáo lý, giới luật, lễ nghi, hệ thống tổ chức … Ở đây chỉ
muốn đề cập tới niềm tin tiên thiên, một thứ tín ngưỡng dân gian. Tự nó đã là vậy
rồi, không thể cật vấn hay bàn cãi gì được. Nói khác, nó đã thế nàøo thì phải
tìm hiểu và trình bày như thế đó, với những bằng chứng mà chính nó diễn tả ra
cho thấy. Cho nên phải loại bỏ mọi định kiến, mọi khuynh hướng muốn áp đặt,
ngay cả những hệ thống hoá có sẵn. Cần đi ngay vào hiện trạng ở những làng còn
giữ được khá nhiều truyền thống “Adăt-bơhiàn” cổ xưa, từ đó lần về quá
khứ càng xa càng tốt.
Để áp dụng
cho con, thì con thích suy diễn theo kiểu niềm tin tiền Mạc khải. Con thấy lịch
sử Cựu ước có khá nhiều điểm tương đồng với anh em Kơho cả về mặt tôn giáo lẫn
xã hội. Ở phần Tân ước, các đề tài về Bí tích, cầu nguyện, gia đình, Giáo hội tại
gia … cũng có khá nhiều điểm dễ ăn nói, vì có thể bắt gặp được trong đời sống của
anh em.
Xin tạm chia đề tài “Niềm Tin” làm bốn phần :
I. Thần linh (Yàng)
II. Quỷ thần (Cà-yàng)
III. Vị trung gian (Kòn-gùng)
IV. Hai tương quan
1. Linh hồn (Sồp-swàn)
2. Âm phủ (Làng-bồc)
Với anh em Kơho,
nói tới niềm tin là nói tới một quyền năng, một sức mạnh, một sự hiện hữu tự tại,
siêu hình, siêu nhiên. Con người không thể thấy, không thể hiểu, không thể biết
và cũng không thể diễn tả thế nào được cho đúng. Nhưng lại như bị khựng lại, như
linh cảm được cái gì đó, và nhất là không thể thiếu được trong suốt hành trình
của dân tộc. Cụ thể hơn là trong mọi khía cạnh của đời một con người, quyền năng
đó vứa ở trên, vừa ở ngoài, lại vừa ở trong mọi sự, mọi loài, cách riêng con người.
Ai cưỡng lại là có vấn đề, có sự cố không ổn … nhưng đàng khác, dường như cái
quyền năng này chưa phải là toàn năng, vẫn có một giới hạn nào đó. Xin đi vào cụ
thể :
I. Yàng : Thần,Thần
linh, Thiên Chúa, Thượng đế
Hai điều xin
lưu ý trước :
* Từ Yàng, khác với
Cà-yàng sẽ đề cập ở phần II.
* Từ Yàng và Ndu,
có một liên hệ nhưng không đồng nhất, sẽ trình bày ở từ Yàng kòi (Thần lúa).
Thần linh với
con người, hay con người với Thần linh, một tương quan hữu cơ, đã có, đang có và
sẽ còn mãi. Thế nên đó cũng là đề tài cơ bản, phải đề cập tới trước tiên khi muốn
tìm hiểu về một dân tộc. Không có dân tộc nào mà không lấy đây làm nền tảng, là
lẽ sống, là sự tồn vong … của đời này lẫn đời sau.
1. Từ “Yàng” là một từ chung nhất cho nhiều sắc dân có mặt ở
Việt Nam (Nguyên điều này đã đáng phải dày công nghiên cứu, nhưng nó không thuộc
phạm vi bài này. Chỉ xin gợi ý : chắc chắn nó phải là một từ có lịch sử cựu trào
nhất).
2. Qua sinh hoạt hằng ngày, và qua các câu cầu nguyện (hòi Yàng,
răc Yàng), khi nói đến từ Yàng (nguyên từ đó thôi), thì trong đầu người
Kơho nghĩ ngay đến một Đấng duy nhất, vô hình, vô danh, cao cả, quyền năng, hiện
diện khắp nơi. Ngài ở rất xa và cũng rất gần với con người. Hạnh phúc nhất của đời
người là được ở gần Ngài (rềp Yàng), hay được Ngài ở gần (Yàng rềp).
Tuyệt vời hơn nữa là được trở nên Ngài (Cau Yàng) [Linh Mục Jean
Cassaigne đã dùng từ Yàng Cau để diễn tả Chúa làm người]. Những người như
vậy, người Kơho còn gọi là có Thần ở (Yàng ơm), có Thần đậu (Yàng rơp).
3. Vị Thần này tạo dựng tất cả (crơng, crơnggơs, pơdiơng), nắn tạo
tất cả (klăc-mòn), ấn định tất cả (tơnơn, duê, cih). Con người có là gì, có làm
nên chuyện gì …. cũng đều do Ngài mà có, mà được, mà nên. Khi một người mẹ có
thai, người ta nói về bào thai đó là : Yàng klăc (Thần nặn), Yàng mòn
(Thần tạo), Yàng ơn sò (Thần đặt nhau), Yàng crò swàn (Thần phú hồn).
Người có tài là Yàng cih (Thần vạch, vẽ …) hoặc Yàng cih gur (Thần
vạch mầu). Người đẹp là Yàng pơnring (Thần nắn đều). Khi kết bạn là Yàng
kwăt che soê (Thần kết tóc se tơ). Chết là Yàng hòi (Thần gọi) …… Nói
chung mọi sự phải được ý Ngài, được lòng Ngài (Tăc tồr Yàng, ring tồr Yàng).
Nếu Ngài không ưng điều gì là đừng có hòng, hậu quả là sa vào Thần (dùh tam
Yàng). Dùh tam Yàng là ăn đất (sa ù), là chết (chơêt).
4. Vị Thần này cũng giận (jranõ), phạt (glài), nhưng
chỉ với những người làm tội ở đời này. Cũng vậy, những người ăn ngay ở lành ở đời
này vẫn là đối tượng để Ngài ban ơn : Yàng pà (Thần ban), Yàng ai
(Thần cho), Yàng sền (Thần trông) … Giận, phạt hay ban ơn thì ngoài những
cái thuộc phạm vi trí năng tình cảm, đời sống gia đình, xã hội, còn có một thứ
thuộc linh cảm, cảm nghiệm, đó là bị xa Thần (Ngài Yàng) hay Thần xa (Yàng
ngài). Hoặc ngược lại là được gần Thần (rềp Yàng), Thần gần (Yàng
rềp), như nói ở trên.
5. Vị Thần này rất thích được người ta gọi, cầu (hòi, răc) và
tế lễ (lơh-Yàng), dâng kính (pơdơng). Người ta dù chỉ mới hứa sẽ
tế lễ là Thần đã thích rồi, và ngay từ lúc hứa (pơrgon) [với người Kơho,
hứa với Thần là phải quyết tâm làm. Nếu vì lý do nào đó không thể thi hành thì
phải có nghi thức chuộc đền (tơwài)]
là Ngài đã ở, đã đậu, đã là con người đó rồi (tư liệu về nõô sa rơpu).
Ngài luôn luôn chấp nhận của lễ, không bao giờ từ chối (Yàng dờp, Yàng kờnõ).
Đúng hơn, Ngài chả đòi hỏi gì ngoài tấm lòng thành kính của con người. Cái phần
của lễ dâng kính Ngài, nói cho thật nghiêm chỉnh, chỉ là cái ý nghĩ đầu tiên mà
con người phải có đối với Ngài, hoặc mong muốn nơi Ngài, là được gần Ngài … Khi
đã được ở gần Ngài rồi thì đương nhiên mọi sự tốt lành sẽ đến. Trong ngôn ngữ có
mời Thần ăn chung (Yàng sa bal), Thần uống chung (Yàng nõô bal),
nhưng là ăn uống kiểu ăn hương hoa, thơm thảo … Mọi tế tự hoặc nghi thức có ăn
uống đều phải mời Ngài và có phần dâng lên Ngài (jà Yàng, lwă Yàng và pơdơng
Yàng). Nhưng trong thực tế, sau khi dâng kính, người ta có thể mang xuống ăn.
Ngược lại, cái gì đã ném (cơm) cho quỷ
thì không bao giờ lấy lại.
6. Qua mấy dòng trên, đã thấy một hệ luận cần ghi ngay, đó là
người Kơho rất tôn kính vị Thần này (duh Yàng) lạy phục Ngài (cùn Yàng)
sợ Ngài (ngòt Yàng), tìm mọi cách để vâng lời Ngài (dờn bơr Yàng)
và cũng tìm mọi cách để đừng mất lòng Ngài (tơnroh nùs Yàng).
Đồng thời cũng liên hệ tới danh xưng Ngài. Từ Yàng chỉ
là một danh từ chung, một từ ngữ nói lên để nói, nghĩ, mường tượng ra Ngài. Bởi
vì quả thực nếu từ Yàng là tên Ngài thì với người Kơho không thể chấp nhận
được. Người con có một điều tối kỵ là gọi tên bố mẹ cũng như các vị trưởng thượng,
dù bất cứ hoàn cảnh nào. Huống chi là gọi tên Thần …
7. Nói về hình ảnh Ngài cũng vậy. Đây là một cám dỗ cho loài
người nói chung, là muốn định vị Ngài. Người Kơho cũng vậy, nhưng họ đã phải trần
mình mày mò suốt dòng lịch sử dân tộc mà cũng không tìm ra. Nơi nhiều dân tộc
xem ra có vẻ dễ dàng. Hiện tượng “bò vàng” tượng trưng cho thời tiền sử, hoặc
sau này là các loại hình tượng, kim tự tháp, lăng tẩm … Để rồi đạp tượng, quật
mồ, nghiền nát … rồi lại lặp lại … Tất cả chẳng qua là do con người không nhận
mình là tạo thành mới nên nông nỗi.
Nếu Thần linh có thực thì Ngài không thể lúc có, lúc không, rồi
lại có. Với người Kơho, Ngài chỉ là “có” mà thôi. Nhưng người Kơho cũng có
chung cái khắc khoải của nhân loại, đó là phải tìm được cái gì đó để dễ dàng liên
tưởng tới Thần linh, nó như một phương tiện chuyền tải niềm tin, là vị trí đặt
tâm tư tình cảm tôn kính của dân tộc, để chứng tỏ lòng thành của mình và như để
lôi kéo sự chứng giám của Ngài.
Những nét vẽ hoa văn, những cách trang trí lễ hội, những định vị nơi
ăn chốn ở, cho đến những cách diễn tả quyền năng, sức mạnh trong vũ trụ thiên
nhiên, và cả đến những nhu cầu cấp thiết của cuộc sống hằng ngày giữa núi rừng
trùng điệp, cũng không loại trừ cả hằng trăm điều kiêng kỵ. Tất cả và từng sự
kiện này đều nhằm nhắc nhở con người nghĩ tới Thần linh.
Nhưng trước hết và trên hết, nơi mà mọi người phải hướng về,
phải tôn trọng, phải dè giữ … và phải nhìn nhận có sự hiện diện của Thần linh, đó
là bàn thờ “Jơnào”.
Mỗi một gia đình phải có một bàn thờ riêng dâng kính Ngài, được
đặt ở một vị trí đặt biệt nhất, cao sát mái nhà, ở giữa gian khách và gian ngủ
chính (xem tư liệu nhà). Vì Ngài vô danh vô hình nên bàn thờ để trống, không đặt
thường xuyên bất cứ vật gì. Khi có tế tự người ta xức lên đó một chút máu tế vật,
một ít cơm rượu. Phần thịt dâng kính Ngài có đặt lên đó một lát rồi đem xuống cùng
ăn. Cũng xin nói luôn là ở đây có một sự phân biệt rõ nét giữa vị Thần linh này
với vị Gia thần hay Thần chủ (Yàng hìu) [sẽ nói ở phần Thần hữu danh]. Vị
trí đặt Gia thần là ở sàn nhà và thẳng bên dưới bàn thờ Thần linh.
Hình thức bàn thờ đầu tiên rất đơn sơ : là một khung tre, kết
một vỉ tre rồi dùng dây mây treo lên. Càng về sau các nghệ nhân càng có công tô
vẽ, trau chút, tìm cách che phủ đi phần nào để cho có vẻ uy nghiêm thiêng thánh.
Hiện giờ các bàn thờ lại trở về nguyên trạng xa xưa, lý do là càng ngày càng hiếm
nghệ nhân. Người ta tôn kính gần như thái quá bàn thờ này. Đi qua phải cung
kính nết na (ví dụ không được la hét …). Chỉ vị chủ sự hoặc tư tế (kơiơng-Yàng)
được đụng đến khi tế tự : xức máu, quệt cơm rượu, đặt và lấy của lễ. Ngoài ra
không người nào được đụng đến, kể cả không bao giờ lau chùi.
1. Một câu hỏi được đặt ra là tại sao hiện giờ hiếm thấy gia đình
Kơho nào còn bàn thờ này. Vị trí đặt gia thần thì còn thấy nhiều. Đố ai tìm ra
manh mối sự cố này, chỉ biết rằng khi hỏi các bô lão thì được biết từ lâu lắm rồi
đã bắt đầu có một số nhà không còn. Nếu tính nhẩm theo lời các bô lão kể thì
khoảng 150 năm trở lại đây, bắt đầu có sự cố này.
Có nhiều người đổ tội cho đạo Công giáo và anh em Tin lành
sau này đã làm nên sự cố. Vô lý hay có lý mỗi người chúng ta đều phải xem xét lại
! Viết đến đây thì tự nhiên nhớ đến bàn thờ tổ tiên của các gia đình Việt Nam
xa xưa, sau đó, và bây giờ.
Kính thưa Đức Cha,
Cho phép con được nói thật lòng về điểm này.
Khi xem lại tư liệu và chứng kiến nhiều nghi lễ ở bàn thờ này, con
rất bức xúc và đã có không ít lần nghẹn ngào. Con tự trách bản thân mình trước,
vì đã không nỗ lực bắt gặp được trước, và rồi chính con cũng hành xử như các người
khác. Đó là hễ ai muốn theo đạo thì phải phá bỏ bàn thờ này đi, treo tượng Chúa
lên, nhưng lại đặt ở một vị trí khác. Từ “hội nhập” ở đây rất khó lý giải. Con
có trấn an lương tâm là Chúa quá biết chúng ta cũng chỉ là con người còn nhiều
vụng về, thiếu sót … Trong khi đó chính anh em Kơho là con người rất hiếu hoà và
trọng thị.
Một điều cơ bản khác cũng giúp con nỗ lực bù đắp là con tin Chúa đã
quan phòng đặc biệt để ý niệm cơ bản về Thần linh nơi anh em Kơho không có đối
chọi với ý niệm Thiên Chúa nơi Giáo lý Công giáo. Cho con bước thêm một bước, đó
là nó không quá xa. Như con nói ở trên, dường như anh em Kơho đang sống niềm
tin trong thời tiền mạc khải với những nét đặc thù của nó.
Điều con muốn nói ở đây là hướng đi tới của chúng ta với anh em Kơho
về mọi vấn đề có liên quan đến từ hội nhập. Khẳng định sự cần thiết của nó là
huấn giáo của Giáo hội, và hơn hết là chính sự nhập thể của Chúa Giêsu. Con chỉ
biết nói lên vậy mà chính con lại chẳng có giải pháp nào, cho dù chỉ là cục bộ.
Hiện giờ con manh mún nói lên được cái thứ tiếng anh em đang nói, đang diễn tả
tâm hồn. Đôi khi bắt gặp điều gì đó trùng hợp, giao thoa được thì con chớp lấy
cơ hội, mà rồi cũng chẳng ghi lại được gì.
Đã trót đâm lao, thì phải theo lao. Con xin Đức Cha nhìn nhận dù đây
là điều đụng chạm, làm khó cho anh em và cho chính con nữa. Tất cả mọi anh em
Linh mục có liên hệ ít nhiều với anh em dân tộc của Giáo phận phải có một nỗ lực
hơn các nỗ lực khác (trừ mục vụ) trong vòng 3 đến 5 năm để học tiếng, truyện trò,
tìm hiểu anh em dân tộc. Nhờ một số người có học một chút, chỉ cần còn giữ được
ít nhiều cái hồn dân tộc tính, để họ ghi ký mọi sự còn có thể bắt gặp được nơi địa
phương mình. Rồi cùng với chính những anh em đó cùng đọc, tìm hiểu ý từ. Chỗ nào
khó thì hỏi các cụ. Con quả quyết với Đức Cha một điều là ở miền nào cũng có thể
thu tập được nhiều điều quý giá. Con xin đưa
chứng cứ :
a/ Miền Lâm Hà (Ryông Tô) : theo con nghiên cứu, là cái nôi của
anh em Kơho ở Lâm Đồng mình. Từ đó phát xuất mọi chi nhánh. Nhiều truyện cổ,
nhiều câu ca dao nói về vấn đề này lắm. Sử thi dài nhất mà con thu được cũng phát
xuất từ đấy.
b/ Miền Làc :
con nghe nói anh em Làc rất hãnh diện về nguồn cội xa xưa và hào hùng của mình.
Chả lẽ chỉ nói xuông mà không minh chứng !
c/ Miền Mà : con xin lưu ý đặc biệt anh em Mà ở miền Mà-dà-gui. Đấy
mới rặc Mà. Anh em Mà ở miền Blao cũng có rất nhiều tư liệu đáng quí, chính con
đã thu tập được ở đây không ít. Có điều anh em Mà ở Bảo Lộc nói về mình hơi ít,
mà thường hay nói đến anh em Mà ở miền dưới. Anh em Mà nói chung rất sính tầm cổ
truy nguyên (Jòi kồ lồ yau). Có khá nhiều cuộc tụ tập chỉ để làm việc này.
d/ Miền anh em Sre nói chung, nói riêng anh em Sre quanh vùng Di
linh, thì con và một số anh em con đã khai thác nhiều. Dù thế, theo con dò hỏi
thì vẫn còn nhiều. Mà theo con tìm hiểu, thì anh em Sre chỉ là đi học mót của các
anh em khác, rồi sào nấu và cho là của mình. Tích cực hơn, anh em Sre là hậu
sinh, là một bước tiến trong quá trình lịch sử, định cư trước những anh em khác
cùng một cha sinh mẹ đẻ. (Định cư trước là từ bao giờ thì con có vài chứng cứ
theo truyền thuyết, và một chứng cứ theo khảo cổ).
Mấy điểm lưu ý khi vào cuộc :
a/ Phải thật
lòng yêu mến và kính trọng anh em. Các giá trị nơi anh em cũng như các giá trị
của mỗi dân tộc khác, chắc chắn cũng có nhiều ưu điểm đặc thù.
b/ Đừng sợ trùng lặp với các nơi khác. Sự trùng lặp cả về hình thức
lẫn nội dung rất hiếm, trừ một ít câu ca dao. Con có kinh nghiệm rất đáng giá về
vấn đề này : cùng một đề tài an táng (chơêt-tơêp), con mời 5 người ở 5 làng
chung quanh đây tới hướng dẫn và cho họ bàn bạc với nhau. Khi viết ra mỗi người
viết một khác và rất nhiều chi tiết người này có người kia không. Hơn thế, đây
là phương thế duy nhất cho mỗi người chúng ta hội nhập. Hướng dẫn cho anh em
nghĩ về mình, rồi trình bày về mình bằng tiếng nói của mình là một cách giáo dục
anh em tốt nhất, mà mình lại có một cơ sở vững chắc nhất để hiểu anh em về mọi
khía cạnh.
Trên đây con có nói
: cần chọn lấy vài người và hướng dẫn họ. Theo con, tuổi đời những người này hôm
nay phải 40 tuổi trở lên mới khả đáng. Họ phải có hồn dân tộc và biết cách cư xử,
gợi truyện, nhất là với các bô lão. Họ cũng cần tỉnh trí, biết nghe ngóng để biết
trước được có những cuộc tụ tập gia tộc, những buổi sinh hoạt văn nghệ dân gian
…. Mình sẽ hỗ trợ … và cho ghi liền.
Con nhớ đầu năm 1971, nghe được có một cuộc đấu trí đấu tài giữa 3
nghệ sĩ dân tộc lão thành của 3 làng : Kròt, Klong-trau và Jrai ở tại làng
Klong-trau, có một gia đình giàu năm đó có ăn 3 trâu (cái hình bìa cuốn sách hát
Jờngrơ Yàng là nó đấy). Con phải lập tức mời các giáo viên của 3 làng này
(cũng là con cháu các cụ) tới bàn bạc, bỏ hết vốn liếng mà hỗ trợ, mua một máy
ghi âm hồi đó, tập cho anh em sử dụng và ghi lại tất cả diễn biến đêm đó. Vất vả
tốn phí là thế mà chỉ viết lại được có 3 đoạn chính của 3 cụ thi tài, còn toàn
là chuyện tầm phào … Cũng như cách đây hơn 10 năm, nghe biết được có một hậu duệ
của cụ ở Jrai đó rất sính kể truyện thơ. Con lập tức tìm mọi cách mà cho dù phí
tổn mấy cũng phải ghi cho bằng được. Kết quả là ghi được 3 bài trường ca, trong
đó có một sử thi. Ít tốn công của hơn lần trước mà lại đạt hơn.
c/ Rất tốn thời giờ và công của. Nhưng trên hết vẫn là kiên trì, yêu
mến, tôn trọng và cố gắng học hỏi. Con nghĩ 5 năm hay 10 năm, cộng với tiền bạc
cho là nhiều đi nữa, để đổi lấy một phần gia sản của một dân tộc có cả hàng ngàn
năm lịch sử thì cũng là đáng công của !
Kính thưa Đức Cha, con biết Đức Cha rất ưu tư và mong muốn có công
việc này. Riêng con sẽ cảm thấy hạnh phúc gấp bội nếu thấy được nhiều anh em vào
cuộc cùng với con. Con mơ thấy số tư liệu sẽ tăng nhiều lên. Cộng vào đó, qua
những lần gặp nhau của những người cùng chí hướng, sẽ viết ra được rất nhiều các
bài khảo luận về dân tộc học. Bản thân con có là gì, hay làm nên chuyện gì hữu
ích cho Giáo hội và anh em, thì điều quá rõ ràng là con đang chịu ơn của Giáo hội
và anh em con. Tâm tư tình cảm con cũng do anh em mớm cho, chỗ con ngồi viết
cho Đức Cha đây cũng là của anh em.
Con xin viết tiếp đề tài (từ
trang 15)
8. Về giống của từ Yàng. Không biết các ngôn ngữ cổ đại người
ta diễn tả từ Thần là giống gì . Với anh em Kơho thường là diễn tả theo giống cái,
có lẽ là do mẫu hệ. Đặc biệt là khi cầu nguyện riêng tư, thổ lộ tâm tình, than
thở …. Các từ Yàng đều có thể thay thế bằng Me (mẹ). Câu cửa miệng
khi kêu cầu là : Ơ Me sơklăc Me bơdiơng (Mẹ nắn Mẹ tạo). Theo tư liệu hiện
có của con thì chỉ có một trường hợp duy nhất diễn tả Thần là giống đực, nhưng ý
niệm này có sau này chứ không từ nguyên thủy : Đó là khi bàn thờ (Jơnào)
được các nghệ nhân trang trí rườm rà, thì có rất nhiều tua rua bằng tre dài và
trắng. Anh em cho đó là râu của ông Thần. Từ bộ râu này mà phát xuất một nghi
thức hỏi ý thần gọi là “hồr” hay “pòl” bằng cách ném mỏ gà (cơm
kàng iăr) vào đây.
Vậy thì : Lạy Cha chúng con ở trên trời … có thể đổi được là Ơ
Me bol kòn … được không ? Cũng là một chuyện dài khi muốn hội nhập. Con thì
thấy rất khó vì dễ chuyển thành nhị nguyên rồi đa nguyên …. Nhưng cũng rõ ràng
là từ Cha cũng vậy thôi.
9. Khi tế Thần (lơh-Yàng), gọi Thần (hòi Yàng) hay cầu
Thần (răc Yàng), là người Kơho nghĩ đến vị Thần duy nhất, vô hình này. Cả
100 câu gọi Thần mà con ghi âm lại được và đã viết ra, thì không thấy câu nào kêu
một vị Thần hữu danh nào ra để cầu nguyện. Trong các dịp lễ hội chung hoặc riêng,
mọi sự sắp đặt, trang trí (kể các loại nêu) đều chỉ một ý tưởng là mời vị Thần
này tới, hoặc lôi kéo sự lưu tâm của vị Thần này. Nói khác, từ khi hứa, rồi sửa
soạn, khởi sự lễ hội, diễn tiến và kết thúc đều nhắm vào vị Thần này.
10. Mọi nghi thức tế Thần công hay tư, lớn hay nhỏ … đều phải có một
sinh vật để tế sát. Trước khi tế sát, vị chủ sự (cau tờm) hay tư tế (cau
kơiơng-Yàng) phải ăn mặc chỉnh tề hơn mức bình thường … tiến vào chỗ dành
riêng để gọi Thần. Dứt lời gọi Thần là tế sát sinh vật. Việc đầu tiên là lấy máu
tế vật bôi lên trán các người và các nơi có liên hệ tới nghi lễ. Thịt thì một
phần đem đi nấu canh, phần ngon hơn đặt trên bàn thờ một lúc, rồi cũng mang đi
nấu. Trong tâm tư cũng nghĩ đây là phần hiệp thông với Thần. Quả thật thế, về
phần thịt để trên bàn thờ có tên gọi riêng : phần dành cho Thần (tơrnăm Yàng)
11. Trên đây là tìm hiểu từ “Yàng” qua các tập tục, truyền
thống. Nó có tính thực tế, cụ thể.
Nếu tìm ý niệm “Yàng” qua truyện cổ thì sẽ thấy nhiều mầu sắc
bình dân, dân giã như nơi mọi dân tộc khác. Đương nhiên nhiều khi nó mang vẻ thần
thoại hay huyền thoại. Phải biết chắt lọc mới lẩy ra được cái tinh tuý của nó.
Trong gần 300 đầu truyện con có trong tư liệu thì gần như hết cả là có minh nhiên
hay mạc nhiên nói về vị Thần này.
Nếu trích ra hết các câu “hòi Yàng” và các câu ca dao tục ngữ
có từ Yàng hoặc ám chỉ đến Yàng, thì sẽ bắt gặp được muôn vàn đề
tài để nói về vị Thần này. Ít ra theo tư liệu hiện có của con, cũng phải có tới
1.500 câu vắn dài nói về “Yàng”. Hầu hết là nói về vị Thần đã trình bày
trên.
12. Để kết luận phần này, con xin ghi lại vài từ nói lên hành vi của
Yàng, sau đó là vài câu ca dao.
Yàng ai : Thần cho
Yàng bơtrơh : Thần đuổi, xua
Yàng crơnggơs : Thần sáng tạo
Yàng duê : Thần định
Yàng glài : Thần phạt
Yàng hòi : Thần gọi
Yàng kờp : Thần kể, nhận
Yàng ăt : Thần cầm, giữ
Yàng cih : Thần vạch, ghi
Yàng dờp : Thần nhận
Yàng git : Thần biết
Yàng goê : Thần thấy
Yàng klăc : Thần viên, nặn
Yàng kơêt : Thần buộc
Yàng kwăt che soê : Thần kết tóc se tơ
Yàng lời : Thần bỏ
Yàng ngài : Thần xa
Yàng pà : Thần ban
Yàng pơnring : Thần nắn đều
Yàng rơêp : Thần đậu
Yàng săng : Thần bỏ
Yàng sồr : Thần bảo
Yàng tàm : Thần nghiệm
Yàng tong : Thần chìa, đưa cho
Yàng lah : Thần nói, phán, mắng
Yàng mòn : Thần tạo, nắn
Yàng ơm : Thần ở, ngụ
Yàng pơdiơng : Thần tạo ra
Yàng rềp : Thần gần
Yàng rơhềp : Thần thưởng thức
Yàng sền : Thần xem
Yàng sơntơm : Thần quở, nguyền rủa
Yàng tiăm : Thần nếm
Yàng tơngkis : Thần làm cho sống
* Deh mơ dùh neh Yàng cih gur : Sinh đẻ Thần
vạch màu.
Bun mơ kòn neh Yàng
kwăt che soê : Thai nhi Thần kết tóc.
* Blăc
đơs Yàng gla : Nói láo Thần đánh đai.
Ma đơs kiau Yàng
gơl : Nói xiên xẹo Thần đổi.
Brơngơl jòi jơnau
Yàng glài : Ngu kiếm chuyện Thần phạt.
* Niăm gùng lòt Yàng : Đường đẹp Thần đi.
Sàng dà lòt ka : Nước trong cá lội.
* Lơbơn trồ tiah Yàng rềp
Kră trồ tiah Yàng
ngài
Nghĩa đen : Trời đầt mềm Thần gần
Trời đất cứng Thần xa
Nghĩa bóng : phải hiểu “Trồ tiah” là
cha mẹ, con cái.
a. Bậc cha mẹ mềm mỏng Thần gần,
Bậc cha mẹ cứng cỏi Thần xa.
b. Con biết vâng lời cha mẹ Thần gần,
Con cứng đầu với cha mẹ Thần xa).
* Yàng cih dơ jơng lòt brê : Thần vạch ở
chân đi rừng.
Yàng cih dơ tê lơh kòi : Thần vạch ở tay làm
lúa.
Yàng cih dơ bơr hòi Yàng : Thần vạch ở miệng
gọi Thần.
Yàng cih dơ kàng đơs Prum : Thần vạch ở hàm nói
khôn ngoan.
* Có một câu vắn người Kơho hay nói
về mình là :
Lơh kòi, hòi Yàng : Làm lúa, gọi Thần.
(Nó tóm gọn nhân sinh quan của người Kơho).
* Yàng ơn sò : Thần đặt nhau.
Yàng crò swàn : Thần phú hồn.
* Yàng pà tai : Thần ban thêm.
Yàng ai ngăn : Thần cho thật.
* Yàng sơklăc Yàng bơdiơng : Thần nắn ra
Thần tạo dựng.
1. Như có nói ở trên vị Thần linh vô danh vô hình, người Kơho đã có
nhiều cách thế để mon men hòng đạt đáo phần nào, nhưng đã phí công vô ích. Dù vậy
người Kơho vẫn bức xúc không ngơi mỗi khi phải liên tưởng tới và khi thể hiện
trong cuộc sống hằng ngày. Nên trải qua lịch sử dài của dân tộc, người Kơho đã
tìm cách thể hiện hoá, hữu hình hoá một số những ưu phẩm, quyền năng và đặc biệt
là tình cảm của vị Thần linh trên đối với con người. Người ta gán nó vào cho những
tạo vật tốt, có liên hệ trực tiếp đến cuộc sống của họ. Mỗi tạo vật tốt đều thể
hiện phần nào đó các ưu phẩm của Thần linh. Từ đó phát sinh vô số các vị Thần hữu
danh, hữu hình.
2. Tất cả đều là Thần lành, nuôi sống con người, giúp đỡ con người
sinh hoạt … có khi những vị đó là chính sự sung túc của con người nói chung và
của mỗi gia đình nói riêng. Nó chứng tỏ người đó, gia đình đó được Thần linh ở
gần, bang trợ (Yàng rềp, Yàng pà tai, ai ngăn …). Không có một vị Thần hữu
danh nào làm hại con người. Hoàn toàn cho con người và vì con người. Tất cả đều
giúp con người được bình an, hạnh phúc, cụ thể là no đủ, đề huề. Không có danh
xưng thần dữ nào nơi ngôn ngữ Kơho. Có lẽ đây cũng là một điểm khác biệt với các
nền văn hoá khác. Ví dụ không hề nghe thấy thần sấm, thần sét, thần bão … (xin
lưu ý lại là phải phân biệt với từ cà hay cà-yàng, sẽ nói sau).
3. Theo con nhận định qua các câu “hòi Yàng” và trong sinh
hoạt hằng ngày, đặc biệt khi tế lễ (lơh-Yàng), thì các vị này luôn là thứ
yếu. Nói khác, các vị này như một cầu nối, một của lễ … để tiến dâng. Chưa hề
nghe có ai kêu tên các Thần hữu danh ra để cầu nguyện như là mục đích tối hậu.
Khi đứng “hòi Yàng” đều có chỗ đặc biệt, xa các tế vật, mắt hướng lên trời
hoặc về phía cây nêu, là nơi tượng trưng có Yàng hiện diện.
4. Dù vậy, người Kơho cũng rất tôn trọng những vị này, nhất là những
vị có liên hệ trực tiếp đến đời sống con người. Nói tôn trọng chứ không phải tôn
kính hay tôn thờ. Mỗi vị đều có cách thế riêng thể hiện sự tôn trọng. Không thể
nêu ra hết các ví dụ cụ thể, chỉ xin nêu ra
hai vị mà trong tư liệu có nói nhiều đến :
a. Yàng hìu : Thần nhà, gia thần, thần chủ.
Từ này có nhiều nội dung. Ở đây xin đề cập đến một nội dung thông dụng,
có vị trí dành riêng. Vị thần này còn có một tên cụ thể khác là Drăp me :
choé mẹ (không có từ Yàng).
Bước vào cửa chính nhà, người ta thấy ngay trước mặt về phía phải, đặt
sát sàn nhà, sát vách hai cái choé (drăp). Giữa chân ở phía trước hai
choé này có bát hương (gri kơlhô), trong đó có tro, than, vài miếng nhựa
cây “truê”. Gần đó có chén cúng (cher kòi), trong đó có chứa vật
cúng mỗi khi có lễ (lơh- Yàng).
Drăp me là tượng trưng linh hồn của gia đình (sồp-swàn
hìu-bơnhă), là gia thần chăm sóc, gìn giữ mọi sự trong gia đình (gơđơng
tơl bơta tam hìu-bơnhă). Gọi là Drăp me, nhưng lại có hai cái (một đực,
một cái), tượng trưng cho các thế hệ vợ chồng tiên tổ. Hai choé này được gia chủ
tự ý chọn lựa trong các choé của gia đình, không nhất thiết phải là choé cổ hay
quý. Lựa xong, rửa sạch, hong khô, rồi đặt vào vị trí như nói trên, với một
nghi thức đơn sơ trong nội bộ gia đình (mọi người phải có mặt). Nghi thức chính
là gia chủ đặt tay mình vào Drăp me, rồi cầm tay mọi thành viên trong
gia đình, lần lượt đặt vào đấy. Hàm ý tự giới thiệu, trình diện, xin chăm sóc.
Do các ý trên có thể đặt tên đây là bàn thờ gia tiên.
Từ đây mọi người (kể cả khách …) đều phải tôn trọng Drăp me
cách đặt biệt. Mỗi sai phạm đều phải có nghi thức chuộc đền. Khi gia đình tiếp
nhận một thành viên mới đều có nghi thức giới thiệu ra mắt và đặt tên như trên.
Hai choé này luôn để không. Chỉ dùng để ủ rượu (beê tơrnờm)
khi gia đình có tổ chức lễ ăn trâu (nõô sa rơpu).
b. Yàng kòi : Thần lúa, thần nông.
Yàng kòi còn có một biệt danh khác là Ndu.
Để hiểu rõ hơn về vị Thần này, cần xem tư liệu về làm ruộng (lơh
sre), làm rẫy (lơh mìr). Đặc biệt các nghi thức của từng khâu, từng
công đoạn, từ khởi sự cho đến sau khi đem lúa về kho (đăm).
Từ Yàng kòi và Ndu có một nội dung ý. Là hai từ được
dùng chung nhiều hơn hết cho các tiếng nói bản địa ở vùng cao nguyên này. Có lẽ
còn ở nhiều ngôn ngữ khác.
Theo cấp bậc, đây là vị Thần đặc biệt nhất, được tôn trọng nhất nơi
các sắc dân sống bằng nghề làm lúa là chính. Ở đây xin dừng lại tại địa phương
xã Bảo Thuận này, và cho đến những năm gần đây, rất nhiều người còn giữ đủ mọi
phong tục tập quán về công việc làm lúa.
Cùng với Thần trâu (Yàng rơpu), Thần lúa là một trong hai vị
mà người Kơho có một suy nghĩ và hành xử rất đặc biệt. Theo quan niệm thì hai vị
này, và chỉ hai vị này thôi, có cả xác và hồn (să mơ swàn, swàn kòi, swàn rơpu). Thế nên trong các
nghi thức có đụng đến hai vị này, thì ngoài nghi thức chung còn có nghi thức riêng
cho hồn hai vị này.
Chính cái hồn này mới là sự sống hay ít ra là chất sống. Vì thế có
nhiều gia đình chỉ có ít ruộng rẫy, ít lúa, mà vẫn no đủ sung túc. Ngược lại,
nhiều gia đình có nhiều rẫy (poh bồ bơnơm), nhiều ruộng (rơbòng jòng,
loê dờng) lúa đầy nhà chật cửa (bềng hìu bềng đăm) mà vẫn đói dài. Lý
do gia đình trên biết tôn trọng Thần lúa, gia đình dưới thì không. Nói khác,
gia đình sau hồn lúa đã không theo về với xác lúa. Lúa gạo trong kho không có sự
sống.
Chỉ vị Thần lúa mới có lễ hội chung cho cả làng. Lễ hội cầu mùa cho
lúa ruộng là “nõô wèr”. Lễ hội cầu mùa cho lúa rẫy là “nõô kơêt năng”
hay “nõô tăc năng”, có nơi cũng gọi là “nõô ka ding” (xem tư liệu). Lễ hội
này được cả làng góp của, góp công và cùng tổ chức, dưới quyền lãnh đạo của vị
tư tế (cau kơiơng-Yàng), hoặc vị chủ trì việc làm rẫy (bơrnoh boh brê).
Cũng chỉ Yàng kòi thôi có rất nhiều nghi thức cúng tế riêng
từng nhà hằng năm. Các vị khác năm thì mười hoạ mới nhắc tới, hoặc có nói tới
thì chỉ là một phụ tá, làm tăng thêm uy tín cho Yàng kòi. Nói cho cùng
thì các vị khác chỉ là ăn theo.
Mọi hành vi, cử chỉ đối với lúa đều phải làm nhẹ nhàng, chậm rãi, cẩn
thận, kính cẩn. Nhất là những công đoạn trực tiếp động đến lúa. Xúc phạm cách nào
đến Thần lúa được kể như xúc phạm đến chính Thần linh (vô danh) (Lèt mơ Yàng,
mbràng mơ kòi : qua mặt Thần linh, bất cẩn với lúa). Đôi khi người Kơho còn
đi xa hơn thế : Chỉ kêu cầu Thần linh mà không tôn trọng Thần lúa cũng sẽ bị chúc
dữ (Sơmă hòi Yàng, Ndu sơntơm). Vì thế mà trong lễ cầu mùa, ngoài bàn thờ
Thần linh dựng ở trong nhà, phải làm thêm một lều nhỏ ở ngoài nhà cho Yàng kòi
về chứng giám (Kut Ndu).
5. Tên các vị Thần hữu danh :
Xin lưu ý đặc biệt với những ai biết hơi ít về anh em Kơho, khi họ
nói trống chỗ này là Yàng, vật kia là Yàng thì phải cảnh giác,
coi chừng đó là quỷ “cà” hay quỷ thần “cà-yàng”. Đây là điểm mà
nhiều người đã đưa ra những luận cứ không đúng đắn về anh em Kơho, hậu quả là làm
cho nhiều người khác hiểu sai về anh em : Tin vơ thề quấy, mê tín dị đoan …. Mà
anh em Kơho lại không có một hình thức tổ chức nào để nghiên cứu và phản bác.
Xin thêm luôn ở đây : Từ huyết thống, anh em Kơho rất hiếu hoà, có
biết đấy nhưng có ai hỏi thì lập tức không biết “ờ git”, tỉnh bơ. Với các
cụ già thì có sâu sắc hơn nhưng cũng chỉ để trong lòng “wàr-wờl kơlwê”.
Nếu quá thấm thía thì dùng ca dao để huấn thị con cháu “Tam hà tam hền”.
Con có 1 trường ca về vấn đề này. Có lẽ vì thế mà anh em rất cảnh giác với kẻ
xa người lạ “Prum ndô, cô ndai”, hoặc tệ hơn nữa “Prum twăn, Ywăn kuêp”).
Trở lại vấn đề. Rất nhiều ngọn núi hay địa danh chung quanh làng ở đều
được đặt tên Yàng trước tên gọi ngọn núi hay địa danh. Nên cũng dễ thấy núi khác
mà lại cùng tên. Nó trở thành như một danh từ chung. Địa danh cũng vậy.
Xin liệt kê vài tên mà thường đâu cũng có :
Yàng àt : Thần vịt
Yàng boh : Thần muối
Yàng bơnơm : Thần núi
Yàng đăm : Thần lẫm
Yàng hìu : Thần nhà
Yàng kơh : Thần sườn núi
Yàng mìr : Thần rẫy
Yàng be : Thần thần dê
Yàng brê : Thần rừng
Yàng drăp : Thần choé
Yàng gơnơng : Thần cây nêu
Yàng kòi : Thần lúa
Yàng măt-tơngai : Thần mặt trời
Yàng phe : Thần gạo
Yàng plai bơnăng : Thần mặt trăng
Yàng rơpu : Thần trâu
Yàng sre : Thần ruộng
Yàng tiah : Thần đất
Yàng yăng : Thần hũ
Yàng rơhiòi : Thần bếp
Yàng sơnơm : Thần thuốc
Yàng trồ : Thần trời
Yàng ù : Thần đất
Yàng yồng : gia tộc
Một lưu ý cần thiết : nếu đảo ngược tên các vị thần này, thì nó lại
cho một nghĩa tích cực hơn, có tính thuộc từ của vị Thần vô danh trên. Ví dụ : Yàng
kòi : thần lúa. Nhưng kòi Yàng : lúa thần hoặc lúa của thần. Kết quả
là cái gì cũng là của thần linh hết. Thần ban mới có.
Vài câu ca dao nói đến Thần hữu danh :
* Hòi Yàng be, Yàng àt bàssìl : gọi thần dê, thần vịt
xấu hổ.
* Truê ai ntê jơnơr Yàng dà : lấy cây truê làm nêu thần
nước.
Dà kơlwàng jơnơr Yàng brê : lấy cây kơlwàng
làm nêu thần rừng.
Jrê rơsàng jơnơr Yàng kòi : lấy cây jrê rơsàng
làm nêu thần lúa.
* Srơpah me bàp Yàng kòi lik do : rủa cha mẹ thần lúa trốn.
* Yàng brê pà : thần rừng ban.
Yàng dà ai : thần nước cho.
Yàng măt-tơngai sền : thần mặt trời
nhìn.
* Yàng rơhiòi : thần bếp (mồ hóng, xám xịt).
Yàng rơhiăng : thần hàng trăm.
Yàng yăng njàng : thần hũ treo trên giá.
Yàng rơpu wàng dờng : thần trâu chuồng
to.
* Yàng ù Yàng tiah nah-ria : thần đất đai hoàn vũ.
Yàng brê ka : thần nơi có cá.
Yàng ja rơhàng : thần tranh ngoài vườn.
Yàng klàng sơdiăng : thần ó bay rảo.
6. Nhận định riêng :
a. Tham dự các
lần tế lễ, nghiên cứu các câu gọi thần … có thể cho một kết luận : những vị thần
hữu danh chỉ là những phương thế thể hiện từng ưu phẩm, hoặc lòng rộng rãi ban ơn
của một vị thần linh vô danh. Các vị này gắn bó với cuộc sống và sinh hoạt cụ
thể hằng ngày của con người, con người dùng đến như của lễ tiến dâng và cầu khẩn
vị thần tối cao.
b. Xét về mặt xã hội, đây là các dịp tốt hằng năm tập họp cả làng
hay quy tụ dòng tộc để nhớ đến tiên tổ … truyện trò, nhận mặt, nhận họ. Rất nhiều
vấn đề của làng, của dân tộc được giải quyết ở dịp này. Mọi kho tàng văn hoá
truyền khẩu cũng được truyền lại vào những dịp này …. Sau cùng là dịp để ăn uống
thoả thích, đặc biệt là đuợc ăn thịt (ngày thường có bao giờ được ăn thịt đâu).
c. Giáo dục cho nhau biết trân trọng của cải mà thần linh đã ban.
Không bao giờ đuợc lãng quên ân huệ này. Có một liên hệ ở đây như một hệ quả, đó
là sự đùm bọc, giúp đỡ, chia sẻ trong mọi cảnh ngộ vui buồn sướng khổ.
d. Độc thần, đa thần, hay phiếm thần … nơi anh em Kơho, cho dù có rất
nhiều người để tâm tới, cũng còn cần bàn cãi dài dài, đương nhiên bàn cãi gì thì
cũng phải dựa trên nền tảng của anh em. Với anh em Kơho nói chung, vấn đề xem
ra còn có cái dáng vẻ mập mờ. Lý do như đã nói về anh em : không có tổ chức lãnh
đạo chung, không có hệ thống giáo phẩm …. Những người khác thì cũng có một số lưu
tâm, yêu mến, giúp đỡ … nhưng đứng hẳn về phía anh em, để từ trong tâm tư tình
cảm anh em mà vực anh em dậy thì có hơi hoạ hiếm.
e. Mơ hồ và lỏng
lẻo như vậy mà tại sao niềm tin này không biến dạng, biến chất … con dứt khoát
tin tưởng đặc biệt vào sự quan phòng của Thiên Chúa, để hôm nay, con có mặt tìm
hiểu và viết lên những nhận định này kèm theo những tư liệu minh chứng. Đức Cha
cho phép con mạo muội liên hệ với Cựu ước. Biết bao lần Thiên Chúa gần như phải
trực tiếp can thiệp mà Dân Ngài vẫn còn nhiều lần tin vơ thờ quấy, sấp mình thờ
lạy “bò vàng” và các “thần tượng” … một điều chưa hề thấy xảy ra nơi anh em Kơho.
Cũng vì thế khi thấy đông đảo anh em theo đạo Công giáo, con cảm nghiệm thấy rằng
bàn tay toàn năng của Thiên Chúa hôm nay vừa êm ái lại vừa mạnh mẽ hơn xưa.
7. Vài cảm nghiệm của con về các vị Thần hữu danh :
a. Các bậc cha ông tiên tổ người Kơho vừa có lý lại vừa thực tế khi
đặt tên cho các vị thần này. Đặt tên đây không đồng nghĩa với việc làm chủ,
theo logic thì nó có vẻ như vậy. Vì thực tế người Kơho vẫn ý thức các vị này ở
ngoài tầm tay với. Luôn luôn là “Yàng pà, Yàng ai …” Một bào thai do “Me
deh, bàp bun” mà vẫn xác quyết là “Yàng klăc Yàng mòn, Yàng ơn sò, Yàng crò
swàn” cơ mà.
b. Các vị thần này đều có một giới hạn, có khi rất giới hạn, mà người
Kơho ai nấy đều hiểu biết rõ như vậy, và đã hành xử như vậy. Giới hạn ngay
trong cái tên của các vị. Trong thực tế cũng thấy rõ sự khoanh vùng này. Đụng vào
khu vực đó mới có vấn đề, ngoài ra các vị cứ ở yên. Cũng không vị nào được xâm
phạm lãnh thổ của vị khác. Một kiểu như đất có thổ công, sông có hà bá. Cũng dễ
cho con người xử sự.
c. Tuy dù rất
tôn trọng các vị này nhưng không khi nào người Kơho coi đây như cùng đích của đời
mình. Nói khác, các vị này chỉ thể hiện một ưu phẩm nào đó, hay lòng tốt nào đó
của vị Thần vô hình. Điều này, như đã nói ở trên, rất dễ kiểm nghiệm qua các
nghi thức cúng tế, đặc biệt qua các câu gọi Thần. Như vậy, chung cuộc các vị này
có thể sánh ví như những phương tiện chuyển tải lòng thành kính của con người, đồng
thời cũng thể hiện cách này cách khác lòng tốt, sự ưu ái của vị Thần tối cao đối
với con người.
d. Đồng điệu
với anh em, con rất trân trọng niềm tin này. Khi phải chuyển hoá và thăng tiến ý
niệm, con cũng tôn trọng các tạo vật được coi là thần này. Làm khác là sẽ tạo
ra một sự biến dạng, một sự chối giội nơi anh em. Hơn thế, về một vài khía cạnh
nào đó, nó còn là một phản chứng với chính niềm tin của con. Những tạo vật kia đều
được Thiên Chúa sáng tạo, nó rất tốt lành, nó phải được tôn trọng. Hơn thế, cũng
như anh em con, nó cần thiết cho sự sống động của bản thân con.
II. Quỷ (Cà) ; Quỷ thần (Cà-yàng)
Thần linh và quỷ thần ; Thần lành và thần dữ ; Thánh thần hay sa-tăng
… Những cặp từ như vậy hình như không có rời nhau ở trong bất cứ một niềm tin sơ
đẳng nào, và dường như càng ngày càng được thể hiện rõ nét hơn. Có phải đó là
quy luật tiên thiên, không ai cưỡng lại được, càng cưỡng càng vướng tròng, để rồi
có thiện ác đáo đầu chung hữu báo ? Nó có thể “hiện diện” song song với nhau không
? Chúng có đối kháng nhau, diệt trừ nhau gay gắt trong cái hiện tại miên viễn
không ? Có sự thoả hiệp âm thầm hay công khai nào không ? Sự “hiện diện” của chúng
để làm gì trong quá khứ, hiện tại và tương lai … ? Những lý lẽ của ngôn từ hay
những vấn đề đặt ra tương tự, thì dám chắc chả có người Kơho nào dám nghĩ tới một
cách thật nghiêm chỉnh. Còn nói chi đem ra bàn giải. Thưa Đức Cha, về vấn đề này
và ở đây, con cũng chịu luôn. Thế nên cứ dựa vào thực tế (các cách hành xử của
anh em) và dẫn chứng qua tư liệu, con cứ trình bày các vấn đề liên quan có chỉ
ra. Ý tưởng diễn tả của con ở phần này có hơi manh mún, chưa có ăn khớp với
nhau. Lý do, suốt thời gian qua, con mới chỉ làm được một việc là thu tập tư liệu,
ghi ra thành văn (dù chưa hết), ngồi đọc sơ qua một lượt (hơn 30.000 trang). Chưa
có giờ nghiền ngẫm, phân tích và tổng hợp. Nhưng theo con, viết kiểu này nó có
thể tự nhiên hơn, chính xác hơn (viết tư liệu). Con hy vọng Đức Cha sẽ nhận
ngay ra ý chính. Những liên hệ chồng chéo của nó thì còn đòi hỏi tìm tòi thêm.
Như trước đây có nói, ở đây cũng vậy : phải loại trừ ngay các quan điểm
cố hữu, các định kiến bảo thủ. Nói cụ thể là cái niềm tin sẵn có nơi mỗi người
thì mới cảm thông mà cảm nghiệm được phần nào.
Trước hết xin xác định lại từ ngữ : Đây là cà (quỷ) hay cà-yàng
(quỷ thần). Vì thế mà trong từ ngữ dù có từ yàng ghép vào, nhưng trong
niềm tin, suy nghĩ, nhận dạng, hành xử hay nói năng, người Kơho hiểu và phân biệt
ngay, chứ không lẫn lộn. Ví dụ đang ở hoàn cảnh nào hay đang làm việc gì, nói về
cái gì. Để dễ nắm bắt, những dòng sau đây sẽ dùng từ cà thay vì cà-yàng,
trừ trường hợp cần thiết.
Trong khi trình bày về Yàng, đã có thấy một vài nét có liên
hệ tới cà. Ở đây cũng sẽ thấy vậy, mục đích là để dễ biện phân.
1. Quỷ hiểu chung là thần dữ, hay quyền lực dữ tợn, chuyên làm điều
ác và tìm cách hành hạ con người, kể cả sát hại. Chưa từng ai đã thấy hay chỉ mặt
đặt tên được nó. Cái trí tưởng tượng quỷ hình người nhưng mọi cơ phận đều ghê gớm,
quá khổ, màu sắc tởm lợn, đen đủi hay đỏ lòm, có sừng, có đuôi … không thấy có
trong ý niệm của người Kơho. Hỏi riết thì nói đại cho có thôi.
2. Quỷ bàng bạc, ẩn hiện khắp nơi, len lỏi vào cả tâm khảm con người,
rình rập con người từ khi có thai, đặc biệt trước và ngay sau khi sanh, rồi cả đời
cho đến chết. Quỷ còn canh giữ con người cả ở thế giới bên kia (nhưng cũng chỉ
giới hạn). Trong khi đó không thấy nói Thần linh (Yàng) có mặt hay giữ
chức vụ gì ở đời sau. ( Ở điềm này xem ra Thần
có thua sút quỷ).
3. Người ta rất sợ quỷ. Không gì sợ hơn là “tìp cà tìp yàng”
(gặp quỷ gặp thần). Đây có ý nói cà-yàng. Trong mọi lời cầu, thường nói
rõ cách này hay cách khác là xin Thần linh (Yàng) cho khỏi gặp quỷ thần
(cà-yàng). Cứ sự thường gặp quỷ là có vấn đề, có sự cố chẳng lành. Người
ta tin phải có “nhớp” gì đó quỷ mới gìm gặp. Không ai dại gì mà để cho sự cố này
xảy ra. Nên lập tức phải tế Thần để trừ quỷ (lơh-Yàng ting cà). Và thường
trong các dịp khác có “lơh-Yàng”, người ta cũng cầu thêm vài ý để tránh
khỏi tai hoạ này. Cũng xin lưu ý một điều cơ bản là các vị thần hữu danh không
có quyền hành gì trên quỷ.
4. Không ai muốn gặp quỷ, mà cả những gì, những nơi … người ta hồ
nghi có quỷ là lập tức tránh xa, đồng thời làm mọi cách để nó khỏi theo hoặc sán
lại gần. Ấy vậy, nhưng đời một người, không ai là tránh khỏi quỷ, ít ra là ảnh
hưởng của quỷ (gơtờp cà). Vì mọi sự dữ xảy ra đều được gán cho quỷ. Các
loại hoạ tai như dịch tễ, mất mùa, tai nạn … cho đến những hiện tượng “bất thường”
trong vũ trụ như động đất, mưa đá đỏ, nguyệt nhật thực, nhất là nguyệt nhật thực
toàn phần đều do quỷ mà ra. Ngay cái chết bình thường của con người cũng cách này
các khác có bàn tay của quỷ (tơng ding glờr), còn nói chi tới chết dữ (bơrniăng).
Tóm lại quỷ là sự dữ. Gặp quỷ là có tai nạn …
5. Vậy là từ trong ý niệm đến từ ngữ và cách diễn đạt đều có sự phân
biệt rõ ràng giữa Thần và quỷ. Có thể tóm gọn trong hai từ : tác sinh (tơngkis)
và tác tử (tơnchơt). Cả hai có thể ở chung một chỗ, nhưng không lẫn lộn.
Ai có phần nấy. Mỗi bên dường như có nhiệm vụ riêng. Trong ngôn ngữ không thấy
có từ nào nói hai bên tìm cách hãm hại nhau, dù trong hành xử thì hai bên đối
chọi hẳn nhau.
6. Trong niềm tin nhân gian chỉ thấy diễn tả rằng
: khi nào, nơi nào có Yàng hiện diện thì không thể có
quỷ cùng lúc cùng chỗ. (Có cụ còn nói : nếu có quỷ lúc đó thì cũng vô hại, quỷ
bị Thần lấn lướt ở đây hay Thần vô hiệu hoá quy)û. Nhưng khi nào, nơi nào là có
Thần hiện diện ? Cụ thể và rõ ràng hơn hết là chính khi và nơi có nghi thức tế
Thần (lơh-Yàng). Tâm hồn con người lúc đó thảnh thơi và vô tư nhất. Người
ta được ở gần Thần, được Thần ở gần, ở với, đậu lại … thì không còn sợ bất cứ cái
gì, kể cả quỷ.
7. Một điểm son nơi anh em Kơho là không có nghi thức tế quỷ.
Ngược lại mọi nghi thức tế thần là để trừ quỷ, xin Thần tiễu trừ quỷ. Trong mọi
lời cầu đều có ý tưởng xin Thần đừng để quỷ tác hại đến mình, kể cả các công việc
làm ăn của mình. Hiệu nghiệm của lời cầu đó đến mức nào thì chẳng có gì kiểm chứng
được. Nhưng rõ ràng là mọi người từ khi có ý định, hứa … tế Thần … là được yên
tâm, không sợ. Hơn thế, một điều tin tưởng dứt khoát như đã nói, ai và nơi nào
có Thần thì quỷ không xâm phạm được. Riêng với con người được Thần ở thì cũng được
mọi người tôn trọng. Trái lại những ai bị nghi là quỷ hay có quỷ thì mọi người
sợ và xa lánh (chưa kể là tìm cách giết đi cho rồi).
8. Trong tâm thức bình dân, có lẽ do lưu truyền thì đúng hơn, người
ta cũng tin chỗ này có nhiều quỷ hơn chỗ kia ; sắc dân này có nhiều quỷ hơn sắc
dân kia ; làng này có nhiều quỷ hơn làng kia ; thậm chí có dòng họ này nhiều quỷ
hơn dòng họ kia. Vấn đề rất tế nhị nên xin tạm ngừng ở đây, miễn đi sâu vào chi
tiết, mặc dù con cũng được chỉ cho biết. Vì quả thực, mọi người Kơho đều muốn
giàu Thần (păs Yàng), gần Thần, hay được Thần ở gần, Thần ở, Thần đậu lại.
Chả ai muốn ngược lại, càng không muốn cho ai nghĩ như thế về mình.
9. Cũng trong tâm thức này, mà qua cuộc sống xã hội, cũng như qua rất
nhiều câu chuyện cổ, người ta tin đã có quỷ ở lẫn lộn với con người ; quỷ làm
cho con người biến thành quỷ ; quỷ ở người này lây sang người khác chưa có quỷ
…. Những con người này cũng luôn tìm cách tác hại, tác tử … như quỷ. Có điều ở đây
là hình thể con người rồi, nên người ta có thể nhận ra và xa lánh. Nói có thể
vì trong thực tế đã có không ít người mắc tròng (xem thêm tư liệu “cau cà”
và nhất là tư liệu rất nhiều trong các truyện cổ).
10. Quỷ rất sính và thèm máu + thịt, nhất là thịt trâu và là thịt
trong dịp có tế Thần. (Gọi là thịt cúng cũng được, nhưng đúng ngôn ngữ phải nói
thịt tiến dâng Thần linh – phan pơdơng Yàng). Người ta tin các dịp lễ như
vậy, quỷ cũng lần mò tới và ở xa xa, thường trong các bụi cây lớn rậm, để đón
những người tham dự lễ (có ăn thịt trâu) về qua là đòi ăn. Chả ai thấy và tả ra
được cái hoàn cảnh đó. Chỉ nói tin chỗ này chỗ nọ có quỷ chờ. Rồi mỗi khi đi dự
tế Thần về đến đó là khựng lại, thần hồn nát thần tính. Và nếu không ném thịt
cho quỷ thì quỷ sẽ ăn mình.
Thế nên trong các dịp lễ như vậy, người ta phải dành ra một số thịt
(thường là thịt vớ vẩn …) cho những người ở xa mà phải về trong chiều hay đêm đó,
để khi đến đó, người ta ném (cơm) cho quỷ một miếng. Mỗi chỗ một miếng,
mỗi miếng bằng đầu ngón tay.
11. Vài từ ngữ diễn tả hành vi của quỷ :
Cà bơchồ : quỷ cám dỗ
Cà huh : quỷ hú
Cà jòi : quỷ tìm
Cà lơh : quỷ hành
Cà pơrlồm : quỷ lừa dối
Cà sa : quỷ ăn
Cà hàl : quỷ cứa, cắt
Cà jăt : quỷ theo
Cà kăp : quỷ cắn
Cà kuêp : quỷ bắt
Cà ngui : quỷ ám, nhập
Cà ràn : quỷ quyện tới
Cà tơnchơt : quỷ giết chết
Vài ca dao :
* Jơgloh coêng brê : đói chỉ rừng
Jê să coêng cà : đau chỉ quỷ
* Làng gơprah kơywa cà : dân làng tan tác vì quỷ
* Cà sa mu kăp : quỷ ăn ma cắn
* Cà sa pin Yàng : quỷ ăn tưởng Thần
* Cà sa banõ lah Yàng : quỷ ăn chớ nói là Thần
Kwang kàng banõ lah cà : Rộng miệng chớ nói
là quỷ
* Cà sền măt : quỷ nhìn mặt
Sơkăt jăt jơng : con cheo theo chân
* Cà bòn gơêp, rơêp bòn cau : quỷ làng bạn, đậu
làng người
* Cà jăt bơr : quỷ theo lời
Sơnggơr jăt cing : trống theo chiêng
B. Quỷ hữu danh, hữu hình
1. Theo niềm tin thì quả thực đã có quỷ. Tự nó đã là vậy. Tự bản chất
quỷ là sự dữ, luôn gieo rắc sự dữ, nhưng sự dữ thì lại muôn hình vạn trạng, và
cũng có nhiều cấp độ dữ dằn khác nhau. Người Kơho đã có một nỗ lực nào đó muốn
tách biệt nó ra, muốn hữu danh hoá nó, muốn định vị nó, muốn khoanh vùng hoạt động
của nó. Một phần là để dễ chỉ mặt, xếp hạng, một phần là để cảm nghiệm được cái
bậc thang, cái mức độ của sự dữ hay sự sợ hãi. Thực tế có người sợ thứ quỷ này
mà không sợ thứ quỷ kia.
2. Theo con tìm hiểu qua thực hành của anh em (qua tư liệu thì chưa
kỹ lắm), thì sự phân biệt theo danh xưng chỉ có ý nói lên các sự dữ khác nhau của
một tên quỷ nào đó, ở trên các quỷ. Nói khác, quỷ vô danh hiện thân trong quỷ hữu
danh.
3. Nhưng cách đặt tên như vậy có thật sự đem đến một sự rõ ràng, cụ
thể như ở từ Yàng không ? Con cảm thấy hơi khó, bởi vì ngay các từ người
Kơho dùng để đặt tên cho quỷ, thì quá bán là từ trừu tượng, rất khó mà định vị.
Nhiều khi chỉ là một cái phẩm ác ghép thêm vào cái phẩm ác chung. Đấy là chưa kể
có cái phẩm ác chỉ có trong trí tưởng tượng.
4. Nếu cắt nghĩa từ ngữ thì đối với mọi người khác sẽ chả thấy cái
gì là ghê gớm lắm. Nhưng với tâm trạng người Kơho thì khác hẳn. Dĩ nhiên mức độ
sợ sệt thì tuỳ theo từ ngữ và sự lưu truyền. Xin liệt kê vài tên :
Cà aràk : quỷ phàm phu tục tử
Cà bơr : quỷ miệng
Cà brơyăng : quỷ vòm mặt trời (hút máu hớp
hồn người chết tai nạn)
Cà gơrnòc : quỷ thòng lọng
Cà mbùng bơr : quỷ môi miếng
Cà nùn : quỷ giả nhân
Cà mu-ràk : quỷ ma tham ăn
Cà phuêt-mu : quỷ ma biến hoá
Cà rơhau : quỷ sói
Cà bàr măt : quỷ hai mắt
Cà bơnùn : quỷ đười ươi
Cà kơlìn : quỷ tai ương
Cà mu : quỷ ma
Cà ràk : quỷ tham ăn
5. Bên cạnh các từ trực tiếp nói đến quỷ (như trên), còn có rất nhiều
từ khác khi nói đến là người ta nghĩ ngay đến quỷ, hiện thân của sự dữ, rất
nguy hiểm … Người ta tránh những cái đó, nơi đó. Ai dù vô tình hay hữu ý đụng
chạm tới sẽ mắc hoạ. Có điều thường những tai hoạ này khi xảy ra rồi người ta mới
nghĩ ra. Nhưng chỉ những người yếu bóng vía (lơbơn hwềng) hay các em bé
mới bị nó hành, nó nhập, nó vật, nó hớp hồn … nhiều khi đưa đến tử vong. Còn những
người cứng vía (kră hwềng) thì nó vô phương. Xin liệt kê vài tên :
* Boê bil, boê măt bil, măt bil : chỗ có bùn sụt, gần như không
đáy. Người ta tin ở đây có một loại quỷ con tên là chă-chàn.
* Măt dà : nghĩa đen : mặt nước, nhưng khi nói từ nay người
Kơho nghĩ đến chỗ khác thường có mạch nước chảy ra, hoặc từ một lùm cây cổ thụ
rậm, hoặc một hầm đá kín.
* Chi-che : cây cối ; Gle-glào (tre pheo) ; Luê-liăng
(đá điếc) : Ba từ rõ ràng là chỉ trống. Những người Kơho ở vùng nào thì không
biết từ đâu, họ đã chỉ ra chỗ này chỗ nọ.
* Luê mu : đá ma. Gốc từ này do một truyện cổ xuất phát từ
miền anh em Mà. Nhưng về sau nhiều miền Kơho khác cũng gọi chỗ này chỗ nọ có “Luê
mu”.
* Kơ-tìng : không người Kơho nào bây giờ cắt nghĩa được từ này,
chỉ biết nói đến là sợ. Thường nó là một lùm cây lớn rậm gần làng ở. Nhưng theo
tán tự và quan sát thực địa, có thể chỉ một kết luận : nghĩa địa xưa.
C. Giải pháp thực hành (trừ quỷ)
1. Vì không phải mỗi lúc lại gọi Thần (hòi Yàng) theo kiểu tế
Thần (lơh-Yàng). Vì nó đòi hỏi nhiều sự sửa soạn, có khi tốn phí nữa (rượu,
tế vật…). Hơn thế, những sự có đây thường là đột xuất, bất thường …. Nên trong
cuộc đấu tranh giành giật sự sống với quỷ, con người phải cố tìm ra những phương
thế để đuổi quỷ thần (ting cà, ting yàng). Nói đúng hơn là Thần linh đã đặt
để sức mạnh của mình trong một số sự vật, rồi cho con người có khả năng tìm đến,
để nhờ đó mà trừ quỷ.
2. Có một niềm tin rất mạnh, gần như tuyệt đối, vào các phương tiện
này. Trường hợp đã dùng mà sự cố không hết, thì người ta cho không phải bởi quỷ
nữa, mà là Thần linh đã ấn định vậy (Yàng duê). Và như thế là đã quá đủ để
người ta an tâm, không phiền trách gì nữa.
3. Trừ những phương thế có thể xảy ra từ những điều đã trình bày ở
trên (đặc biệt trong phần nói về Thần linh), như gọi Thần, chuộc đền, sống ngay
lành, tránh xa nơi này chỗ kia …. Người Kơho có một số phương thế để trừ quỷ, mà
hiện giờ vẫn còn dùng mà phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc, mọi nhà. Đây là một “niềm
tin” gần như thâm căn cố đế, không dễ gì loại bỏ được, ít là cho đến thời điểm
này (2003). Bề ngoài nhiều khi chúng ta không thấy, hoặc gạn hỏi thì nói : không
có đâu (ờ goê goê) không biết (ờ git), thực tế vấn đề này còn khá
nguyên vẹn, nhất là nơi các bô lão.
4. Kính thưa Đức
Cha, mọi chỗ khác xem ra có hơi rõ ràng, tự nó đã đặt vấn đề cho con phải suy
nghĩ về vấn đề hội nhập. Nhưng ở đây không thấy rõ ràng. Chỉ nhận đây và qua vài
nghi thức khác, có gợi cho con nghĩ tới việc Chúa Giêsu đã lập bảy Bí tích. Giáo
hội cũng chỉ ra nhiều Á Bí tích … (con muốn nói những phương tiện trần gian).
Xin Đức Cha yên trí, con chưa làm điều gì mạo phạm, chỉ đang suy nghĩ và tìm cách
cắt nghĩa làm sao thôi. Con biết con phải rất thận trọng, không được hồ đồ. Dưới
đây là vài phương thế :
a. Roi mây (tạm gọi vậy, vì vật dụng thuộc loại mây). Người Kơho gọi
là gai wai hay gai jra, được làm từ “che phul”.
Dây này thuộc loại mây rừng nhưng rất đặt biệt
: thân nhỏ, rất dài, mọc từng sợi, chứ không mọc thành cụm như
mây thường. Ngủ đêm trong rừng gần dây này, người ta sẽ nghe thấy nó vặn mình
trèo trẹo (và nghĩ đó là nó đuổi quỷ). Nhà người Kơho nào cũng có vài ba sợi dây
này. Người ta đào lấy cả rễ, và lấy một quãng thân sát gốc chừng 3 mét, đem về
làm roi đuổi quỷ. Bất cứ lúc nào người ta nghĩ là có quỷ rình rập, theo rõi … là
đem dây này ra quất veo véo. Đặc biệt vài trường hợp sau : vợ đẻ, đi báo tin tử,
đi đòi hồn về …. Trong khi quất như vậy thì tự trong lòng hoặc lẩm bẩm ngoài miệng
những câu cầu thần tự phát.
Vậy là cho dù có dùng phương tiện (do Thần ban), nhưng người ta cũng
cầu mong chính Thần linh can thiệp. Điều này cũng áp dụng cho phương thế sau.
b. Bùa, ngải (cũng tạm gọi vậy). Người Kơho gọi là :
* Đèk : vật thiêng, được gọi vậy vì
trong niềm tin, người Kơho cho là Thần ban (Yàng ai) cho người nào, người
đó mới bắt gặp. Nó có rất nhiều loại : từ cục đá mầu lạ, một hột cây khác thường
… cục trầm hương, hổ phách … răng cọp, móng cọp, ngà voi … nhưng phải là rụng tự
nhiên.
* Sơnơm : thuốc ; nó thuộc các dạng như
cỏ, cây … nhưng đặc biệt là các dạng củ rừng có thân riềng (càng hiếm thấy, càng
có hình dạng lạ càng tốt), thông thường nó có mùi hắc. Các cụ già hay mày mò kiếm,
về trồng kín ở một chỗ nào đó trong phạm vi nhà ở, có ý cho quỷ không dám đến
nhà mình.
* Gơthăr : lưu huỳnh (khác với diêm
sinh gọi là Siau), loại khoáng chất tự nhiên, thường dưới dạng đá, dễ bắt
lửa, đốt cho lửa xanh, mùi rất hắc, mầu nó người ta trông phát sợ.
* Jơngăo : từ này dịch là ngải cũng tạm
được. Tạm được thôi vì nó có khác với nội dung từ ngải mà người Việt suy nghĩ là
một chất độc gì đó. Với người Kơho thì Jơngăo rất lành, lại thường là của ăn hằng
ngày. Ví dụ ; nghệ (vàng hoặc đen), hành thượng (iăm), hột bí xanh ….
Con chưa hiểu và hỏi chưa ra vì sao dùng những thứ này làm Jơngăo. Chỉ
biết rằng khi phải đem em bé đi theo (vào rừng chẳng hạn), bố mẹ thường lấy những
vật liệu này bóp hoặc giã ra, quệt nước của nó vào trán, ngực em bé. Đôi khi cũng
thấy lấy một ít vật liệu đó bọc vào vải, đeo vào cổ hoặc lận vào quần áo cho
em.
c. Xối than (cũng tạm gọi vậy). Người Kơho-Sre hay gọi là crùh
chah, người Kơho-Mà lại hay gọi là croê krăs. Đề tài này có hơi lòng
thòng. Nó lại có liên quan trực tiếp tới đề tài sẽ nói ở sau (phần III). Vậy
xin Đức Cha xem ở đây. Và nếu có gì để hỏi, con xin trình bày sau. Nhưng đại khái
là vầy : Lấy một vài cục than hồng (khi hữu sự, và bất cứ ai làm cũng được), nhễu
vào đó vài giọt nước, khói sẽ bốc lên, trong khi đó suy nghĩ hoặc nói lên điều
mình thỉnh cầu với Thần linh. Vị trung gian sẽ có mặt tại chỗ, và đem lời thỉnh
cầu mình đi.
III. Vị trung gian (Bơtau kòn-gùng)
1. Tư liệu về bản thân vị này thì con thu tập được có hơi ít. Nhưng
tư liệu thực hành, tức là mời Ông tới giúp đỡ thì lại có khá nhiều, nó được ghi
rải rác trong các tư liệu nói về “phong tục, tập quán”
2. Dĩ nhiên, nếu tìm được về nguồn gốc là điều đáng giá và rất quý.
Nhưng cái mốc lịch sử đó đã quá xa rồi, ngoài tầm tay với, không thể tưởng tượng
nổi, lại không có bút tích gì, chỉ theo truyền khẩu, mà truyền khẩu thì dĩ nhiên
là có nhiều biến thái, biến dạng, ấy là chưa kể còn mất dạng. Dù sao nó cũng còn
có một chút gì đó để làm bằng, không nên bỏ qua. Vì dựa vào đó mà có thực hành
như hôm nay. Ngược lại, qua thực hành càng ngày càng có chất lượng này mà có thể
đánh giá đúng hơn về nguồn gốc.
3. Lần dở lại các truyền thuyết, truyện cổ, những câu ca dao, các
nghi thức mời và cầu Ông … Có thể đưa ra một vài chi tiết về Ông như sau : Ông
là một vị Thần nhập thể. Cho đến hôm nay Ông vẫn là một vị Trung gian duy nhất
giữa con người và Thần linh cũng như quỷ thần. Ông hoàn toàn đứng về phía con
người để cứu giúp mọi người, mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Ông có thần thế
như tuyệt đối, lại rất năng nổ, tích cực. Nhờ đến Ông là hoàn toàn yên tâm, bởi
vì chưa hề nghe nói Ông từ chối con người cái gì. Ông chẳng có tiền thân cũng
chẳng có hậu duệ. Ông có sao, ông có vậy (con hơi lạm dụng một cách dịch của
Kinh Thánh). Và chỉ có vậy, như vậy. Không ai bàn cãi gì về Ông bao giờ. Không
thấy có nhất, nhị, tam, tứ, ngũ … kỳ phổ độ. Chỉ có một Ông thôi.
4. Theo con, thưa Đức Cha, đây là một nét đặc sắc nhất, một điểm
son trong kho tàng niềm tin của anh em Kơho. Nó làm cho niềm tin được hoàn hảo
hơn và có giá trị hơn. Có thể ví nó như ánh sao mai của niềm tin. Thế mà đây cũng
là đề tài rất ít người để ý đến khi tìm hiểu về anh em Kơho. Theo con dò hỏi
thì hình như chưa có ai từ xưa đến nay đề cập tới đề tài này, kể cả các anh em
con phụ trách các làng dân tộc.
5. Có khá nhiều nguồn tư liệu khác nhau về Ông này, cả về trình thuật,
gốc gác, lẫn tên của Ông. Đại khái như sau (dựa theo truyền thuyết và truyện cổ
…) :
a. Mẹ Ông là Kơ
Bìng, một cô gái đẹp. Được thần linh xuất hiện trong một vầng sáng lớn, có
chuyện cho là từ mặt trời. Thần lấy hình một cụ già râu tóc bạc phơ, rất hiền lành
đạo mạo. Cụ già cho cô Kơ Bìng thụ thai bằng cách cho cô ăn một trái cây. Cô
sinh con trai, đặt tên là Sơđèn (nghe qua băng ghi thì có nhiều cách đọc
: Sài-đèn, Srài-đèn, Srơđèn). Sơđèn lớn lên và có nhiều thể hiện
xuất chúng, làm rất nhiều việc giúp đỡ người khác. Không thấy nói đến cái chết
hay hoá thân của Ông. Chỉ nói Ông đã trở về với vầng sáng … và từ đó Ông vẫn giúp
đỡ mọi người.
Có chuyện lại kể : Khi còn sống, bề ngoài Sơđèn cũng như mọi
người. Có điều vì Sơđèn không có bố, nên lúc bé hay bị các bạn trêu chọc
… và bắt làm những việc nặng nhọc hoặc cố tính hành hạ cậu. Cậu buồn nhưng không
hề kêu than trách móc. Đôi khi vì tức ngầm, cậu chọc lại các bạn bằng những hành
vi khác thường, như làm phép treo hết gùi cơm, quần áo … bạn bè lên những cành
cây cao, nhưng rồi lại lấy xuống cho. Chắc chắn là cậu cũng cảm nhận rằng mình
là một người khác thường, nhưng không bao giờ khoe khoang, tỏ vẻ muốn lấn lướt
bạn bè.
Có chuyện lại kể : Sơđèn còn có một tên khác là Wànõ. Sơđèn
hay Wànõ là tên tộc (Să tờm). Người ta cũng gán cho Ông một biệt
hiệu (Să cồng) là Chah hoặc Krăs (than). Lý do là Sơđèn
có da sậm đen, nhất là ở mặt (có lẽ do vầng sáng chiếu vào ?). Ông sống nghèo gần
như không có gì trong tay bao giờ. Nhưng hễ có ai cần đến Ông là Ông giúp tận
tình, và không biết từ đâu mà mọi việc đều thành công.
6. Không biết Ông biến đi từ lúc nào, nhưng đã từ hồi xa xưa ấy, Ông
được biểu tương như là một vị Thần lành, một Ông thiện linh nghiệm. Người ta thường
mời Ông đến và xin giúp đỡ, can thiệp trong mọi sự cố mà con người vô phương đạt
đáo.
7. Một kết luận : Ông Sơđèn vừa có cốt thần linh, vừa có cốt
loài người. Ông có mặt ở trần gian chỉ vì con người, và cho đến hôm nay Ông vẫn
còn là vị cứu giúp con người.
8. Muốn có một dấu chỉ tượng hình có liên hệ tới Ông, mỗi khi cần mời
và xin Ông gấp, cũng là một chứng cớ tin Ông có mặt để nhận lời, người ta dùng
chính cái nghĩa của biệt hiệu Ông, rồi moi móc trí tưởng tượng, để rồi hình thành
công việc xối than (crùh chah hay croê krăs), như đã nói trước đây.
Luôn luôn thành công. Thành công nhất là chính người cầu thấy an tâm.
Trong thực tế, nghe rất nhiều người kể lại, thì kể như hầu hết được toại nguyện.
Không ít trường hợp đã có người Kơho không tin, nhưng do áp lực của gia đình, cũng
như vì tai nạn câu thúc mà thi hành đúng như trên. Ông cũng tới giúp và cũng thành
công.
9. Cũng xin nói thêm : ngoài những sự cố bất khả kháng, người ta cũng
mời và xin Ông tới giúp như một phần của toàn bộ một nghi thức tế lễ nào đó. Trường
hợp này là xin Ông đến giúp cho các buổi lễ được toàn hảo. Cụ thể là trong các
dịp lễ lớn, từng mỗi khâu công đoạn của lễ, đều phải crùh chah. Đặc biệt
trong tang chế, trong vòng 4 ngày linh cữu còn ở trong nhà, thì mỗi ngày cũng có
một vài lần crùh chah.
10. Một nghi thức và một hình ảnh thật gần gũi, rất thân thương, lại
bình dân. Nhưng không thấy có ai coi thường. Người ta luôn thực hành nghiêm chỉnh
theo đúng quy định của phong tục tập quán, với tất cả tâm tình thành khẩn.
IV. Hai tương quan của niềm tin : Linh hồn (Sồp-swàn) ; Âm
phủ (Làng-bồc)
Linh hồn và âm phủ cũng là hai đối tượng của niềm tin có tính cơ bản
của mọi dân tộc. Nhưng nó thuộc con người, cho con người. Con người tin về
chính mình.
Phần tư liệu nói về hai đề tài này cũng có khá nhiều, rải rác chỗ này
chỗ khác. Đọc thì có thể hiểu nhưng mơ hồ khó nắm bắt. Ở đây xin tạm ứng một vài
ý khả đáng rút ra từ những tư liệu đang có.
Cũng như khi nói về các đối tượng khác của niềm tin dân gian, ở đây
cũng phải chấp nhận một sự thực là nó đã có, và sẽ còn mãi. Chả biết đâu là khởi
đầu, cũng chẳng biết lúc nào là kết thúc. Nếu không nhìn nhận vậy thì chả có gì
để mà nói. Nói đúng hơn chả ai có quyền gì mà nói nó có hay không có. Tin hay
không tin nó vẫn có đấy.
Có điều mỗi sắc dân lại có một ý niệm khác nhau, và từ ý niệm khác
nhau đó đưa đến những cách hành xử rất khác nhau. Và thế là nếu muốn hiểu cho đúng
thì lại phải loại trừ cái mà chúng ta đã có sẵn trong đầu, đừng lấy đó như kim
chỉ nam để cật vấn điều này, lẽ nọ. Bản thân con rất ý thức điều này, nên nếu Đức
Cha có thấy con xác tín điều này điều nọ là con dựa trên tư liệu đã có, và ráng
hết sức đặt mình vào cái mà anh em tin. Ngoài tư liệu, con còn dựa trên các thực
hành lúc này còn đang còn, mà bất cứ ai thật lòng vẫn còn có thể kiểm chứng được.
Có một câu ca dao tuy không trực tiếp liên hệ tới vấn đề ở đây, nhưng
nó lại có thể làm tiền đề đẹp và hữu lý. Nó nói lên như là một vũ trụ quan của
người Kơho :
Bơnồ òr nau : xưa xửa xừa xưa
Ù dùl kơnăc : đất một cục
Răc dùl rơsòn : chim một tổ
Kòn bơnuês dùl me dùl bàp : con người một cha
một mẹ.
Vậy là từ trong bản chất, từ nguyên thuỷ, loài người đã có một chỗ đứng,
một địa vị khác hẳn với sinh vật và khoáng vật. Không lẫn lộn, không mập mờ. Từ
con người như thế đó, chúng ta bước vào đề tài.
A. Linh hồn (tạm gọi theo tiếng Việt) : Sồp soàn hay hồn : Swàn
1. Đối lại với từ này là thân xác, thể xác, thân thịt (Să-jăn),pwăc
să, să ka), hay xác (să). Gộp chung lại là xác hồn (să-swàn).
Đó là cách diễn tả thông thường, bình dân.
2. Xét theo nội dung thì cũng như quan niệm chung thường hiểu. Đó là
các phần thượng (hình nhị thượng) ở chung với cái phần hạ (hình nhị hạ). Cái nội
dung ở chung với cái hình thức. Cái ruột ở trong cái vỏ…
3. Theo cách chiết tự ngôn ngữ Kơho, cũng chỉ ra một cái nhìn khả đáng.
Sồp hay Nsồp là cái chứa đựng, cái bảo vệ, cái giữ gìn, cái làm
cho hình thành một vật gì đó, hoặc cái để cho mọi sự tựa vào mà giữ được, có được.
Swàn nghĩa đen là đá quý, ngọc thạch … từ đó
hình thành nhiều ý khác như vật quý, cái tinh chất, cái tinh hoa, cái sự sống,
cái sống còn, cái sống của một vật.
4. Theo quan niệm bình dân của người Kơho, linh hồn là giống thiêng
liêng, không thể thấy, cũng không thể chết. Hơn thế, nó còn làm cho vật chất có
chất sống, có cái bản lĩnh, có uy lực, có sự sung túc … Cũng vì thế, cho dù người
ta không thấy cũng vẫn có thể cảm nhận, cảm nghiệm được. Đặc biệt qua cái chết
phần xác của con người (Tư liệu chơêt tơêp) (Có thể xem lại ở Yàng kòi
> Swàn kòi). Hơn thế, nó còn là cái uy lực con người không thể chối bỏ,
không thể cưỡng lại. Nói cách khác, là cái con người không có quyền hành gì trên
nó, dù nó đang hiện diện, là chủ thể của con người.
5. Là cái gì đó thật bền vững, không suy suyển, bất biến, bất tử …
dù bất cứ tình huống nào, ngay cả cái chết phần xác. Trong ngôn ngữ Kơho không
có những cụm từ : kinh hồn bạt vía, rụng rời hồn xác … như trong Việt ngữ. Cùng
lắm người ta cũng chỉ dùng những cụm từ rơm să rơm jăn, rơm tih rơm tào
… Mà những cụm từ này đều để chỉ cái hình nhi hạ của con người, chứ không đụng
tới cái hình nhi thượng. Nói rõ hơn, dù có sợ hãi đến đâu đi chăng nữa, cũng chỉ
đụng chạm được cái phần hạ, cái phần sơ đẳng, cái vật chất, cái phần xác của
con người thôi.
6. Linh hồn vừa làm cho vật chất có sự sống, nhưng nó cũng là sự sống
riêng, có thể tách rời. Ngược lại, vật chất nào không có nó thì kể như vô dụng.
Nếu áp dụng cho sinh vật thì cho dù còn sống cũng kể như chết, hay sẽ chết cấp
thời (Tư liệu tơwài swàn : nghi thức đi lấy hồn về cho xác được sống,
khi nó chưa đến số phải chết (Yàng duê). Cũng có thể kể ra ở đây đề tài
“lik rê” (ra về) của hồn người chết (sẽ đề cập sơ qua đến sau đây).
7. Qua vấn đề vừa đề cập mà có thể người Kơho cũng có các ý niệm về
giác hồn, sinh hồn (cũng như linh hồn). Nói khác, cái hồn sống có trong tất cả
vũ trụ vạn vật, có thể chứng minh qua niềm tin, hoặc ít ra là có ý tưởng về “tơl
nă tơl chi” (mỗi người một cây), và “tơl nă tơl sơrmanõ” (mỗi người
một ngôi sao). Ý niệm này (giác hồn và sinh hồn) có được lưu ý đặc biệt hơn nơi
các sự vật, con vật có liên hệ gần gũi hơn với cuộc sống con người. Ví dụ có một
số cây không được chặt bừa bãi, phải kiêng khi phát rẫy kẻo phạm đến ông bà chú
bác, hoặc như swàn kòi, swàn rơpu đã nói ở trên.
Linh hồn con người luôn là trên hết trong niềm tin, trong tâm tư
tình cảm và trong rất nhiều nghi thức cúng lễ, đàn tràng.
B. Âm phủ : Làng bồc hay Brah-tìng
1. Các nhà truyền giáo, cả công giáo lẫn tin lành, đã gán cho nó nội
dung từ “ngục tổ tông”. Theo con chỉ tạm được thôi. Trước mắt cũng chả tìm được
từ nào hơn. Có điều còn nhiều từ khác có liên hệ trực tiếp như thiên đàng, luyện
ngục, hoả ngục thì còn đang tranh luận và chỉ dùng thử. Vì trong niềm tin của
người Kơho, không có các ý niệm này, nên cũng khó mà tìm ra từ ngữ cho thật
nghiêm chỉnh.
2. Anh em Kơho cắt nghĩa từ “Làng-bồc” là “Anih
cau chơt ơm kis” (nơi người chết sinh sống) ; hay dễ hiểu hơn là : “Tiah
cau chơt dê” (miền đất của người chết). Như thế rõ ràng chỉ có một nơi duy
nhất này thôi là nơi ở của mọi người chết, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo,
tốt xấu.
3. Qua các tư liệu khá nhiều, nhất là truyện cổ và ca dao, nói về vấn
đề này, mà con hiện đang có, con có một nhận xét chung chung : Đây là một ý niệm
còn có nhiều hàm hồ, không dứt khoát nói ra được như các ý niệm ở trên. Vừa khó
hình dung ra cái trật tự của nó, vừa có nhiều khúc mắc không tìm được lời giải đáp.
Nhất là có nhiều sự cố xem ra đối chọi nhau. Càng đọc, càng hỏi, càng thấy rối
mù. (Chắc chắn cũng một phần do con chưa đọc, hiểu và phân tích kỹ các tư liệu).
Có nó thì nhất định là có rồi, nhưng nó thế nào, ra sao … thì con mới chỉ hỏi
ra được từng khía cạnh, từng chi tiết, chứ chưa tìm ra được sự ăn ý hay ăn khớp.
Cái khó hơn nữa là chính người Kơho cũng chẳng thấy cần phải hiểu tỉ mỉ về vấn đề,
nên cũng chẳng ai giải thích được. Họ chỉ cần thi hành một số nghi thức theo
phong tục tập quán là yên tâm và khép lại vấn đề. Qua các truyện cổ, vì là truyền
khẩu, nên mạnh ai nấy kể thêm nếm vô lường. Cái cốt lõi thì còn đấy nhưng rất cô
đọng. Không thể moi móc ra được cái gì nhiều lắm. Các câu pơnđik về vấn đề
này cũng không khai sáng hơn là mấy. Nội dung của pơnđik (ca dao) hầu hết
là mặc cái ý tưởng bi quan, buồn nản khóc thương về sự xa cách, biệt ly. Tôn trọng
quan điểm thấy nó sao thì cứ nói vậy đã, rồi sau này tìm được thêm sẽ bổ túc
sau.
4. Tìm hiểu từ ngữ qua cách chiết tự, sẽ thấy như sau :
* Làng-bồc : “Làng” là dân hay dân làng ; ở đây còn
hiểu là mọi người như nhau, là bạch đinh hết. “Bồc” là người đã
chết, cũng còn hiểu là thây ma, xác chết, mộ địa …. Hai từ gộp lại có thể hiểu
là tử dân hay dân chết.
* Brah-tìng : “Brah” lah thần nói chung ở ngoài nhà,
mà muốn gọi tới phải đứng ở ngoài nhà. “Tìng” hay “Ntìng” là xương,
cốt, hài cốt. Ghép hai từ lại có thể hiểu là thần cốt hay thần xương. Trước hết
nó nhắc tới một tập tục đặt chung mọi người đã chết của một dòng tộc vào một nhà
mồ, không lấp đất. Lâu ngày sẽ có nhiều xương, người ta gạt sang một bên, rồi lại
để tiếp các người chết khác. Người ta coi đó là xương thiêng …
5. Cuộc sống ở “làng-bồc” xem ra cũng rất nhộn nhịp
chẳng khác gì thế giới người sống. Cũng ăn uống, tiêu xài, làm việc, cưới xin …
(nhưng không thấy nói đẻ con đẻ cái). Họ toàn dùng đồ thiệt chứ không dùng đồ dổm
(vàng mã, đôla âm phủ). Các vật dụng đem đi với người chết (boh chơêt)
toàn là đồ tốt, đắt giá nhất, tiền thật.
6. Làng-bồc ở chỗ nào ? Không có tư liệu nào nói dứt
khoát. Chỉ thấy nói xuống (mù), hoặc ở (ơm) hay ở trong (ơm tam). Nhiều người
cho là trong một hang sâu thẳm (Brong jrô huêt-hang), nhiều người khác lại
bảo là ở trong “Lìng-ding” (cái ống bất chợt). Cũng có chỗ nói làng-bồc
như một nước hay quốc gia (lơgar làng-bồc, lơgar brah-tìng). Tất
cả không nói rõ ở đâu.
7. Trong tư liệu có chỉ ra một vấn đề có liên hệ ở đây, nguồn tư liệu
này xem ra có vẻ lạc lõng với các điều ở trên, con không biết phải viết vào chỗ
nào cho hợp, xin viết đại vào chỗ này. Đó là người ta có 7 lần chết. Không phải
là chết xong rồi đầu thai, và lại chết … hiểu như luân hồi. Mà là chết xong rồi
chết nữa, chết nữa …. Thấy vấn đề có hơi khác thường, con đã lục tìm kho tư liệu
thì mới chỉ bắt gặp được 4 lần chết. Mỗi lần chết lại ở một nơi khác nhau.
a. Lần chết thứ nhất ở làng-bồc hay brah-tìng
b. Lần chết thứ hai ở làng phàn
c. Lần chế thứ ba ở ding blàng
d. Lần chết thứ tư ở lìng ding sing jơng sing tê.
Vì con mới chỉ tìm ra 4 lần chết, nên xin tạm coi lần thứ tư này như
lần chót. Vì trong tư liệu có nói tới nơi ở này là nơi nõìm răc kăc sề
(khóc lóc nghiến răng) và là nơi ồs hơng sùm mơya ờ geh lòng (lửa
rực hoài nhưng không có củi).
8. Tóm lại, theo niềm tin của người Kơho, thì làng-bồc
là nơi :
a. Mọi người đã chết sẽ ở và sinh sống.
b. Ở chung, không phân biệt bất cứ ai.
c. Không thấy nói có hình phạt hay thưởng công.
d. Thần linh (Yàng) không có liên hệ gì ở đây.
e. Quỷ (cà) có mặt, nhưng chỉ giữ vai trò canh gác, không
cho ai ra khỏi đây, không thấy nói có hành vi gì khác. Nhưng xem ra quỷ cũng không
khôn ngoan hay có phép tắc gì đặc biệt. Nên người chết (hồn người chết), nếu muốn,
vẫn có thể tìm cách qua mặt quỷ khá dễ dàng để ra về, hoặc thoát về (lik-rê).
9. Lik rê : Đây là một từ ngữ chuyên biệt
(đặc ngữ), nói đến việc linh hồn người chết có thể bỏ “làng-bồc”
ra về. Có khá nhiều hình thức “lik-rê”. Dưới đây là vài kiểu thường gặp
:
a. Linh hồn người chết về để thăm nom, chăm sóc
gia đình, gia tộc. Nơi linh hồn ấy thường hay ở là : Ơm tề òp, tòp tề rơkàng
(ở đòn tay, bám mái nhà) ; hoặc lồ tề bồ, tồ tề wăc (xoáy vào đầu, bện vào
khoáy).
b. Linh hồn người chết “lik rê” để đầu
thai vào một người trong gia đình, dòng tộc mình. Người ta kiểm chứng bằng ngoại
diện, cử chỉ, ăn nói, cách xử sự, tính nết …. Người Kơho không thích kiểu này,
vì sợ đoản mệnh. Thói quen đặt tên trùng nhau là đây.
c. Mọi linh hồn còn có thể âm thầm nhập vào một
người sống trong gia đình hay dòng họ. Nói khác, mọi người sống đều có một cái
“âm hưởng” nào đó của một người trong dòng họ đã chết. Do đấy mà trước khi một
người trưởng thành tắt thở, nguời thân có một nghi thức gọi là “lùp yồn”.
Từ “lùp yồn” có nhiều nội dung ý, nhưng ở đây hiểu là hỏi người hấp hối
xem ai là người (trong dòng họ đã chết) đã âm thầm ở với họ trong đời. Phải chăng
đây là một kiểu luân hồi. Nếu phải thì cũng nên lưu ý là nó không thăng hoa, cũng
chẳng thoái hoá. Theo ý con, vấn đề còn sâu xa hơn thế nhiều. Chính ở điểm này
mà có thể lý giải về cái hồn thiêng dân tộc hoặc bản sắc dân tộc còn lưu truyền
mãi. Nói khác, nhờ đó mà niềm tin còn tụ đọng khá đẹp, khá hoàn chỉnh trải qua
bao thăng trầm của dân tộc.
Trọng kính Đức Cha,
Xin Đức Cha cho phép con tạm ngừng ở đây. Vì chính khi viết những dòng
này, có biết bao điều lại được gợi mở, mà tư liệu cũng có chỉ ra, nhưng lại chưa
viết ra được. Một đề tài vừa cơ bản, vừa bao la, lại vừa như ngoài tầm tay với
của mọi người. Niềm tin vẫn mãi mãi là đối tượng phải học hỏi, tìm kiếm … và lúc
nào cũng vẫn chỉ là mon men.
Nhưng trước khi dứt lời, xin Đức Cha cho phép con tạm đưa ra một kết
luận cho chủ đề niềm tin Kơho này : Nhìn chung, con thấy một niềm tin như vậy là
khá nghiêm túc và hoàn chỉnh, nó cho phép khép kín được nhiều vấn đề. Đúng hay
sai, đó là chuyện khác, điều này không có chỗ đứng ở đây. Vì với anh em Kơho
thì nó đã là vậy, nên phải khẳng định nó là sự thật.
Niềm tin này đã trả lời và đã đáp ứng được những trăn trở của con
người Kơho. Trong thực tế, con chưa thấy ai phiền trách hay đặt chất vấn. Nói
khác, niềm tin này như đã giải đáp tất cả về thân phận con người. Chả ai thấy đó
là gánh nặng. Ngược lại, biết bao cái mới du nhập (không phải hội nhập) đã làm
cho nhiều người Kơho khổ sở, nhiều khi không chịu đựng nổi.
Nếu có được một sự hiểu biết về nhiều niềm tin nơi nhiều sắc dân khác
để so sánh, chắc chắn sẽ còn có rất nhiều nhận định thật đặc sắc về đề tài này.
Riêng con, càng ở với anh em Kơho, con càng cảm nghiệm mỗi ngày một rõ hơn về sự
ưu ái của Thiên Chúa đã sắp đặt, gìn giữ cái ý niệm tiền mạc khải mà con thích
suy nghĩ nơi anh em Kơho. Vì chính do niềm tin này được lưu truyền mà đời sống
cá nhân, gia đình, xã hội của người Kơho đã đạt tới một mức độ đẹp đẽ khó có thể
tưởng tượng nổi.
Con cũng không tránh né đề tài mà chính Đức Cha muốn đặt ra cho
con, mà bản thân con cũng đặt ra cho mình. Đó là hội nhập văn hoá, Kitô hoá,
hay truyền giáo …
Phải hiểu thế nào đây ? Con có ý nói tới khởi đầu, hành trình và kết luận phải làm sao đây ? Có phải là
đánh bại, đạp đổ, để rồi thay thế ? Có phải là bẻ gẫy, khuất phục bằng cái lý lẽ
của mình hay niềm tin của mình ? Có phải là coi thường tất cả, cho là nhảm nhí
tất cả, rồi cứ nhồi nhét cái quan điểm hay niềm tin của mình ? Nếu trả lời đáo
lý những câu hỏi đại loại như vậy thì khó thoát khỏi sự gẫy đổ hay phản chứng
trong chính quan điểm và niềm tin của mình.
Đường lối của con là : trước tiên phải học và biết anh em càng nhiều
càng tốt, qua chính con người toàn diện của anh em. Chắc chắn sẽ bắt gặp rất
nhiều ưu điểm về mọi mặt. Dựa vào đó để cài đặt, đan xen và thăng hoa. Có thể đốt
giai đoạn cho từng vụ việc tuỳ theo từng người. Nhưng sự thường thì cứ chậm rãi,
rỉ rả. Hãy học nơi chính Thiên Chúa. Ngài nhẫn nại biết bao qua suốt hành trình
rất dài của lịch sử Cựu ước.
Thưa Đức Cha, viết đến đây, con phải xin thứ lỗi với Đức Cha một điều
đã từ lâu rồi con thấy bức xúc, và càng ngày càng cảm thấy lo sợ. Rõ ràng là phải
có ơn Chúa rồi, cũng rõ ràng là bản thân con cũng rất sung sướng khi tiếp nhận
anh em tin theo Chúa chúng ta. Nhưng những phương thế và lòng tận tụy thực sự của
con dường như chưa thể đảm bảo cho một tương lai, cho dù chỉ là gần thôi. Đương
nhiên là phải tin vào Chúa quan phòng. Nhưng chả lẽ về phía con người mà Chúa đã
chọn gọi lại không phải đôn đáo, trầy da tróc vẩy … để bước theo và bắt chước
Người.
Trọng kính Đức Cha,
Lời cuối thơ này là lời xin lỗi chân thực của con với Đức Cha. Những
dòng con viết trên đây, phần chính yếu là dựa trên tư liệu, nhưng con lại chưa
có giờ sắp xếp tư liệu cho có mạch lạc, nên chắc chắn không khỏi lộn xộn, thiếu
sót.
Thứ đến những nhận định của con dựa trên tư liệu, mới chỉ là của riêng
con, vì con không có một thứ tài liệu nào để tham khảo, nên còn phiến diện.
Chính vì thế mà con có nói ở trên là con ao ước có nhiều anh em vào cuộc, để có
thể học hỏi lẫn nhau, bổ túc cho nhau.
Sau cùng, những dòng trên, chỉ có một số ít ý tưởng là con đã có
ghi lại trước đây khi đọc tư liệu lần đầu, còn tất cả con mới chỉ suy nghĩ và
liên tưởng trong đầu rồi viết ra, nên có thể có nhiều chỗ còn luộm thuộm. Con
xin Đức Cha thông cảm cho con. Xin Đức Cha cầu nguyện cho con và chúc lành cho
công việc của con đang làm ở đây.
Trọng kính,
Linh mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng