GIÁO PHẬN ĐÀ LẠT

I. LƯỢC SỬ

Phần đất thuộc Giáo phận Ðà Lạt ngày nay nằm trên cao nguyên Lâm Viên, ở về phía nam vùng Tây Nguyên. Xưa kia, vùng đất này vốn là địa bàn cư trú của những cư dân bản địa người Koho, người Mạ và người Churu. Nhưng sau nhiều đợt di dân, hiện nay có 43 dân tộc anh em chung sống trên địa bàn giáo phận. Người Kinh chiếm đa số, trên 80% dân số.

Địa danh Đà Lạt có lẽ phát xuất từ hai chữ “Đà” và “Lạt”, có nghĩa là phần đất nơi người dân sắc tộc “Lạt” hay “Lát” sống ven bờ nước (tiếng dân tộc gọi là Đà). Đà Lạt được biết đến và bắt đầu phát triển thành khu nghỉ mát và dưỡng sức do điều kiện khí hậu mát mẻ ở độ cao trên 1500 mét kể từ khi bác sĩ Yersin dẫn đoàn thám hiểm đặt chân lên vùng đất Lâm Viên (Lang-Biang) vào ngtày 21.06.1893. Trong đoàn thám hiểm có cha Robert, một linh mục thuộc Hội thừa sai Paris.

Năm 1907, vùng đất thuộc giáo phận Đà Lạt ngày nay, còn ở chung trong giáo hạt Phan Thiết, đã được sát nhập vào miền Nam Kỳ Lục Tỉnh, thuộc giáo phận Tây Đàng Trong (đổi tên thành giáo phận Sài Gòn năm 1924).

Sau đó, vào năm 1917, cha Nicolas Couvreur, quản lý Hội thừa sai Paris tại Viễn Đông, đã đến Đà Lạt tìm nơi nghỉ dưỡng cho các thừa sai đau yếu, mệt mỏi vì đa số các ngài ít có cơ hội về Âu Châu nghỉ phép. Cha đã cho xây một nhà nghỉ dưỡng, nay là một phần Nhà xứ Chính tòa Đà Lạt. Từ năm 1917 đến 1920, các linh mục thừa sai đến Đà Lạt nghỉ dưỡng đã dâng lễ và ban bí tích cho số giáo dân ít ỏi người Pháp và người Việt giúp việc họ bắt đầu đến định cư.

Vào thời gian này, Đức cha Lucien Mossard Mão, Giám quản Tông tòa tại Sài Gòn, đã đặt chân lên Đà Lạt và có lẽ chính ngài là người đã khai sáng con đường truyền giáo ở phần đất Đà Lạt ngày nay, mở đường cho biết bao thế hệ thừa sai đến rao giảng Tin Mừng tại vùng cao nguyên này.

Năm 1920, giáo xứ Đà Lạt được thành lập và cha Frédéric Sidot được cử làm cha xứ đầu tiên; đến năm 1927, thành lập thêm giáo xứ Di Linh do cha Jean Cassaigne coi sóc với nhiệm vụ đặc biệt là truyền giáo cho người bản địa.

Từ thời gian này, ngoài những sắc tộc ít người, nhiều đợt di dân từ các nơi đến Đà Lạt để lập nghiệp, và đó là một trong những nguyên nhân khiến số giáo dân tăng vọt và nhiều giáo xứ được hình thành.

Song song với việc hình thành các xứ đạo người Kinh, việc truyền giáo cho các dân tộc thiểu số cũng được các vị chủ chăn quan tâm thiết lập nhiều trung tâm và địa điểm truyền giáo trong vùng.

Ngày 27-11-1960, Tòa Thánh thành lập giáo phận Đà Lạt gồm Thị xã Đà Lạt và các tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, Phước Long tách ra từ giáo phận Sài Gòn và tỉnh Quảng Đức tách ra từ giáo phận Kontum. Giáo phận mới được trao cho Đức cha Simon Hoà Nguyễn Văn Hiền, nguyên Giám quản Tông tòa Sài Gòn (1955-1960), với 81 linh mục triều và dòng coi sóc 77.324 giáo dân trên tổng số dân là 254.669 người. Vào thời điểm này có 1.547 giáo dân trên tổng số gần 100.000 người dân tộc thiểu số. Đà Lạt được chọn làm nơi đặt Tòa Giám mục và nhà thờ thành phố trở thành nhà thờ Chánh tòa.

Ngày 22-6-1967, hai tỉnh Phước Long và Quảng Đức được tách khỏi Giáo phận Đà Lạt để sát nhập vào giáo phận mới Ban Mê Thuột. Sau năm 1975, hai tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng được gộp lại với tên gọi tỉnh Lâm Đồng. Giáo phận Đà Lạt nằm gọn trong tỉnh này.

Từ năm 1955-1973, Đà Lạt phát triển mạnh về đào tạo : Viện Đại học Công giáo, Giáo Hoàng học viện thánh Piô X, Đại chủng viện Minh Hoà, Tiểu chủng viện Simon Hoà, nhiều dòng tu nam nữ đến mở cơ sở, nhiều trung tâm truyền giáo cho người sắc tộc được đưa vào sinh hoạt.

Đức cha Simon Hoà Hiền qua đời ngày 5-9-1973 và sau hơn một năm trống toà, Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm được chỉ định thay thế. Ngày 19-3-1975, ngài chính thức nhận chức và cai quản giáo phận cho đến năm 1994, khi ngài được Toà Thánh bổ nhiệm làm giám mục chính toà giáo phận Thanh Hoá.

Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn được bổ nhiệm làm giám mục phó Đà Lạt ngày 19-10-1991 và thụ phong giám mục ngày 3-12-1991. Đức cha Phêrô là giám mục chính toà Đà Lạt từ 24-6-1994 đến 22-4-2010, khi Ngài được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Hà Nội. Sau 15 năm coi sóc Giáo phận, ngài đã gởi về Tòa Thánh báo cáo như sau: 327.769 giáo dân (Kinh 221.538, Dân tộc 106.231) trong tổng số dân trong tỉnh là 1.223.105 người); 107 linh mục triều (trong đó có 2 linh mục người Koho, 80 linh mục dòng (1 linh mục Koho và 1 linh mục Churu), 896 Tu sĩ nam nữ; 76 giáo xứ, 18 giáo sở và 20 giáo điểm.

Sau một năm trống tòa, ngày 01-03-2011 Đức cha Antôn Vũ Huy Chương, nguyên giám mục chính tòa Hưng Hóa, đã được bổ nhiệm thay thế. Ngài đã về nhận giáo phận Đà Lạt ngày 17-03-2011.

Hiện nay (năm 2014), giáo phận Đà Lạt có 368.487 giáo dân (dân số 1.325.000) : Kinh : 239.752  , Thượng : 128.735  ; 281 linh mục (157 Triều, 124 Dòng: Biển Đức Thiên Bình - Dòng Chúa Cứu Thế - Dòng Don Bosco - Dòng Đaminh - Dòng Phanxicô - Dòng Tên - Dòng Truyền Giáo Ngôi Lời - Dòng Xitô Châu Sơn - Dòng Xitô Châu Thủy - Tu Hội Tận Hiến - Tu Hội Vinh Sơn); 1174 tu sĩ (262 nam, 912 nữ) ; 69 đại chủng sinh ; 20 ứng sinh ; 2737 giáo lý viên. 

Các giám mục đã và đang cai quản giáo phận (x. Danh sách các giám mục, Chương 15, tr. …)

 

II. ĐỊA LÍ VÀ DÂN SỐ

a. Bản đồ : Bản Đồ GP Đalạt

b. Ranh giới : Giáo phận Đà Lạt nằm gọn trong tỉnh Lâm Đồng, bao gồm thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc, và 10 huyện : Lạc Dương, Đam Rông, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên. Diện tích 9.773.5 km2.

Dân số địa phương là 1.325.000 người. Dân chúng đa số làm nông nghiệp: trồng hoa, rau, trà, cà phê, dâu tằm … Trong giáo phận, ngoài dân tộc Kinh, còn có 42 sắc tộc khác, trong đó hai sắc tộc chính là Koho và Churu.

c. Địa chỉ toà giám mục : 9, Nguyễn Thái Học, P. 1, Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Đt : 063.3822415. Fax : 063.3830112. E-mail : vptgmdl@gmail.com

d. Các giáo hạt trong giáo phận : Giáo phận Đà Lạt có 5 giáo hạt với 90 giáo xứ : Hạt Đalạt; Đơn Dương; Đức Trọng; Di Linh; Bảo Lộc

Hạt Đà Lạt : 19 giáo xứ trong thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương. Dân số : 224.585 người.(2009). Tổng số tín hữu : 28.260.(2013)

Hạt Đơn Dương : 12 giáo xứ trong địa bàn huyện Đơn Dương. Dân số : 93.702 người.(2009). Tổng số tín hữu : 36.397. (2013)

Hạt Đức Trọng : 14 giáo xứ bao gồm 3 huyện Đức Trọng, Lâm Hà và Đam Rông. Dân số : 342.490 người.(2009). Tổng số tín hữu : 87.488. (2013)

Hạt Di Linh : 10 giáo xứ trong địa bàn huyện Di Linh. Dân số : 154.622 người.(2009). Tổng số tín hữu : 55.909. (2013)

Hạt Bảo Lộc : 35 giáo xứ gồm thành phố Bảo Lộc và các huyện Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên. Dân số : 372.175 người.(2009). Tổng số tín hữu : 160.433 người. (2013)

 

III. TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁO PHẬN

Giám mục : Antôn Vũ Huy Chương.

a. Linh mục tổng đại diện : Phaolô Lê Đức Huân

b. Giáo phủ :

- Lm. Phaolô Lê Đức Huân, Tổng đại diện ;

- Lm. Đaminh Nguyễn Văn Mạnh, Đại diện Tư pháp ;

- Lm. Gioan Bosco Hoàng Văn Chính, Chưởng ấn ;

- Lm. Antôn Nguyễn Công Hiến, Phó chưởng ấn ;

- Lm. Gioan Nguyễn Anh Tuấn, Quản lý.

c. Toà án giáo phận :

- Lm Đaminh Nguyễn Văn Mạnh, Đại diện Tư pháp ;

- Lm Phêrô Trần Văn Hội, Bảo hệ ;

- Lm Giuse Trần Ngọc Liên, Lục sự.

d. Hội đồng Linh mục :

- Lm. Phaolô Lê Đức Huân

- Lm. Micae Trần Đình Quảng

- Lm. Đaminh Nguyễn Văn Mạnh

- Lm. Gioan Baotixita Hoàng Văn Chính

- Lm. Gioan Nguyễn Anh Tuấn

- Lm. Đaminh Nguyễn Mạnh Tuyên

- Lm Giuse Nguyễn Hữu Duyên

- Lm. Giuse Nguyễn Văn Bảo

- Lm. Đaminh Trần Thả

- Lm Phaolô Phạm Công Phương

- Lm. Gioan Phan Công Chuyển

- Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng

- Lm. Phanxicô Xavie Trần Văn Bình

- Lm. Đaminh Nguyễn Chu Truyền

- Lm. Giuse Đinh Tấn Hoài

- Lm. Phanxicô Xavie K’Brel

- Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

- Lm. Giuse Phạm Minh Sơn

- Lm. Phêrô Trần Văn Hội

- Lm. Gioan Nguyễn Trọng Thành

- Lm. Matthêu Đinh Viết Hoàng

- Lm. Giuse Đỗ Đức Tài

- Lm. Giuse Nguyễn Đức Cường

- Lm. Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Hoàng

- Lm Grêgôriô Nguyễn An Phú Đông

e. Ban Tư vấn :

- Lm. Phaolô Lê Đức Huân

- Lm. Micae Trần Đình Quảng

- Lm. Đaminh Nguyễn Văn Mạnh

- Lm. Gioan Bosco Hoàng Văn Chính

- Lm. Gioan Nguyễn Anh Tuấn

- Lm. Đaminh Nguyễn Mạnh Tuyên

- Lm Giuse Nguyễn Hữu Duyên

- Lm. Giuse Nguyễn Văn Bảo

- Lm. Đaminh Trần Thả

- Lm Phaolô Phạm Công Phương

- Lm Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Hoàng

- Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

f. Các Hạt trưởng :

- Hạt Đà Lạt : Lm. Phaolô Lê Đức Huân

- Hạt Đức Trọng : Lm. Giuse Nguyễn Văn Bảo

- Hạt Đơn Dương : Lm. Phaolô Phạm Công Phương

- Hạt Di Linh : Lm. Đaminh Trần Thả

- Hạt Bảo Lộc : Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên.

IV. CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ CỦA GIÁO PHẬN    

(x. Số liệu thống kê về hiện tình Giáo hội Việt Nam, Chương 23, tr. …)

Dân số : 1.325.000 (2013)

Số tín hữu : 368.487

Linh mục : 281

Nam tu : 262

Nữ tu : 912

Đại chủng sinh : 69

Chủng sinh dự bị : 20

Giáo lí viên : 2.737

 

V. MỘT SỐ ĐIỂM ĐẶC SẮC CỦA GIÁO PHẬN

- Nhà thờ Chính toà : Toạ lạc trên đường Trần Phú, giữa một khuôn viên rộng có nhiều cây lớn, đối diện với con đường dẫn xuống Hồ Xuân Hương ; được xây dựng từ năm 1931, khánh thành năm 1942, với tước hiệu thánh Nicolas Bari, sau được đổi là tước hiệu Đức Maria Mẹ Thiên Chúa. Điểm đặc sắc của nhà thờ là 70 tấm kính mầu, phác hoạ các hoạt cảnh Tin Mừng và chân dung các thánh.

Đây là một trong những địa điểm tham quan được nhiều khách du lịch ưa thích, nhất là khách ngoại quốc. Đây cũng là nơi thường xuyên tổ chức các sinh hoạt đạo đức của giáo hạt Đà Lạt và của cả giáo phận.

Một số nhà thờ đặc biệt khác tại thành phố Đà Lạt

- Nhà thờ Mai Anh, nằm trên đồi Mai Anh (Domaine de Marie) ở phía bắc thành phố. Đây chính là nhà nguyện của tu hội Nữ Tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn, được xây cất từ những năm 1940, với lối kiến trúc và màu sắc đặc biệt, hài hoà với toàn bộ cơ sở của tu viện.

- Nhà thờ Du Sinh, nằm trên một ngọn đồi phía Tây Nam thành phố, được xây dựng từ năm 1956 theo kiến trúc Á Đông, đặc biệt là ngọn tháp. Biến cố Mậu Thân 1968 đã làm nhà thờ hư hỏng nhiều, nhưng đã được kiến thiết lại theo cùng lối kiến trúc năm 2007.

- Nhà thờ Cam Ly, gần thác cùng tên, được xây cất từ năm 1960, với lối kiến trúc và trang trí phù hợp với văn hoá và phong tục của đồng bào dân tộc ở cao nguyên Lang Biang.

- Nhà thờ Bảo Lộc, nằm trên quốc lộ 20, giữa thị trấn, nhà thờ Bảo Lộc được xây dựng từ năm 1994, khánh thành năm 1999, theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, với một ít sửa đổi do kiến trúc sư Nguyễn Hồng Sơn. Qua đồ án, ông Ngô Viết Thụ “diễn tả nguyên tắc dùng hài hoà khối bằng kim số” một cách tinh vi và khoa học. Tuy mang dáng dấp kiến trúc Tây Phương, nhưng nhà thờ lại có những nét dân tộc độc đáo. Phía ngoài hình vuông tượng trưng cho đất. Phía trong hình tròn tượng trưng cho trời, được chống đỡ bởi 12 cây cột biểu hiệu cho 12 tông đồ gánh vác Giáo Hội. Nhà thờ có sức chứa 3.000- 4.000 người.

- Tượng đài Đức Mẹ An Bình : Ở khoảng giữa đèo Bảo Lộc, ngay bên quốc. Công trình xây dựng khu vực này bắt đầu từ những năm 1970 và được tôn tạo lại năm 1992. Khách du lịch đi trên quốc lộ 20, khi qua đèo, thường dừng chân tại đây, cầu xin Đức Mẹ ban ơn bình an cho cuộc hành trình của mình.

- Trường Đại học Đà Lạt : Nguyên thuỷ là Viện Đại học Công giáo, thành lập năm 1958, thuộc quyền sở hữu của Hội Đại học Đà Lạt, mà hội viên là tất cả các giám mục trong Hội đồng Giám mục Việt Nam. Mục tiêu của Viện là phát huy văn hoá Việt Nam, dung hoà các giá trị cổ truyền với mọi tư tưởng quốc tế, nhất là với tinh thần Phúc Âm, đồng thời góp phần đào tạo con người có khả năng phục vụ đất nước. Viện có 5 trường : Đại học Sư Phạm, Văn Khoa, Khoa Học, Thần Học và Chính Trị Kinh Doanh. Từ sau năm 1975, Viện Đại học được Nhà Nước quản lí, và hiện nay là Trường Đại học Tổng hợp với các khoa : Toán, Tin, Lí, Hoá, Sinh, Văn, Sử, Anh văn và Quản trị Kinh doanh.

- Giáo hoàng Học viện thánh Piô X : Thành lập năm 1958 theo đề nghị của hàng Giám mục Việt Nam. Học viện thuộc quyền Giáo hội Công giáo Rôma, được trao cho dòng Tên đảm trách, có mục đích giúp cho các giáo sĩ tương lai được đào tạo sâu sắc hơn về trí thức và tu đức. Học tập ở đây là các chủng sinh được tuyển chọn từ khắp các giáo phận miền Nam, và một vài chủng sinh của Cao Miên và Ai Lao. Cơ sở của học viện nằm trên đường Phù Đổng Thiên Vương, đối diện với Đồi Cù, trong một khuôn viên rộng gần 8 mẫu tây, được xây dựng từ năm 1961, sinh hoạt từ niên khoá 1963-1964 cho đến năm 1978.

Danh lam thắng cảnh : Đà Lạt có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng :

- Chùa : Linh Sơn, Linh Phong, Ling Quang, Thiên Vương (chùa Tàu), Trúc Lâm Thiền Viện.

- Thác : Đambri (Bảo Lộc), Prenn, Datanla …

VI. DANH SÁCH CÁC LINH MỤC

Xin xem danh sách đính kèm

VII. DANH SÁCH CÁC DÒNG TU

Có tập tin danh sách đính kèm

VIII. HOẠT ĐỘNG ĐẶC BIỆT CỦA GIÁO PHẬN : TRUYỀN GIÁO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

Giáo phận Đà Lạt có số đồng bào dân tộc khá đông. Ngay từ đầu, thành phần này đã là đối tượng ưu tiên cho công cuộc truyền giáo. Năm 1927, thừa sai Jean Cassaigne được cử lên “Thí điểm Truyền giáo” Di Linh. Nhờ cha mà nhiều người dân tộc được biết về đạo và nhiều người phong cùi được chăm sóc. Tại Thị xã Đà Lạt, các cha thuộc Hội Thừa Sai Paris gặt hái được nhiều kết quả kể từ những năm cuối của thập niên 1940. Trong thập niên 1950, các cha dòng Chúa Cứu Thế đặt cơ sở truyền giáo ở Phú Sơn, giúp cho nhiều người dân tộc vào đạo. Tiếp đến có các cha thuộc tu đoàn Thánh Vinh Sơn (Lazaristes), các linh mục giáo phận, các nữ tu thuộc nhiều hội dòng dấn thân vào hoạt đông này. Lúc giáo phận được thành lập, mới chỉ có 1.547 người dân tộc theo đạo Công giáo. Mười năm sau, con số đó lên tới 7.142 người trên tổng số gần 100.000 người dân tộc. Hiện nay (2014) số giáo dân dân tộc là 128.725 trong tổng số 265.813 người dân tộc. Anh chị em tín hữu công giáo các sắc tộc ít người chiếm một phần ba số giáo dân trong giáo phận (tổng số theo thống kê 2013 là 368.487 người).

Kể từ sau năm 1975, tuy công cuộc truyền giáo cũng như tổ chức sinh hoạt cho đồng bào dân tộc gặp ít nhiều khó khăn, nhưng số người vào đạo vẫn không ngừng gia tăng. Ngay trong ngày được tấn phong, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đã nói lên hai mối quan tâm mục vụ ưu tiên của ngài mà một trong hai là đồng bào dân tộc. Mối quan tâm ấy đã được thể hiện ngay từ những ngày đầu làm giám mục, nhất là từ khi lãnh đạo giáo phận, qua những cuộc thăm viếng, những kế hoạch thăng tiến đồng bào dân tộc cả về tôn giáo lẫn văn hoá, những cuộc hội họp thường xuyên của các linh mục phụ trách, những sự giúp đỡ cụ thể, những vận động để có được giáo sĩ và tu sĩ người dân tộc.

Các tín hữu dân tộc sống đạo trong các giáo xứ toàn tòng của họ, hoặc trong các xứ khác xen lẫn với người Kinh. Tại Đà Lạt, trung tâm Cam Ly không còn hoạt động như trước ; bù lại, giáo xứ Lang Biang, một giáo xứ hầu như gồm toàn người dân tộc, trở thành trọng điểm truyền giáo. Các giáo hạt Di Linh và Bảo Lộc cũng có những giáo xứ, giáo họ toàn đồng bào dân tộc (Kala, Tam Bố, Kaming, B’Deur). Giáo hạt Đức Trọng có giáo xứ Đạ Tông với 16.594 giáo dân người dân tộc. Tại các huyện, rất nhiều giáo xứ tổ chức những sinh hoạt tôn giáo riêng cho đồng bào dân tộc sống trong phạm vi hay lân cận với giáo xứ, với những thánh lễ và lớp giáo lí riêng.

Cũng nằm trong chiều hướng truyền giáo và phát triển văn hoá người dân tộc, có hai công trình không thể không nhắc đến : công trình dịch thuật và công trình bảo tồn chứng tích văn minh. Công trình dịch thuật do một số cha phụ trách đồng bào dân tộc thực hiện : Dịch kinh lễ và nghi thức bí tích sang tiếng dân tộc (Koho), biên soạn tự điển. Còn công trình bảo tồn chứng tích văn minh do chính Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đề xướng : thu góp các dụng cụ sinh hoạt đủ loại, sưu tầm sử thi, truyện cổ dân gian, những sách vở và hình ảnh về đồng bào dân tộc. Một tòa nhà tại Trung tâm Mục vụ Giáo phận đã được dành riêng làm phòng Truyền thống đón nhận các chứng tích văn minh liên hệ đến nếp sống của các Dân tộc bản địa. Phòng Truyền thống đã hoàn thành phần Dân tộc và mở cửa vào tháng 10 năm 2011.


Niên Giám Giáo Phận Đalạt Dalat