VỊ TÔNG
ĐỒ CỦA BÁC
ÁI VÀ YÊU
THƯƠNG
(Bài đã
sửa chữa và cập nhật, 11-11-2007)
Ngày Chúa nhật 29.10.2006, Đức Giám mục giáo phận đã chủ sự
thánh lễ đồng tế trọng thể với hơn 30 linh mục thuộc giáo hạt Đà-lạt và từ các
giáo hạt khác đến, khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 80 Năm Truyền Giáo cho Anh Em
Dân Tộc Thiểu Số trong Giáo Phận. Năm Thánh sẽ kết thúc vào lễ Đức Mẹ Vô
Nhiễm Nguyên Tội năm 2007.
80 năm là thời gian được tính từ ngày người thượng đầu tiên
lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy tại vùng đất này: đó là ngày 07.12.1927, áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội; người được rửa tội là
một phụ nữ bị bệnh phong cùi giai đoạn chót, tên là K’Trut, và vị giáo sĩ ban
bí tích là một linh mục trẻ thuộc Hội Thừa Sai Paris, về nhận nhiệm sở (tại
giáo điểm truyền giáo Di-linh) chưa được một năm. Tên Đức Mẹ đã được vị giáo sĩ
chọn để đặt cho bà K’Trut. Không đầy hai tuần sau, bà Ma-ri-a K’Trut qua đời. Theo lời kể của vị giáo
sĩ, thì trước khi chết, bà Ma-ri-a K’Trut đã nói với ngài : “ Ông Lớn ơi ! Tôi
sẽ nhớ đến Ông khi ở trên trời.” Chúng ta hy vọng rằng hiện nay người phụ nữ
diễm phúc đó đang ở trên trời. Nhưng có điều chắc chắn là bà đã giữ lời hứa với vị ân nhân của mình : khi
ngài tạm rời Di-linh, sau 14 năm (1927- 1941) hoạt động tại đây, đã có 296 tín
hữu người Thượng được ngài rửa tội – gồm 218 người tại Di-linh và 78 người tại
Công-hinh, Bảo-lộc; ngoài ra, công trình vĩ đại của ngài, được khắp nơi biết
đến, là trại phong Di-linh do ngài thành lập vào cuối năm 1928 và được chính
thức công nhận ngày 11.4.1929, lúc ấy đang cưu mang 133 bệnh nhân, tất cả là
tân tòng đang dọn mình chịu phép rửa tội.
Vị giáo sĩ đó là ai thì khi
đọc những dòng trên đây có lẽ mọi người đã biết. Nhân lễ giỗ thứ 34 của ngài
(31.10.1973-2007), xin được góp thêm đôi điều về Vị Tông Đồ của Bác Ái và Yêu
Thương.
***
Đức Cha Isidore Dumortier, từ 1924 đến 1940, là vị Đại Diện Tông Tòa của
giáo phận Tây Đàng Trong, được gọi là giáo phận Sài-gòn từ năm 1924; chính ngài
đã tiếp nhận cha Gioan Bao-ti-xi-ta Cassaigne vào hàng ngũ giáo sĩ của mình khi
vị thừa sai trẻ này được sai đến phục vụ tại miền truyền giáo Nam Bộ.
Trong bản phúc trình thường niê1927, ngài đã viết : “ Vừa nhận nhiệm vụ cai quản
giáo phận, tôi không dám tìm cách thực hiện ngay ý nguyện tôi đã ấp ủ từ lâu là
chăm lo cho những người Thượng trong giáo phận của tôi. Nhưng chính Đấng Quan
phòng đã sắp đặt mọi sự, tôi chỉ còn việc làm theo những chỉ dẫn của
Người...Người đã lo liệu cho tôi con người mà tôi cần để khởi sự công trình này
: một vị thừa sai trẻ, Cha Cassaigne, vừa mới đến Sài-gòn ; trong suốt cuộc
chiến (trong chiến tranh thế giới lần thứ I, thanh niên Cassaigne đã bị gọi
nhập ngũ, từ tháng 7.1914 đến tháng 7.1918),
ngài là một liên lạc viên, nên đã quen với thiếu thốn và cực nhọc. Khi biết
được các dự tính của tôi, cha Cassaigne liền xin tình nguyện và ngài vui sướng
tột độ khi biết mình được bổ nhiệm.”
Cha cố Giu-se Phùng Thanh Quang đã nói về việc Đức Cha Dumortier sai Cha
Cassaigne đến vùng Di-linh, trong cuốn Lạc
Quan Trên Miền Thượng của ngài, như sau : “ Khi vừa lên quyền Giám mục
Sài-gòn được một năm, theo lời bàn của Cha Decoopman, Quản lý Tòa Giám mục, Đức
Cha Dumortier liền phái người đi xem xét địa thế vùng Di-linh ngay… Đợi cho cha
quản lý lo giấy tờ mua lại cơ sở của ông mười Liên xong ngày 13 (ngôi nhà
này vẫn còn là nhà xứ Di-linh) thì ngày
hôm sau là ngày 14.10.1926, Đức Cha viết bài sai trao cho cha quản lý cầm xuống
Cái-mơn cho Cha Cassaigne đang học tiếng Việt tại đó, và kêu Cha cấp tốc về
Sài-gòn lo đi nhận thí điểm truyền giáo Di-linh ngay.”
Nhưng do tình hình thời tiết, mãi tới ngày 24.01.1927, Cha Gioan Cassaigne
mới đến nhận nhiệm sở được. Hôm đó được coi là ngày khai sinh của thí điểm
truyền giáo, sau này là họ đạo Di-linh. Và Cha Cassaigne là cha sở tiên khởi.
Ngài sinh ngày 30.01.1895, tại miền Landes, thuộc địa phận Dax, tây nam
nước Pháp, thụ phong linh mục ngày 19.12.1925. Ngày 09.4.1926, ngài rời quê
hương, lên tàu sang miền Viễn Đông. Sau gần một tháng lênh đênh trên biển, ngày
05.5.1926, tàu cập bến Sài-gòn. Ngài được Cha Quản lý Decoopman đến đón và đưa
về Tòa Giám mục.
***
“Có mặt tại Đà-lạt từ ngày 24 tháng giêng, Đức Cha Dumortier viết tiếp
trong bản phúc trình 1927 đã được nói
đến trên đây, Cha Cassaigne viết cho tôi
lá thư đề ngày 03 tháng hai như sau : ‘Con đã làm quen với người Thượng, lớn có
nhỏ có, và đã có những người bạn trong số họ. Không biết là họ thích con hay là
thích những điếu thuốc của con nữa ? Dầu sao, họ không sợ khi đến gặp con và
con thì rất vui khi tiếp đón họ và học tiếng của họ trong khi nói chuyện.;
trong số những người lớn , có một ít nói được đôi chút tiếng việt.’ Tháng bảy
vừa rồi, người đồng nghiệp của chúng ta biết được ý định của nhà cầm quyền Pháp
là mở một trường học tại Di-linh cho con em người Thượng và (ngài gợi ý) tầng trệt của nhà ngài có thể dùng làm địa
điểm. …đề nghị được chấp thuận và nhờ sự can thiệp thuận lợi của quan Toàn
Quyền, Cha Cassaigne đã được phép mở một trường học tại Di-linh…”
Phần Cha Cassaigne, thì trong một lá thư đề ngày 16.8.1928, ngài đã viết
như sau về những ngày tháng đầu tiên sống giữa người Thượng Di-linh : “ Chẳng bao lâu nữa là tròn một năm từ khi tôi
đến nơi vùng núi rừng này, với chút ít hành trang tiếng việt học trong 8 tháng và
mù tịt về ngôn ngữ của các con chiên mới của tôi. Một căn nhà xinh xắn bằng gỗ,
một trệt một lầu, sẵn sàng chờ tôi. Nhưng chỉ có chừng đó. Trong sáu tháng đầu,
tôi phải dâng lễ trong một căn phòng nơi “cái nhà” của tôi, với một cái bàn đơn
sơ làm bàn thờ và chú bé đã theo tôi từ Nam bộ, thường hay bị sốt rét; nhiều
lúc tôi chỉ có các thiên thần trên trời vừa là người giúp lễ vừa là người dự
lễ… Khi đến Di-linh, tôi gặp được ở đây 3 tín hữu người Việt; với người bếp và chú
bé của tôi, vậy là có 5 người, đủ để chiếm trọn căn phòng nhà nguyện của tôi. Không
nhiều, nhưng cũng đã là một cái gì rồi, và áp dụng lời dạy của Thánh Ca-rô-lô
Bô-rô-mê rằng một linh hồn là một địa phận đủ lớn cho một giám mục, tôi cảm
thấy mình rất hạnh phúc… Công việc đầu tiên của nhà truyền giáo được sai đến
giữa những người bản địa là học tiếng của họ… không phải trong sách vở, vì
chẳng có những thứ này, nhưng bằng cách nói chuyện với họ, điều này thú vị hơn
là chia động từ hay lật các trang của một cuốn tự điển. Chiều về, ngài góp nhặt
những từ đã học hoặc đã nghe trong ngày, và
… lập cuốn tự điển cho riêng mình.”
Công việc tiếp theo của nhà truyền giáo là chữa bệnh. Chúng ta hãy đọc tiếp
: “ Rồi nhà truyền giáo trở thành thầy
thuốc, và nhờ vài vị thuốc thông dụng, ngài đã chiếm được lòng tin của những con
người bản địa tốt lành, những con người cho đến lúc đó chỉ biết cậy nhờ vào các
“Bo-yau” (Thầy mo) của họ… Vì thuốc của tôi công hiệu hơn các chỉ dẫn của các “Bo-yau”,
nên con cái tốt lành của tôi hằng ngày
đến xin băng bó các vết thương và chữa các bệnh linh tinh của chúng…”
Tiếp xúc với người Thượng, học tiếng của họ, dạy học và chữa bệnh cho họ,
đó là những công việc thường ngày của Cha Cassaigne từ khi ngài tiếp nhận điểm
truyền giáo Di-linh. Nhưng xem ra trường học của ngài cũng gặp những trớ trêu
như ngôi trường của Cha Nicolas tại Đà-lạt gần mười năm về trước. Cha Quang cho
biết : “ …việc dạy dỗ lũ trẻ thì… hết sức vất vả. Chúng như những con dê con,
thích chạy, thích nhảy, thích đi long rong ngoài bụi ngoài bờ, ít khi chịu ngồi
yên trong lớp… Học sinh trốn học ở nhà là chuyện thường.” Trong lá thư đề ngày 16.8 trên đây, Cha
Cassaigne cũng nói đến những khó khăn vất vả trong việc truyền đạt kiến thức
cho con em bản địa; ngài viết : “ Dạy học
cho lũ con nít bản địa không phải là chuyện dễ; cha mẹ chúng, ông bà chúng …
không bao giờ biết, cũng như không bao giờ nhận thấy lợi ích của việc biết chữ
… ngôn ngữ của họ là để nói chứ không phải để viết. Tuy nhiên, phải bắt đầu từ
chính chỗ này, và vì không nên quá tin tưởng vào sự hiếu học để lôi cuốn đám
học trò nhỏ, nên mỗi ngày vài bát cơm nóng sẽ là phần thưởng cho những em siêng
năng và thu hút những đứa khác … đối với những chú Thượng con, cần có cơm, và
một bát cơm thì được nuốt nhanh hơn
là một trang chữ.”
Sau những mò mẫm kiên trì, Cha Cassaigne cũng đã soạn được một cuốn sách
giáo lý nhỏ và đã dịch được một ít kinh quen dùng sang tiếng Ko-ho. Để có thể
hội nhập hoàn toàn vào xã hội của người bản địa, Cha Cassaigne còn tìm hiểu và
ghi chép những phong tục tập quán của họ. Những nghiên cứu này, ngài đã thuyết
trình trước các nhà đương cuộc hoặc đăng trên các tạp chí, như tạp chí
“Education – Giáo dục”.
Công việc thì bề bộn và vất vả như thế, nhưng sức khỏe của nhà truyền giáo
thì thật là đáng ngại. Chính Cha Cassaigne thì hình như không bao giờ nói đến
các bệnh tật mà ngài mắc phải khi ở Di-linh. Chúng ta chỉ thấy ngài viết về
bệnh sốt rét và bệnh phong mà người khác
là nạn nhân được ngài cứu chữa. Nhưng Cha Phùng Thanh Quang đã dành nhiều trang
trong cuốn Lạc Quan Trên Miền Thượng (LQTMT) của ngài để nói đến
căn bệnh sốt rét quái ác đã tấn công nhà truyền giáo. Ngài viết : “ Cuộc đời
đau ốm liên lỉ của Đức Cha Cassaigne là điển hình rõ rệt nhất của loại sốt rét
này. Cha Cassaigne đến Di-linh được hai tháng thì thần sốt rét đã lù lù đến
viếng nhà xứ. (Trước tiên, ông
bếp già, rồi đến Nhân, chú bé đã đi theo Cha Cassaigne từ Cái-mơn, bị cơn sốt
hành hạ.) … Ngày 14.11.1927, Cha Cassaigne ngã bệnh thực sự…. Cha nằm li bì cả
tuần lễ không ăn uống. Vẻ tráng kiện thanh xuân tàn lụn nhanh chóng trong vòng
một tháng sau. Ngài bắt đầu ốm yếu, xanh mét, và cứ đau đi đau lại như thế
trong suốt 14 năm làm cha sở Di-linh… Thế mà Cha Cassaigne cố giấu không dám
cho Bề trên biết, cũng không bao giờ xin đi nằm nhà thương, vì sợ bị bắt buộc
phải thuyên chuyển đi nơi khác. Nhiều khi thấy vắng ngài lâu quá thì các cha sở
ở gần, như cha Barret ở Phan-thiết, cha Nicolas ở Đà-lạt, phải tới thăm coi ngài
ra sao thì mới hay ngài đang trùm chăn kín mít trong giường, đau cả tuần mà
không ai hay, cả ông bếp già điếc, cả chú Nhân cũng đau hết một lượt, không còn
ai lo cơm cháo gì. Nhưng khổ một điều là không ai khuyên được ngài đi nhà
thương, vì ngài nhất định ở lại với nhóm con chiên nhỏ bé của mình với bất cứ
giá nào… (Trong thời gian xây dựng
làng cùi và vận động chính quyền công
nhận) Ngài vẫn sốt rét liên lỉ. Ngay khi
tổ chức lễ ra mắt làng cùi xong, ngày 11.4.1929, thì ngài nằm liệt giường, đến
nỗi cha Nicolas phải đem xe từ Đà-lạt xuống bốc ngài đi nằm nhà thương. Nhưng
cũng như bắt cóc bỏ dĩa, vừa hơi mạnh là Cha Cassaigne trốn về Di-linh, viện cớ
rằng mắc lo cho bệnh nhân đang nằm ở đó không bỏ được…”. Phải đợi đến khi
có lệnh của Bề Trên Cả bắt buộc ngài phải đi chữa bệnh, ngài mới chịu để cho
đưa về Sài-gòn, sau đó sang Pháp. Đó là vào đầu tháng tư năm 1932. Cha Henri
Sion được cử lên Di-linh thay thế ngài. Sau 9 tháng tĩnh dưỡng tại Pháp, ngày
22.02.1933, Cha Cassaigne trở lại Sài-gòn. Mười hôm sau, ngài trở về với đoàn
chiên của mình (Cha Sion đã được bổ nhiệm làm cha sở Thủ Dầu Một). Nhưng cơn
bệnh quái ác vẫn không buông tha ngài : chỉ hai tháng sau ngày trở về Di-linh,
ngài lại lên cơn sốt rét, phải lên nằm nhà thương Đà-lạt cả nửa tháng mới tạm ổn
để bắt đầu làm việc trở lại.
Tuy đau yếu như thế, nhưng Cha Cassaigne luôn cảm thấy như bị thiêu đốt
trong lòng bởi tình thương ngài dành cho người Thượng. “Ngài mê say người Thượng, yêu thương người Thượng nhiều khi gần như quá
trớn, nhất là lúc ngài đã cao niên”, theo sự nhận xét của Cha Quang. Thật
là một ơn đặc biết Chúa ban cho ngài. Nhưng không phải ngài chỉ dành sự quan
tâm cho người Thương mà thôi. Đúng hơn, tinh thần truyền giáo nơi ngài thôi
thúc ngài hoạt động cho tất cả mọi người để họ được ơn cứu rỗi, bất luận là
kinh hay thượng. Vì thực tế, ngài đã không thành công lắm với người Thượng
trong những năm đầu. Ngoài con người khốn khổ bị bệnh phong cùi giai đoạn chót
mà ngài đã rửa tội vào ngày được Giáo phận chúng ta chọn làm khởi điểm của 80 năm
truyền giáo cho người dân tộc thiểu số, như đã nói ở đoạn đầu, thì ngài chỉ có
được một tân tòng người bản địa đầu tiên sau gần ba năm nỗ lực dạy dỗ, yêu
thương, giúp đỡ, chữa cho lành các bệnh tật, thậm chí qui tụ lại để cưu mang
chăm sóc (trường hợp những người phong cùi bị dân làng xua đuổi) : đó là anh Giu-se K’Brai. Về sự kiện này, chúng ta
đọc được trong cuốn Lạc Quan Trên Miền
Thượng những dòng sau đây : “ Cha Cassaigne sung sướng hãnh diện làm báo
cáo kết quả truyền giáo lên Đức Cha
Dumortier, vị Giám mục chỉ có một khát vọng là đem ánh sáng Phúc Âm đến cho mọi
kẻ nghèo khó, nhất là đồng bào Thượng trong địa phận mình…Nào ngờ khi nhận được
thư hồi âm của Đức Cha Sài-gòn, Cha nôn nao đọc với điệu bộ hí hởn vui mừng,
bỗng dưng mặt ngài tái lại, nét da xanh mét lại càng xanh mét thêm rõ rệt hơn. Trong
thư, Đức Thầy khiển trách nặng nề, cho rằng rửa tội quá vội vàng, ngài phê rằng
: ‘ Thượng mà cho theo đạo có một người, thì chỉ có Chúa mới biết trước được nó
sẽ giữ đạo bền hay không.’ Như vậy là Đức Cha gián tiếp ra lệnh phải cố gắng
gấp hai để cho gia đình K’Brai và bà con thân thuộc của anh ta cũng nhận ánh
sáng Phúc Âm để họ nâng đỡ nhau giữ vững đức tin.”. Và Chúa đã thêm sức cho
nhà truyền giáo để ngài cố gắng nhiều hơn. Kết quả là vào dịp lễ Giáng sinh năm
đó, cả gia đình anh K’Brai gồm 8 người đã lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy. Rồi nhờ
sự trợ giúp của người tân tòng nhiệt tình và ngoan đạo này, con số người Thượng
dự tòng năm 1931 lên đến 98 người.
Trong bản Phúc trình 1930, Đức Cha Dumortier đã viết những dòng sau đây,
như gián tiếp ca ngợi các hoạt động của nhà truyền giáo : “ Ước gì Chúa cho các ngôi nhà thờ và các trường học của chúng ta luôn trở nên
bé nhỏ và bắt buộc chúng ta phải nới rộng và xây dựng thêm mãi ! Nguyện ước này
trở nên hiện thực nơi Cha Cassaigne : người bạn của chúng ta đã nối dài nơi
phượng tự của mình và còn thấy cần phải nới rộng hơn nữa. Là vì, bị chinh phục
bởi lòng nhiệt thành và tình bác ái của ngài, người bản địa bắt đầu xin theo
đạo. Ngài đã rửa tội và ban phép Thêm sức cho người tân tòng đầu tiên vào dịp
lễ Thánh Giu-se, và nhiều gia đình đang xin trở lại. Ngoài ra, nhờ sự giúp đỡ
của nhà cầm quyền, ngài đã lập một làng cùi. Chính ngài chăm sóc những con
người khốn khổ này, và bằng một sự dạy dỗ vừa tầm của họ, ngài chuẩn bị cho họ
được chết trong tư cách là người tín hữu…”
Khi Cha Cassaigne tạm rời Di-linh để về Pháp chữa bệnh, họ đạo Di-linh của
ngài, 5 năm sau ngày thành lập, đã trở nên lớn mạnh một cách đáng kể : số giáo
dân từ 5 người lúc đầu nay lên 109 người, gồm 60 người Việt, 31 người Pháp và
18 người Thượng; ngoài ra còn có 98 dự tòng.
Đến lần thứ hai tạm rời Di-linh để nhận sứ mạng cao cả là làm Giám mục giáo
phận Sài-gòn, kế nhiệm Đức Cha Dumortier qua đời ngày 16.01.1940, “sau 14 năm lãnh đạo xứ Di-linh, từ 1927 đến 1941,
Cha Cassaigne đã gầy dựng cho vùng này một địa vị đáng kể trong cộng đồng Hội
Thánh” (LQTMT) : ngoài họ đạo Di-linh đã có nhà thờ hẳn hoi, với số giáo
dân là 367 người (134 Kinh, 218 Thượng, 15 Pháp), chưa kể 78 giáo dân Thượng ở
làng cùi và 133 dự tòng, phải kể thêm họ nhánh Bắc-hội được ngài thành lập năm
1928, họ nhánh Xuân-trường (Cầu Đất), họ nhánh Công-hinh (Bảo-lộc), cả hai nơi
được ngài thành lập năm 1936.
Trong bài tham luận nhan đề “Truyền
giáo ở Đà-lạt”, được đọc tại khóa thường huấn của Linh mục đoàn giáo phận
Đà-lạt năm 2004, Cha Giu-se Võ Đức Minh, nay là Giám mục phó Nha-trang, đã viết
: “ Bước đường truyền giáo của Cha
Cassaigne thật là lạ lùng…(Ngài) đã
mở ra cánh đồng truyền giáo trên vùng cao nguyên Đà-lạt, Di-linh, Bảo-lộc. Chúng
ta thật ngỡ ngàng khi thấy một con người như thế được sai đến vùng đất mà hầu
như chưa ai biết Tin Mừng của Chúa,
để rồi sau đó mở mang đạo thánh Chúa
không những ở vùng Di-linh, Ka-la, mà còn lan rộng đến Bắc-hội ở vùng Fimnom,
lên tới Xuân-trường, nay là giáo xứ Cầu-dất, trải dài đến Công-hinh, tức giáo
xứ Bảo-lộc ngày nay … Ngài đúng là ‘Ông Tổ các vị Thừa sai truyền giáo Thượng
đầu tiên của Đà-lạt’, như lời Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền.”
Vào đầu năm nay, 2007, giáo xứ Di-linh kỷ niệm 80 năm thành lập giáo xứ. Một
tập kỷ yếu nhỏ được biên soạn để đánh dấu sự kiện này. Tập kỷ yếu đó cho biết
“Cha Cassaigne đã đi đến rất nhiều làng
của người bản địa để truyền giáo. Nếu lần theo sổ Rửa tội của Giáo xứ Di-linh
từ năm 1927 đến ngày 13.5.1941, là ngày ngài rời Di-linh để đi nhận chức Giám
mục giáo phận Sài-gòn, cha Cassaigne đã rửa tội cho 280 người Dân tộc thuộc 82
làng khác nhau. (tiếp theo là danh sách của 82 làng của người bản địa).
82 làng Dân tộc có mặt rộng khắp trên phần đất của tỉnh Lâm-đồng hiện nay – từ Đà-lạt qua Ryôngto, Đơn-dương,
Di-linh, Bảo-lộc, có một số địa danh hiện nay không thuộc tỉnh Lâm-đồng nữa.”
Đến đây, ta có thể nói Cha Cassaigne đã hoàn tất sứ mạng truyền giáo mà
ngài đã được giao phó. Đó cũng là uớc nguyện mà ngài đã ấp ủ khi gia nhập Hội
Truyền Giáo Paris. Nhưng tâm hồn đầy ắp tình thương của ngài đối với các linh
hồn còn đưa ngài đi xa hơn, đi đến với những con người bị xã hội ruồng bỏ, bị
gia đình và bản làng xua đuổi, những con người ngài gặp sống vất vưởng trong
rừng, trần truồng, đói khát, lở loét, thối tha…Và ngài đã chọn phục vụ hạng
người này. Vì vậy danh hiệu đúng nhất dành cho ngài phải là “Tông đồ của người phong cùi”.
***
Trong lá thư của Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục giáo phận
Đà-lạt, gửi Cha Giu-se Phùng Thanh Quang, đề ngày 22.02.1973, để chuẩn nhận và
giới thiệu cuốn sách mà chúng tôi đã trích dẫn nhiều lần ở trên - “Lạc Quan Trên Miền Thượng” – có đoạn
viết :
“Năm 1965, trong khóa IV
Công Đồng Va-ti-ca-nô II, nhiều Nghị Phụ trầm trồ ca tụng cử chỉ cao đẹp của
ĐHY Léger, TGM Montrea (Canada), sắp xin từ chức, sang giúp người cùi ở
Phi-châu. Tôi khiêm tốn đáp thưa : Bên Việt-nam chúng tôi, đã 10 năm nay, có
một vị Giám mục đang làm Cha xứ, Giám đốc và Y tá một trại cùi ở địa phận Đà-lạt
chúng tôi. Các Nghị phụ bỡ ngỡ, vì một biến cố như vậy, mà không mấy ai hay
biết.”
Tháng 10.1929, Cha Cassaigne đã viết một bản tường trình trong đó có đoạn về
trường hợp của những người phong cùi như sau : “ Nhà truyền giáo vĩ đại Giê-su đã làm gì trong cuộc đời trần thế của
Người ? Người rao giảng Nước Thiên Chúa, bẳng Bác Ái và Yêu Thương; Người lôi
kéo các trẻ nhỏ đến với Người và Người chữa lành các bệnh nhân, nhất là những
người phong cùi. Nơi người bản địa, hạng người này thì đông lắm; họ bị bỏ mặc
với nổi thống khổ của họ, và khi họ không còn đi đứng, hay lao động được nữa,
vì chân tay của họ đã bị thối rửa, họ chỉ còn chết đói. Xin cho phép tôi kể một
ví dụ. Trong số những con người bị bỏ rơi đó, có một anh chàng ở cách chỗ tôi
khá xa, anh ta thường đến nhận phần gạo và cá khô của anh một cách đều đặn. Vì
anh đi lại quá khó khăn, tôi nhờ người ta dựng cho anh một cái lều tranh bên
cạnh nhà tôi ở; anh ta ở lại đó một đêm trước khi trở về làng… Đến mùa nóng bức,
cũng là mùa có những cơn sốt rét cao, người cung cấp lương thực, trong suốt ba
tuần lễ, không rời nhà được mà phải nằm li bì vì cơn bệnh quái ác hành hạ. Phần
người được cung cấp lương thực, vì không còn đi lại được, nên không đến. Lo
lắng vì sự vắng mặt kéo dài này, và lợi dụng một lúc hạ sốt, tôi lên đường đi
tìm con chiên khốn khổ của tôi. Đến nơi, tôi không thấy anh ta trong căn lều
tồi tàn trống hoác của anh, và người làng cho tôi biết anh đã chết được bốn
ngày; vì không có cha mẹ, không có con cái, nên chẳng ai lo cho anh ta ăn uống,
và anh đã chết mà không nhận được phép rửa tội, trong khi anh đã sẵn sàng. Lòng nặng trĩu, nhà truyền giáo trở về nhà,
đau đớn không phải vì cơn sốt rét hành hạ mà vì đã đánh mất một linh hồn…Ở
Trung kỳ cũng như ở Nam kỳ, và hầu như khắp vùng Đông Á, có những làng cùi nơi
đó bệnh nhân phong cùi được đón nhận và được chăm sóc; nhưng nơi xứ thượng này,
chưa ai làm gì cho họ cả. Mà họ thì đông vô kể; mỗi làng đều có năm ba người;
họ sống với gia đình bao lâu còn có thể làm việc được; nhưng rồi mau chóng bị
loại trừ khi họ trở thành một miệng ăn vô ích và một vật ghê tởm…Tôi ao ước
được qui tụ tất cả những con người khốn
khổ đó trong một ngôi làng chỉ dành cho người phong cùi mà thôi, để có thể lúc
nào cũng có họ bên mình, chăm sóc cho họ dễ dàng hơn, dạy dỗ họ đều đặn hơn và
nhất là để không một linh hồn bất hạnh nào đi vào thế giới bên kia mà không
mang theo cái thẻ vào thiên đàng…Bạn đọc thân mến, xin hãy giúp vị thừa sai trẻ
chữa lành ít nữa là linh hồn của những người phong cùi bất hạnh của ngài !”
Chính Cha Cassaigne đã thuật lại
việc hình thành làng cùi như thế nào, trong bản tường trình tháng 10.1937 : “ Khoảng
cuối năm 1928, trong một chuyến đi qua
rừng, nhà truyền giáo tình cờ gặp một đám người phong cùi đã bị đuổi ra khỏi
làng và đang náu ẩn trong một góc rừng. Họ không khiếp sợ khi thấy nhà truyền
giáo; trái lại họ đã kêu lên với ngài tiếng kêu đã vang lên trên các nẻo đường
xứ Ga-li-lê khi Thầy Chí Thánh tiến đến gần họ : Cha ơi, xin thương xót chúng
tôi !” Sau khi được trao đổi ý kiến, nhà cầm quyền Pháp đề nghị tài trợ; còn
nhà truyền giáo thì đóng góp các khả năng chữa bệnh mà ngài đã thu thập được
trong trận đại chiến, cùng với tấm lòng nhiệt thành của mình. Công việc được
thỏa thuận. Việc sắp đặt diễn ra nhanh chóng và, ngày 11.4.1929, 21 bệnh nhân –
ôi những bệnh nhân khốn khổ ! mình đầy vết thương, dơ bẩn, đói khát và sợ sệt –
trở thành chủ nhân của căn nhà tồi tàn này. Họ kinh ngạc khi thấy Ông Cha phân
phát cho mỗi người mền, chiếu, quần áo mới và một phần ăn quá ư đầy đủ; họ
không thể tin rằng tất cả những thứ đó là cho họ; vài người còn từ chối; họ sợ
và tự hỏi tại sai người ta cho họ nhiều thứ như vậy. Người ta sẽ đòi lại cái gì
đây ? …Nhưng sự do dự của họ không kéo dài : vài ngày sau, một nhóm người phong
cùi khác xuất hiện trong tình cảnh tương tự như nhóm trước… Số bệnh nhân tăng
dần : từ năm 1935, con số đó vượt lên trên một trăm.”
Và làng cùi đã được hình thành như thế. Vị trí của làng nằm cách nhà xứ
Di-linh khoảng trên dưới một cây số. Điểm đặc biệt của làng cùi này được Đức
Cha Gioan Cassaigne mô tả trong một bài thuyết trình của ngài tại Sài-gòn ngày
03.01.1943, và được Cha Giu-se Phùng Thanh Quang trích dịch trong cuốn sách của
ngài : “ Làng cùi Di-linh không phải là
một nhà thương, cũng không phải là khu biệt cấm dành riêng cho bệnh nhân truyền
nhiễm với những luật lệ nghiêm khắc. Đây là một ngôi làng với dân cư được chọn
lọc kỹ, một vùng đất sống của người Thượng phong cùi. Làng thượng này có tổ
chức chu đáo, có nhà rộng, có phòng phát thuốc, phòng chiếu phim và nhà thờ hẳn
hoi. Cũng có công viên, có đường sá được tu bổ giữ gìn kỹ lưỡng. Trưởng làng là
một ông Thượng phong cùi; ông ta đứng ra lo an ninh trật tự cho ngôi làng nhỏ
bé đó. Nhà cửa được cất theo kiểu người Thượng., ngĩa là nhà sàn, lợp tranh,
cất riêng nhau thành nhiều chòi nhỏ, mỗi chòi chứa vài bệnh nhân đã được tự do
lựa chọn nhau để sống chung cho vui vẻ… Trong làng này, người phong cùi sớm tối
có nhau, được săn sóc, được an ủi, được nuôi dưỡng tử tế, tránh được những hiểm
nguy của kiếp sống cô đơn nơi rừng vắng …Người cùng cảnh ngộ, cùng một mối ưu
tư lo nghĩ về số kiếp bạc bẽo, thường sống với nhau rất thuận thảo.
Như lời Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền đã nói trên đây, tại làng cùi
Di-linh, người điều hành tổng quát, người chăm lo đời sống tinh thần, người lo
nuôi sống thể xác và băng bó các vết thương cho bệnh nhân cũng chỉ là một : Cha Gioan Cassaigne. Hằng tuần, ngài đến làng
cùi 3 lần để chữa bệnh và phát thuốc. Những người bệnh nặng không tới phòng
phát thuốc được thì được ngài đến chăm sóc tại chòi của họ. Và mỗi tuần một
lần, vào ngày thứ bảy, ngài đến phân phát lương thực cho dân làng : gạo, cá
khô, muối, thuốc hút. Từ tháng chín 1937, có các chị Nữ Tử Bác Ái đến tiếp tay
với ngài, một nữ tu người Pháp và hai nữ tu người Việt. Như những người mẹ, các
chị sẽ cúi xuống trên những vết thương của những người con bản địa khốn khổ,
còn người cha thì chuyên lo chữa các vết thương linh hồn và lo cái ăn cho thân
xác của họ.
Trong lời kết của bản tường trình tháng 10.1937, Cha Cassaigne đã viết : “ Người đàn bà phong cùi đầu tiên, về thiên đàng cách đây 10 năm, đã giữ lời hứa. Còn
tôi thì tin vào Mầu nhiệm Các Thánh Thông Công.”
Như chúng ta đã
biết, ngày 24.02.1941, Cha Cassaigne nhận được quyết định bổ nhiệm ngài làm
người kế vị Đức Cha Dumortier. Bốn tháng sau, ngài rời Di-linh đi nhận nhiệm vụ
mới tại Sài-gòn. Xa rời đàn con bất hạnh của ngài trong hơn 14 năm, ngày đêm
ngài hằng nhớ tới họ ...và hình như ngài chỉ mong sao có ngày được đoàn tụ lại
với họ. Và ngày đó đã đến thật ! Chúng ta hãy đọc những gì được ghi lại trong
Bản tin MEP tháng giêng 1956 về những ngày cuối cùng của Đức Cha Gioan Cassaigne
tại Tòa Giám mục Sài-gòn:
Từ đầu năm 1947, sức khỏe của Đức Cha
Cassaigne xấu đi rõ rệt. Thêm vào bệnh sốt rét cũ , và chứng suy gan của ngài,
là sự giảm chất vôi cột sống rất đau đớn; và trên tất cả còn có một mối đe dọa
: năm 1943, người ta đã tìm thấy trong cơ thể của ngài “vi trùng Hansen”.
Ngày 19.12.1954, kỷ niệm
giáp năm thụ phong linh mục của ngài, Đức Cha khám phá trên cẳng tay, hơi xa cổ
tay một chút, một vệt màu hồng. Ngài lấy kim chích vào chỗ da đó thì không cảm
thấy đau đớn gì cả, và cái vệt kia ngày càng lan rộng ra.
Ngày 24.02.1955. Đức Cha đi
gặp các bác sĩ thuộc viện Pasteur Sài-gòn. Kết quả xét nghiệm là : “ Phong cùi
dạng lao thần kinh !” Nhưng các bác sĩ nói thêm : “ Ngài đừng thay đổi gì trong
các hoạt động và thói quen của ngài. Bệnh của ngài không lây !” Họ áp dụng cho
ngài một cách điều trị có nguy cơ làm giảm hồng huyết cầu trong cơ thể.
Ngày 05.3.1955, Đức Cha
Cassaigne viết thư cho Đức Cha Lemaire, Bề trên Cả Hội Truyền Giáo Paris để xin
phép gửi lên Tòa Thánh đơn từ chức Đại Diện Tông Tòa Sài-gòn và về hưu tại làng
cùi Di-linh.
Ngày 15.7.1955. Sau nhiều
lần nằm điều trị tại Nhà thương Grall, Đức Cha Cassaigne viết thư cho Đức Cha
Dooley, Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông dương, để xin từ nhiệm và về hưu tại làng
cùi Di-linh, tại đó ngài còn có thể phục vụ và tự chữa bệnh, mà “ không làm
phiền ai và cũng không trở nên gánh nặng cho ai.”
Thứ Hai, 10.10.1955 (Áp lễ
Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa), lúc 4 giờ chiều, Đức Cha Cassaigne thân tình thổ lộ cho Cha Phát, quản lý của ngài : “ Từ giờ
phút này, tôi không còn là Giám mục của Cha nữa … Chúng ta chấm dứt làm chủ tòa
giám mục này ! Cố gắng đừng làm gì bậy nữa.” Chắc ngài mới nhận được tin Rô-ma
chấp thuận đơn từ chức của ngài.
Cuối tháng 10.1955. Đức
Cha Cassaigne trao vào tay Đức Cha Nguyễn Văn Hiền , người kế vị của ngài,
quyền Đại Diện Tông Tòa Sài-gòn.
Thứ Tư, 30.11.1955. Lễ tấn
phong Giám Mục của Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền. tại Sài-gòn.
Thứ Bảy 03.12.1955. Đức
Cha Cassaigne vĩnh viễn rời tòa giám mục Sài-gòn để trở lại Di-linh sau 14 năm
6 tháng (24.6.1941-03.12.1955) ở trên ngai giám mục.”
Cha Phan-xi-cô Daricau, một linh mục MEP, đã viết về sự kiện Đức Cha
Cassaigne trở lại làng cùi Di-linh như sau : “ Ngài đã về và đã được đón
tiếp trọng hậu, tôn kính. Nhưng nhà chưa xây ngay được nên ngài đã đến ở chung
với tôi tại Ka-la, cách trại phung hai cây số. Nhà xứ của tôi nhỏ, không cung
cấp nổi cho ngài một căn phòng riêng. Ngài cũng không muốn lấy phòng của một
đồng nghiệp. Chúng tôi lấy tấm màn ngăn phòng ăn làm đôi, một bên là giường nhỏ
của ngài, một bên là cái bàn ăn. … Suốt trong sáu tháng, chúng tôi có niềm vui
được sống chung với nhau. Sau đó ngài tới sống tại căn nhà dành riêng cho ngài
ở trại cùi. Nhưng trưa nào ngài cũng về Ka-la dùng bữa với tôi, khẩu phần có
khá hơn trong trại. … Bao nhiêu sức lực còn lại ngài dành để phục vụ trại
phong. Sức ngài giảm nhiều so với trước kia, do những đau đớn của căn bệnh…”
Cha Christian Grison, người quản nhiệm cuối cùng của Trung tâm Thượng
Di-linh (từ 1965 đến 1975), người đã gần gũi với Đức Cha Cassaigne trong mười
năm cuối cùng của ngài tại làng cùi Di-linh, đã viết về Vị Tông đồ người phong
cùi như sau : “ Tôi được phúc sống mười năm gần Đức Cha Cassaigne,
vì thời gian đó tôi phụ trách xứ đạo thượng tại Di-linh. Tôi đã chứng kiến tình
cảm ưu ái mà ngài khơi dậy khi ngài trở nên nhỏ bé với những kẻ nhỏ bé, trở nên
phong cùi với những người phong cùi. Sự mến phục người ta dành cho ngài đó,
không bao giờ ngài sử dụng vì lợi ích riêng của mình; tất cả được hướng về sự
cứu trợ cho người phong cùi. Mối quan tâm duy nhất của ngài, tôi có thể nói là
nổi ám ảnh đối với ngài cho đến khi ngài chết, đó là tìm nguồn tài trợ cho làng
cùi…”
Qua những chứng từ trên đây, chúng
ta thấy được tấm lòng yêu thương và sự hy sinh cao cả mà Đức Cha Cassaigne đã
dành cho những người phong cùi của ngài. Có thể áp dụng cho ngài câu nói của
Thánh sử Gioan về Đức Giê-su : “Ngài đã
yêu thương họ đến cùng” (Ga 13, 1) . Ngài đã sống trọn vẹn châm ngôn giám
mục của ngài - Bác ái và Yêu thương -
không phải từ khi làm Giám mục, mà phải
nói là từ khi ngài chấp nhận đi truyền giáo cho những người Thượng Di-linh.
Ngày 31.10.1973, ngài trút hơi thở cuối cùng giữa những con cái phong cùi
của ngài như ngài đã ước nguyện. Ngài đã được mai táng bên cạnh ngôi nhà nguyện
của người phong cùi, để họ có ngài ở với họ luôn mãi. /.
***
Giu-se Bùi Văn Tường, Đà-lạt