Lời giới thiệu của Đức Giám Mục Giáo Phận Phêrô
Nguyễn Văn Nhơn:
”... Năm
2008 này Hội Thừa Sai Paris mừng kỷ niệm 350 năm ngày thành lập. Giáo Hội Việt
Nam mang ơn các cha thừa sai rất nhiều vì công sức của các thế hệ
tông đồ đã qua góp phần rất lớn trong việc loan báo Tin Mừng trên quê
hương thân yêu này ; cách đặc biệt trong Giáo
phận Đàlạt, các ngài đã cùng cộng tác với các cha dòng Chúa Cứu
Thế, Đaminh và Tu Hội Truyền giáo thánh Vinhsơn hoạt động trên cánh
đồng truyền giáo mênh mông, cho chúng ta có ngày hôm nay.
Đánh dấu biến cố này và nhân Năm Thánh mừng 80
năm truyền giáo Đàlạt vừa qua, giáo sư Giuse Bùi Văn Tường đã biên soạn
tập sách nhỏ, ghi nhớ các vị thừa sai MEP (Missionnaire Etrangere de Paris) đã in dấu ấn trong các
Trung tâm truyền giáo trong vùng Đàlạt - Lâm Đồng...”.
Web
Simon Hòa Đàlạt hân hạnh gửi đến độc giả tập nghiên cứu này.

CÁC CHA THUỘC HỘI THỪA SAI PARIS
VỚI SỰ HÌNH THÀNH CỦA GIÁO PHẬN ĐÀLẠT
Lời mở đầu
Ngày Chúa
Nhật 29/10/2006, Đức Giám mục giáo phận đa chủ sự thánh lễ đồng tế trọng thể
với hơn 30 linh mục thuộc giáo hạt Đà-lạt, khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho Anh
em Dân tộc thiểu số trong giáo
phận. Tám mươi năm là thời gian được tính từ ngày người Thượng đầu tiên lãnh
nhận Bí tích Thanh tẩy tại vùng đất này: đó là ngày 07/12/1927, áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội; người được rửa tội là
một phụ nữ bị bệnh phong cùi giai đoạn chót, tên là K’Trut, và vị giáo sĩ ban
Bí tích là cha Gioan Cassaigne, một thừa sai trẻ thuộc Hội Truyền Giáo Paris,
về nhận nhiệm sở (tại giáo điểm truyền giáo Di-linh) chưa được một năm. Cha
Cassaigne đa chọn tên Đức Mẹ để đặt cho bà K’Trut. Không đầy hai tuần sau, bà
Ma-ri-a K’Trut qua đời. Theo lời kể của vị Tông đồ người phong cùi Di-linh, thì
trước khi chết, bà Ma-ri-a K’Trut đa nói với ngài: “Ông Lớn ơi ! Tôi sẽ nhớ đến Ông khi ở trên trời.” Chúng ta hy vọng rằng hiện nay người phụ nữ
diễm phúc đó đang ở trên trời. Nhưng có điều chắc chắn là bà đa giữ lời hứa với
vị ân nhân của mình: khi cha Cassaigne tạm rời Di-linh, sau 14 năm 4 tháng hoạt
động tại đây, từ 24/01/1927 đến 01/6/1941, đa có 296 tín hữu người Thượng được
ngài rửa tội – gồm 218 người tại Di-linh và 78 người tại làng cùi; ngoài ra,
công trình vĩ đại của ngài, được khắp nơi biết đến, là Trại phong Di-linh do
ngài thành lập và được chính thức công nhận ngày 11/4/1929, lúc ấy đang cưu
mang 211 bệnh nhân, trong đó có 133 dự tòng. Nhưng sự phù hộ của bà Ma-ri-a
K’Trut không chỉ dừng lại nơi cuộc đời và sự nghiệp của nhà truyền giáo Gioan
Cassaigne, mà còn tiếp tục cho đến hôm nay, 80 năm sau khi bà được trở nên con
cái Hội Thánh Công giáo. Con số trên 100 ngàn anh chị em tín hữu người Dân Tộc
Thiểu Số trong Giáo phận của chúng ta hiện nay đa hùng hồn chứng minh điều đó.
Giáo phận
Đà-lạt được hình thành và phát triển từ cái nôi là họ đạo Thánh Nicolas. Họ đạo
này được chính thức thành lập vào năm 1920, nhưng có thể nói hạt giống Tin Mừng
đa được gieo từ khi Đức Cha Lucien Mossard, Đại diện Tông tòa Sài-gòn, cùng với
cha Nicolas Couvreur, Quản lý của Hội Truyền Giáo Paris vùng Viễn Đông, trụ sở
đặt tại Singapore, đặt chân đến nơi đây, với mục đích tìm chỗ thích hợp để xây
dựng một nhà nghỉ dưỡng rất cần thiết cho sức khỏe của các Thừa sai người Âu
thường bị suy giảm do khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt. Đó là vào cuối năm 1917,
đầu năm 1918. Nhưng Thiên Chúa đa dùng bàn tay con người để thực hiện ý định
của Ngài: Dưỡng Viện Giáo Đồ do Cha Nicolas Couvreur xây dựng lên, không chỉ là
nơi các Thừa sai đau yếu đến nghỉ dưỡng, nó còn là nơi qui tụ của những tín hữu
– ít ỏi thôi, khoảng chưa được 200 người – họ là những quan chức, quân nhân hay
doanh nhân, nông dân người Pháp và khách vãng lai; họ cũng là một ít người Việt
tha phương cầu thực hay là công chức phục vụ trong các cơ quan nhà nước...
nhưng ai nấy đều có nhu cầu sống đạo, và chắc chắn họ rất vui mừng khi có sự
hiện diện của linh mục giữa họ. Thế là Dưỡng Viện được nối dài thêm để có nơi
cử hành các Bí Tích. Do đó mà có họ đạo Đà-lạt, một họ đạo rộng mênh mông, bao
gồm không những toàn bộ tỉnh Lâm-đồng ngày nay, mà còn kéo dài tới vùng La-ngà
Định-quán nữa. Đến năm 1927 có họ đạo thứ hai của giáo phận, khởi đầu là giáo
điểm truyền giáo Di-linh, do Đức Cha Isidore Dumortier, Đại diện Tông tòa
Sài-gòn, thành lập. Từ hai họ đạo lớn này, dần dần, theo dòng thời gian, các họ
đạo lớn nhỏ khác của giáo phận ra đời.
Đôi nét chấm
phá trên đây cho ta thấy rằng công đầu hình thành và phát triển Giáo phận
Đà-lạt là của các cha Thừa sai thuộc Hội Truyền Giáo Paris, thường được gọi tắt
là MEP, vì cả hai họ đạo lớn của giáo phận đều do các ngài quản lý, xây dựng và
mở mang trong giai đoạn khởi đầu. Các ngài đa đến đây với sứ mạng chính là
truyền giáo cho người dân tộc thiểu số, nhưng cũng không coi nhẹ việc xây dựng
các cộng đoàn tín hữu người Kinh. Dầu vậy, tuy số người tín hữu thuộc dân tộc
thiểu số chỉ chiếm một phần ba trên tổng số tín hữu của giáo phận, công bằng mà
nói thì chính các tín hữu thuộc dân tộc thiểu số mới là “con cái chính thức - con thừa tự” của giáo phận, và những người đầu tiên trong
số họ đa được sinh ra từ tay của các nhà truyền giáo MEP.
Bài viết sau
đây không phải là một khảo luận về công cuộc truyền giáo do các cha MEP thực
hiện cho người Dân tộc Thiểu số vùng Đà-lạt Di-linh, công việc này đoi hỏi
nhiều nguồn tài liệu mà bản thân người viết không tiếp cận được, nhưng đơn giản
chỉ là kết quả của một sự chọn lọc, biên tập và sắp xếp lại những thông tin từ
những tài liệu có sẵn, để bày tỏ sự tưởng nhớ, lòng biết ơn đối với những con
người đa hy sinh, có khi trọn cả đời mình, để mở ra con đường dẫn đến những
thân phận nghèo đói, nếu không đói cơm bánh, thì cũng đói tình thương và sự
kính trọng mà chỉ có Đức Ki-tô mới thực sự đem đến cho họ qua tấm lòng của các
sứ giả Tin Mừng.
Do
sự giới hạn của các tài liệu được sử dụng, chắc chắn bài viết này không những
sẽ không làm thỏa mãn những bậc cao minh, mà còn có nhiều sai sót, người viết
xin được sự thông cảm của độc giả, vì, như đa nói, mục đích của bài này chỉ là
để tưởng nhớ và biết ơn các vị Thừa sai Paris và hoạt động của các ngài cho Anh
Em Dân Tộc Thiểu Số Đà-lạt Di-linh, dịp kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho họ. Cũng
vì không tiếp cận được với tất cả các tài liệu về tất cả các vị Thừa sai đa góp
phần vào việc hình thành Giáo phận Đà-lạt, người viết xin chỉ dừng lại nơi vài
khuôn mặt tiêu biểu nhất. Về các vị khác, hoặc chỉ nêu tên hoặc chỉ ghi lại
được đôi dòng vắn tắt nói đến hoạt động của các ngài, cũng là theo những tài
liệu được sử dụng.
Thao
thức truyền giáo cho các sắc tộc vùng Tây Nguyên
Đức Cha
Victor Quinton – Đại diện Tông tòa Sài-gòn từ năm 1920 đến năm 1924 – và Đức
Cha Isidore Dumortier – Đại diện Tông tòa Sài-gòn từ năm 1924 đến năm 1940 –
sau những lần đi kinh lý vùng Đà-lạt Di-linh, đã ao ước mang Tin Mừng Cứu Độ
đến cho những con người khốn khổ đói rách mà các ngài biết là dân bản địa của
vùng đất thuộc quyền cai quản của các ngài.
Thật ra, từ
lâu trước, nhiều vị truyền giáo khu vực Đàng Trong cũng đã có thao thức tương tự,
khi các ngài nhìn lên những cao nguyên hùng vĩ phía tây – cao nguyên Kon-tum,
cao nguyên Gia-lai (Plei-ku), cao nguyên Đắc-lắc (Ban-mê-thuột), cao nguyên
Lâm-viên (Langbiang) và cao nguyên Di-linh – nơi đó các ngài biết rằng có những
bộ lạc người thiểu số đang sinh sống. Ngày 10/10/1674, cha De Courtaulin, thuộc
Hội Thừa Sai Paris, vị Tổng Đại diện của địa phận Đàng Trong, từ Hội-an trong
tỉnh Quảng-nam, đã gửi một lá thư cho Giám mục của ngài là Đức Cha Lambert de
La Motte đang ở Thái-lan để tránh cơn bắt đạo của chúa Nguyễn Phúc Tần [1]
.
Trong thư đó
ngài gợi ý việc truyền giáo cho người sắc tộc vùng Tây Nguyên. Có đoạn viết: “Nhiều
lần gặp những người Thượng từ trên núi xuống vùng Nam Bộ, con nhận thấy họ có
tính tình tự nhiên rất hiền hòa, và họ không có chùa chiền hay tư tế thờ ngẫu
tượng... Ngày đêm con quyết chí tìm cách đưa Tin Mừng đến với họ...” [2]
Nhưng – trừ các cao nguyên Kon-tum và Gia-lai, nơi phái đoàn truyền giáo do Đức
Cha Tê-pha-nô Cuénot Thể [3]
sai đến, với mục đích thiết lập một giáo đoàn nơi “những người dân tộc thiểu
số miền núi rừng phía tây”, và cũng để làm chỗ nương thân cho giáo sĩ và
giáo dân trong thời cấm cách – thì chưa có vết chân của nhà truyền giáo nào
trên vùng cao nguyên Lâm-viên và cao nguyên Di-linh trước thế kỷ 20. [4]
Phần Đức Cha
Victor Quinton – từ năm 1920 thay Đức Cha Lucien Mossard (qua đời ngày
11/02/1920) coi sóc địa phận Tây Đàng Trong, địa phận bao gồm cả vùng Đà-lạt
Di-linh – ngài đã thao thức đến việc rao giảng Tin Mừng cho những người Thượng
mà ngài đã có dịp gặp trong những lần đến Đà-lạt. Tài liệu 72 [5]
có đoạn ghi: “Trước đây, ngài đã từng lên nghỉ vài hôm tại dưỡng viện; trong
những chuyến đi dạo trong rừng ngài đã gặp một vài người Thượng trên đường đi.
Đối với ngài, đó là một mặc khải; ngài tin rằng mình đã nghe tiếng kêu của
những con người khốn khổ trên cao nguyên, những người mà cho đến lúc ấy chưa hề
được rao truyền sứ điệp Tin Mừng.”
Còn Đức Cha
Isidore Dumortier, người kế vị Đức Cha Quinton từ năm 1924, thì chính ngài đã
viết trong bản phúc trình năm 1927 [6]
như sau: “Vừa nhận nhiệm vụ cai quản địa phận, tôi không dám tìm cách thực
hiện ngay ý nguyện tôi đã ấp ủ từ lâu là chăm sóc cho những người Thượng trong
địa phận của tôi: nhưng chính Đấng Quan Phòng đã sắp đặt mọi sự; tôi chỉ còn
việc làm theo những chỉ dẫn của Người.”
Những nhà
truyền giáo đầu tiên trên cao nguyên Đà-lạt Di-linh đã được chính những vị bản
quyền này gửi đến.
Vị
thừa sai xây dựng cộng đoàn
Cha Céleste
Nicolas, ngày nay được biết đến nhiều hơn qua việc ngài đã xây dựng nên họ đạo
Đà-lạt về mặt vật chất cũng như tinh thần, lại chính là vị Thừa sai đầu tiên
được Giáo quyền gửi đến vùng Cao nguyên Đà-lạt với sứ mạng truyền giáo cho
người Thượng xứ này. Thật vậy, trong bản phúc trình năm 1920, Đức Cha Quinton
đã viết như sau: “Chưa đầy một tháng sau khi (từ Pháp) trở lại, cha Nicolas
lại bị chứng đau gan, cơn bệnh đã hai lần bắt ngài phải về Pháp để chữa trị. Vì
bác sĩ đã nói rõ rằng với bất cứ giá nào ngài cũng phải được sống trong một khí
hậu ôn hòa hơn là khí hậu miền Nam kỳ, nên tôi nghĩ phải gửi ngài lên Đà-lạt, ở
đó ngài sẽ là bạn của cha Sidot mà tôi đặt làm cha sở từ hồi tháng Năm. Như
thế, may ra ngài có thể làm được một cái gì đó cho các bộ lạc Thượng vùng
Langbian. Cuộc thử nghiệm sẽ kết quả thế nào? Tôi không biết. Nhưng ít ra chúng
ta sẽ được mãn nguyện vì đã cung cấp cho những người Thượng nghèo khó đó một
phương tiện cứu rỗi...” [7] Nhưng cuộc thử nghiệm đã không thành công!
Sau đây là
ghi nhận của Hội Truyền Giáo Paris, trong tập sách nhan đề In Memoriam,
tháng 9/1962: “Khi đến nơi, cha Nicolas bắt đầu dựng một ngôi nhà nguyện
nhỏ; đoạn ngài tổ chức một lớp học dành cho thiếu nhi và thông báo cho cha mẹ
của chúng. Ngài cũng lao vào việc học tiếng của chúng. Nhưng kết quả không
tương xứng với lòng nhiệt thành hăng say của ngài: vài tuần sau đó, lớp học trở
nên trống rỗng, lũ trẻ con người Thượng chán học đã tìm đường trở về với rừng
núi. Cha Nicolas rất thất vọng. Ngài tự nhủ: giờ của Chúa chưa đến và việc tông
đồ duy nhất ngài có thể làm là cầu nguyện.”
Qua sự kiện
này, ta thấy con đường của Chúa dành cho cha Nicolas thật là lạ lùng. Cha
Giu-se Phùng Thanh Quang đã viết về ngài như sau: “Người ta tưởng rằng linh
mục đau yếu này (tức là cha Nicolas) sẽ chỉ ở coi nhà (sau khi cha sở đầu tiên
là cha Frédéric Sidot được thuyên chuyển về Vũng-tàu) rồi hưu trí luôn, nhưng
trái lại con người bệnh tật này đã làm những việc vĩ đại mà giáo dân Đà-lạt
muôn đời ghi nhớ ...” [8]
Để việc
tưởng nhớ được trọn vẹn, người viết xin được ghi lại đây đôi nét về cuộc đời và
sự nghiệp của cha Céleste Nicolas, cha sở thứ hai của họ đạo Đà-lạt.
Sinh ngày
07/9/1880 tại Lorraine, miền đông bắc nước Pháp, ngài lãnh chức linh mục ngày
26/6/1904 trong Hội Thừa Sai Paris. Ba tháng sau ngày chịu chức, ngài lên đường
sang Việt-nam.
Từ năm 1904
đến 1920, ngài lần lượt làm phó xứ Chợ Quán, phó xứ Tha-la, phó xứ nhà thờ Đức
Bà Sài-gòn, cha sở Chợ Đũi. Trong thời gian đó, ngài phải ngưng công việc mục
vụ hai lần để trở về Pháp chữa bệnh đau gan, vào các năm 1909 và 1916. Lần sau,
do chiến tranh, ngài bị kẹt ở Pháp cho đến năm 1920 mới trở về lại nhiệm sở. Nhưng
chưa đến một tháng sau, chứng đau gan của ngài tái phát. Bác sĩ tuyên bố dứt
khoát rằng ngài không thể chịu được khí hậu nhiệt đới. Do đó, Đức Cha Quinton quyết
định gửi ngài lên Đà-lạt như đã nói đến trên đây. Ngài đến Đà-lạt ngày
11/9/1920.
Sau thất bại
nơi những anh em dân tộc thiểu số, ngài đọc được ý Chúa nhiệm mầu không muốn
ngài làm công việc ấy. Rồi với sự ra đi của cha Sidot – cha này được Đức Cha Quinton
đặt làm cha sở đầu tiên của họ đạo mới và đã đến nhận nhiệm sở ngày 10/5/1920,
nay được thuyên chuyển về Vũng-tàu để trông coi trường sư phạm mới được mở của
giáo phận, ngài rời Đà-lạt ngày 11/7/1921 – và với sức khỏe được hồi phục nhờ
khí hậu trong lành của Đà-lạt, cha Nicolas bắt tay vào công việc xây dựng họ
đạo của ngài trong tư cách là cha sở mới.
Cơ sở vật
chất của họ đạo mới chỉ có ngôi nhà do cha Nicolas Couvreur xây dựng ba năm về
trước và được sử dụng vừa làm nhà xứ vừa làm dưỡng viện dành cho các vị mục tử
đau yếu đến nghỉ ngơi. Nơi thờ phượng là phần nối dài cánh phải của ngôi nhà
này, được thiết kế như một nhà nguyện nhỏ vào năm 1919, với chi phí do bổn đạo
đóng góp theo lời kêu gọi của Đức Cha Mossard.
Chưa đầy hai
năm sau ngày nhậm chức, cha Nicolas thấy đoàn chiên của ngài, từ con số chưa
đến 200 người lúc họ đạo được thành lập, nay tăng lên nhiều đến nỗi ngôi nhà
nguyện cũ đã trở nên quá nhỏ bé. Được sự cho phép và yểm trợ của Đức Cha
Quinton, một ngôi nhà thờ mới được xây dựng, cách nhà xứ khoảng 100 mét về phía
nam (khởi công ngày 05/7/1922, khánh thành ngày 17/02/1924, ở vị trí của sân
trường Quang-Trung, hướng về phố Nhà Chung ngày nay; hiện không còn nữa). Dự
kiến sử dụng trong 20 năm, nhưng chỉ mới 5 năm sau, vào năm 1928, ngôi nhà thờ
mới đã không còn đáp ứng được số giáo dân gia tăng đến trên 500 người vừa Pháp
vừa Việt định cư tại Đà-lạt. Ngoài ra còn khách vãng lai, du khách và học sinh
nội trú của các trường trung tiểu học được thành lập trong thành phố mới. Vì
vậy cha Nicolas thấy cần phải có một ngôi nhà thờ đủ sức chứa hết số giáo dân
đông đảo đến với ngài.
Ngài đã đệ
trình Đức Cha Isidore Dumortier, người kế vị Đức Cha Quinton từ năm 1924,
nguyện vọng của họ đạo là muốn có một ngôi nhà thờ mới, rộng lớn, khang trang
hơn. Chính Đức Cha Dumortier đã lo liệu các hồ sơ địa chánh cần thiết cho công
trình xây cất nhà thờ. Phần cha sở Nicolas, thì từ ngày 01/02/1929, ngài bắt
đầu kêu gọi sự đóng góp của giáo dân và bạn hữu.
Ngài cũng
lập một Bản Tin Họ đạo, dưới dạng một nguyệt san, để thúc đẩy mạnh mẽ sự
đóng góp của mọi người. Số đầu tiên được phát hành vào tháng 3/1930. Ngoài
những mục giáo lý, đạo đức, thời sự, giải trí, đố vui và quảng cáo, bản tin
luôn dành hai hoặc ba trang để ghi danh các ân nhân, đồng thời nhắc nhở, thúc
giục mọi người không phân biệt giàu nghèo, lương giáo, trong cũng như ngoài
nước, ủng hộ công trình xây cất ngôi nhà của Chúa. Bản Tin ra đều đặn, miễn
phí, từ 1930 đến tháng 12/1943, và được phát hành không chỉ ở Đà-lạt mà cả ở
Sài-gòn. Cha Decoopman, một người bạn thân của cha Nicolas từ hồi còn ở chủng
viện, nay làm quản lý giáo phận, nhận việc thu góp các khoản tiền dâng cúng.
Nhờ sự giúp
đỡ rộng rãi từ nhiều phía, công trình xây dựng đã có thể bắt đầu với lễ đặt
viên đá đầu tiên được cử hành trọng thể ngày 19/7/1931, do chính Đức Khâm sứ
Tòa Thánh (tại Đông-dương và Thái-lan), Đức Cha Colomban Dreyer, chủ sự, và chỉ
hơn tám tháng sau, giai đoạn một của công trình đã hoàn tất như dự liệu, với
phần đầu nhà thờ gồm cung thánh, hậu tẩm, các phòng phụ quanh cung thánh, gian
trước cung thánh với hai gian cánh và một gian lòng nhà thờ. Ngày 27/3/1932,
phần này được làm phép và đưa vào sử dụng. Nhưng sự sốt sắng lúc đầu này dần
dần nguội bớt và phải đợi đến hơn tám năm sau công trình mới lại được tiếp tục.
Ngày 07/10/1940 bắt đầu giai đoạn hai với việc xây cất năm gian lòng nhà thờ và
đặt móng cho tháp chuông và hai tháp phụ. Tiếp theo là giai đoạn cuối cùng với
việc xây các tháp, cầu thang xoắn trôn ốc lên gác đàn và tháp chính, đặt thánh
giá trên đỉnh tháp chính và trên thánh giá đặt con gà cồ bằng đồng.
Mọi sự hoàn
tất vào ngày 14/01/1942. Cha sở Nicolas đã đề ra ba chỉ tiêu cho nhà thờ mới: rộng,
kiên cố và đẹp [9] . Cả ba chỉ tiêu đã đạt được, như chúng ta thấy ngày nay. Những phẩm
chất này quả thật là hiếm thấy nơi những công trình “hiện đại”! Về kích thước,
nhà thờ mới dài 65 thước, rộng 14 thước, tháp chuông cao 47 thước, nếu tính cả
thánh giá với con gà thì tháp cao 50 thước.
Ngày Chúa
Nhật 25/01/1942, Đức Cha Gioan Cassaigne – Giám mục giáo phận Sài-gòn từ
24/6/1941 – và Đức Tân Khâm sứ Tòa Thánh (từ năm 1937), Antonin Drapier, đồng
chủ sự lễ khánh thành ngôi nhà thờ mới, với sự tham dự của các giới chức chính
quyền và đông đảo giáo dân. Cũng như ngôi nhà thờ thứ hai, nhà thờ mới được
dâng kính thánh Nicolas, vị thánh rất được sùng kính tại xứ Lorraine, quê hương
của cha sở Nicolas, để muôn đời ghi nhớ công ơn của cha Nicolas Couvreur, vị
đại ân nhân của họ đạo Đà-lạt.
Công trình
xây dựng Nhà Chúa đã hoàn tất trong sự hân hoan của mọi người, nhưng đối với
cha sở Nicolas, gánh nặng của một khoản nợ gần 100.000 ngàn đồng [10] vẫn còn là một mối ưu tư lớn. từ năm 1940 và sau đó, từ năm 1948 đến
1961, là cha sở nhà thờ Đà-lạt, thay thế cha Nicolas.
Nói về sự
nghiệp của cha Nicolas, cha Giu-se Võ Đức Minh, nay là Giám mục phó Giáo phận
Nha-trang, tác giả bài tham luận nhan đề Truyền giáo ở Đà-lạt được đọc
trong đợt thường huấn của Linh mục đoàn giáo phận Đà-lạt năm 2004, đã viết:
“Chúng ta đã
thấy cha Céleste Nicolas trong sự quan phòng của Chúa: lúc đầu ngài nhắm tới
việc truyền giáo, nhưng cuối cùng lại là người xây dựng giáo đoàn; ngài hiện
diện ở Đà-lạt để đón tiếp, chăm sóc đoàn dân Chúa từ khắp nơi hướng về Đà-lạt. Họ
không những là người Thượng, người Kinh, người Âu-châu, mà có thể nói mọi hạng
người; ngài là vị Thừa sai đã đón tiếp các Đức Cha, các cha, các tu sĩ nam nữ,
không những ở trong giáo phận, mà ngay cả nhiều nơi từ khắp Đông-dương và rất
nhiều vùng khác nữa. Ngài có dịp tiếp xúc với không biết bao nhiêu bậc vị vọng
về đạo cũng như về đời. Tất cả chỉ nhằm phục vụ công cuộc loan báo Tin Mừng.” [11]
Bài viết
dành cho cha Nicolas, tháng 9/1962, mà chúng tôi đã trích dẫn một đoạn trên
đây, từ trong cuốn In Memoriam, được mở đầu như sau: “Có một số người
được ơn gọi tạo ảnh hưởng trên đời sống của một thời đại hay của một thành phố
bằng dấu ấn và hoạt động của họ, đến nỗi về sau chỉ cần nhắc đến tên của họ là
người ta nhớ lại đầy đủ về thời đại hay thành phố đó. Với sự dè dặt, có vẻ đó
là trường hợp của cha Céleste Nicolas, người đã xây dựng họ đạo Đà-lạt, đã coi
sóc họ đạo trong 25 năm và đã củng cố họ đạo đó bằng lời cầu nguyện và bằng sự
hy sinh trong 15 năm cuối cùng ngài trải qua tại Monbeton.” [12]
Thật vậy,
cha Céleste Nicolas đã rời Việt-nam năm 1947, sau 25 năm làm cha sở họ đạo
Đà-lạt. Cũng trong bài đó, ta đọc được những dòng sau đây về những năm cuối đời
của ngài:
“Tháng
02/1940, cha Nicolas, một con người đa cảm, bị xúc động mạnh bởi cái chết đau
đớn của cha Decoopman, người bạn trung thành và người cộng tác đắc lực của ngài
trong việc xây dựng nhà thờ, và bởi chiến tranh và những đau khổ do nó gây nên.
Khi mọi liên lạc của ngài với các bạn đồng nghiệp bị cắt đứt do việc người Nhật
chiếm đóng Đông-dương, tinh thần ngài suy sụp hẳn và ngài rơi vào một nỗi u uất
nặng nề, mà thời cuộc lúc đó (Cách mạng tháng 8/1945) càng làm tăng thêm cường
độ. Đến một ngày, vì quyền lợi của Hội Thánh – lý do được nêu lên lúc đó – ngài
bị bắt buộc rời nhà thờ và nhiệm sở của mình. Ngài coi đó như là một cuộc lưu
đày mà ngài không đáng phải trải qua. Ngài rất đau khổ, nhất là khi phải sống
cô lập. Thất vọng và buồn chán. Năm 1947, ngài phải trở về Pháp. Tại Montebon,
ngài thu mình một chỗ, không nói chuyện với ai. Cho rằng mình không xứng đáng
dâng thánh lễ, ngài lại sẵn sàng giúp lễ cho các bạn đồng nghiệp. Nhưng con
đường thập giá mà từ ngày đó ngài phải bước đi, sẽ không trở thành vô ích. Thật
vậy, chẳng phải là kết quả của sự các thánh thông công khi việc truyền giáo cho
người Thượng vùng Đà-lạt được đẩy mạnh chỉ ít lâu sau khi cha Nicolas đến
Montebon, nhờ nỗ lực của vị Thừa sai rất đáng thương tiếc là cha Octave Lefèvre [13] và nhóm của ngài đó sao? Tháng 7/1959, ngài được một
người cháu đưa đến Lộ-đức; tại đây ngài được khỏi bệnh và trở lại là người vui
tính đầy sức cuốn hút. Ngài nối lại thư từ với bạn bè, thậm chí còn đi thăm họ
tại chỗ. Thật là một sự ngạc nhiên lý thú cho những ai biết được ngài đã trở
nên như thế nào trước đây, và thình lình lại tìm thấy nơi ngài “Cha Céleste”
của ngày xưa! Đức Cha Antonin Drapier, vị cựu Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông-dương
(người đã cùng với Đức Cha Gioan Cassaigne chủ sự nghi thức khánh thánh nhà thờ
Đà-lạt năm 1942) cũng rất đỗi ngạc nhiên khi đón tiếp con người “mất trí nhớ”
ấy và nghe ngài thuật lại một cách hóm hỉnh những kỷ niệm xa xưa! Ngài thích nói
về Đà-lạt và thật là một niềm vui lớn cho ngài khi được người kế nhiệm của
ngài, cha Fernand Parrel, đến thăm tại Montebon. Ngài hỏi thăm về tất cả mọi
người ngài đã quen biết trước kia và không ngừng hỏi han về họ. Đà-lạt luôn là
đối tượng kinh nguyện của ngài và ngài hằng nghe ngóng tin tức về Đà-lạt; ngài
vui mừng về sự phát triển của họ đạo và việc truyền giáo cho người Thượng, điều
mà ngày xưa ngài đã rất quan tâm.
Nhưng tình
trạng tốt lành đó chỉ kéo dài được hai năm; đến tháng 9/1961, mọi sự trở lại
như cũ. Ngài lại rơi vào trong nỗi u uất, không nói chuyện với bất cứ ai, nhưng
luôn miệng rên rỉ một cách tội nghiệp: “Ôi! Chúa ôi, Chúa ôi!...” Ngài được đưa
vào bệnh viện Montauban; và tại đây, sáng ngày 18/11/1961, người ta thấy ngài
đã tắt thở!... Đà-lạt – nơi mà ngài đã ước ao được yên nghỉ tại tầng hầm [14] của ngôi nhà thờ nay đã trở thành Nhà thờ Chánh tòa –
sẽ không bao giờ quên ngài, bởi vì ngài đã để lại đó, không chỉ là một công
trình bằng đá mà thôi, mà nhất là kỷ niệm về một vị Thừa sai đã sống hết mình
vì đoàn chiên”.
Nhận xét về
cha Céleste Nicolas và Đức Cha Gioan Cassaigne, cha Giu-se Võ Đức Minh, trong
bài tham luận nhan đề Truyền giáo ở Đà-lạt được nói đến trên đây, đã
viết như sau: “Xin dừng
lại ở hai
khuôn mặt tiêu biểu trên cánh đồng truyền giáo ở vùng cao nguyên mà nay là Giáo
phận Đà-lạt: Cha Céleste Nicolas và Cha Jean Cassaigne. Trong suy nghĩ chủ quan
của người trình bày: hình như hai vị Thừa sai này làm sống lại khuôn mặt và
hoạt động truyền giáo của hai Tông đồ năm xưa: Phê-rô và Phao-lô.” [15]
Vâng, theo
như những gì chúng ta đã biết về cha Nicolas qua phần trình bày vắn tắt trên
đây, ngài quả thật là hình ảnh của Thánh Tông đồ Phê-rô đối với giáo phận
Đà-lạt. Một cộng đoàn giáo hữu lớn mạnh (14.000 người – con số này được Đức
Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền, GM tiên khởi của giáo phận, nêu lên trong lời
đáp từ của ngài vào chiều ngày 16/01/1961, ngày ngài về nhận giáo phận) [16] , và một ngôi thánh đường khang trang đẹp đẽ, cả hai yếu tố – con người
và cơ sở vật chất – xứng đáng để họ đạo thánh Nicolas Đà-lạt, họ đạo của cha
Nicolas, được đặt làm giáo xứ mẹ của một giáo phận vừa được Tòa Thánh thiết
lập.
Và giáo phận
đó còn được sự đóng góp xây dựng của một vị Thừa sai khác, vị thừa sai mang
hình ảnh của Thánh Tông đồ Dân Ngoại. Ngài đã có mặt tại vùng đất này bảy năm
sau cha Nicolas, nhưng ngài được diễm phúc hơn vì đã được sai đến với “Dân
Ngoại”, đã sống và đã chết cho họ: Cha Gioan Cassaigne.
Vị
tông đồ của “Bác ái và Yêu thương”
Đức Cha
Isidore Dumortier, mà chúng ta đã biết qua việc ngài cho phép cha Nicolas xây
ngôi nhà thờ Đà-lạt, là vị giám mục đã tiếp nhận cha Gioan Cassaigne vào hãng
ngũ giáo sĩ của mình khi vị thừa sai trẻ này được sai đến phục vụ tại giáo phận
Tây Đàng trong, bấy giờ đã được gọi là giáo phận Sài-gòn [17] .
Trong bản
phúc trình năm 1927 đã được nói đến trên đây, Đức Cha Dumortier còn viết: “Chúa
Quan phòng đã lo liệu cho tôi con người mà tôi cần để khởi sự công trình này
(là truyền giáo cho người Thượng cùng Cao Nguyên Dà-lạt Di-linh): Một vị thừa
sai trẻ, cha Cassaigne, vừa mới đến Sài-gòn ; trong suốt cuộc chiến (trong
chiến tranh thế giới lần thứ I, thanh niên Cassaigne đã bị gọi nhập ngũ, từ
tháng 7/1914 đến tháng 7/1918) ngài là một liên lạc viên, nên đã quen với thiếu
thốn và cực nhọc. Khi biết được các dự tính của tôi, cha Cassaigne liền xin
tình nguyện và ngài vui sướng tột độ khi biết mình được bổ nhiệm.” [18]
Cha cố
Giu-se Phùng Thanh Quang đã nói về việc Đức Cha Dumortier sai cha Cassaigne đến
vùng Di-linh như sau: “Khi vừa lên quyền Giám mục Sài-gòn được một năm, theo
lời bàn của cha Decoopman, Quản lý Tòa Giám mục, Đức Cha Dumortier liền phái
người đi xem xét địa thế vùng Di-linh ngay... Đợi cho cha quản lý lo giấy tờ
mua lại cơ sở của ông Mười Liên xong ngày 13 (ngôi nhà này vẫn còn là nhà xứ
Di-linh) thì ngày hôm sau là ngày 14/10/1926, Đức Cha viết bài sai trao cho cha
quản lý cầm xuống Cái-mơn cho cha Cassaigne đang học tiếng Việt tại đó, và kêu
cha cấp tốc về Sài-gòn lo đi nhận thí điểm truyền giáo Di-linh ngay.” [19]
Nhưng do
tình hình thời tiết, mãi tới ngày 24/01/1927, cha Gioan Cassaigne mới đến nhận
nhiệm sở được. Hôm đó được coi là ngày khai sinh của thí điểm truyền giáo, sau
này là họ đạo Di-linh. Và cha Cassaigne là cha sở tiên khởi.
Ngài sinh
ngày 30/01/1895, tại miền Landes, thuộc địa phận Dax, tây nam nước Pháp, thụ
phong linh mục ngày 19/12/1925. Ngày 09/4/1926, ngài rời quê hương, lên tàu
sang miền Viễn Đông. Sau gần một tháng lênh đênh trên biển, ngày 05/5/1926, tàu
cập bến Sài-gòn. Ngài được cha Quản lý Decoopman đến đón và đưa về Tòa Giám
mục.
“Có mặt tại
Di-linh từ ngày 24 tháng Giêng, (Đức Cha
Dumortier viết tiếp trong bản phúc trình 1927 đã được nói đến trên đây), cha
Cassaigne viết cho tôi lá thư đề ngày 03 tháng Hai như sau: “Con đã làm quen
với người Thượng, lớn có nhỏ có, và đã có những người bạn trong số họ. Không
biết là họ thích con hay là thích những điếu thuốc của con nữa? Dầu sao, họ
không sợ khi đến gặp con và con thì rất vui khi tiếp đón họ và học tiếng của họ
trong khi nói chuyện; trong số những người lớn, có một ít nói được đôi chút
tiếng Việt.” Tháng Bảy vừa rồi, người đồng nghiệp của chúng ta biết được ý định
của nhà cầm quyền Pháp là mở một trường học tại Di-linh cho con em người Thượng
và (ngài gợi ý) tầng trệt của nhà ngài có thể dùng làm địa điểm... đề nghị được
chấp thuận và nhờ sự can thiệp thuận lợi của quan Toàn quyền, cha Cassaigne đã
được phép mở một trường học tại Di-linh...”
[20]
Phần cha
Cassaigne, thì trong một lá thư đề ngày 16/8/1928, ngài đã viết như sau về
những ngày tháng đầu tiên sống giữa người Thượng Di-linh: “Chẳng bao lâu nữa
là tròn một năm từ khi tôi đến nơi vùng núi rừng này, với chút ít hành trang
tiếng Việt học trong tám tháng và mù tịt về ngôn ngữ của các con chiên mới của
tôi. Một căn nhà xinh xắn bằng gỗ, một trệt một lầu, sẵn sàng chờ tôi. Nhưng
chỉ có chừng đó. Trong sáu tháng đầu, tôi phải dâng lễ trong một căn phòng nơi
“cái nhà” của tôi, với một cái bàn đơn sơ làm bàn thờ và chú bé đã theo tôi từ
Nam bộ, thường hay bị sốt rét; nhiều lúc tôi chỉ có các thiên thần trên trời
vừa là người giúp lễ vừa là người dự lễ... Khi đến Di-linh, tôi gặp được ở đây
ba tín hữu người Việt; với người bếp và chú bé của tôi, vậy là có năm người, đủ
để chiếm trọn căn phòng nhà nguyện của tôi. Không nhiều, nhưng cũng đã là một
cái gì rồi, và áp dụng lời dạy của Thánh Ca-rô-lô Bô-rô-mê rằng một linh hồn là
một địa phận đủ lớn cho một giám mục, tôi cảm thấy mình rất hạnh phúc... Công
việc đầu tiên của nhà truyền giáo được sai đến giữa những người bản địa là học
tiếng của họ... không phải trong sách vở, vì chẳng có những thứ này, nhưng bằng
cách nói chuyện với họ, điều này thú vị hơn là chia động từ hay lật các trang
của một cuốn
Chiều về,
ngài góp nhặt những từ đã học hoặc đã nghe trong ngày, và... lập cuốn tự điển
cho riêng mình.” [21]
Công việc
tiếp theo của nhà truyền giáo là chữa bệnh. Chúng ta hãy đọc tiếp: “Rồi nhà
truyền giáo trở thành thầy thuốc, và nhờ vài vị thuốc thông dụng, ngài đã chiếm
được lòng tin của những con người bản địa tốt lành, những con người cho đến lúc
đó chỉ biết cậy nhờ vào các “Bo-yau” (thầy mo) của họ... Vì thuốc của tôi công
hiệu hơn các chỉ dẫn của các “Bo-yau”, nên con cái tốt lành của tôi hằng ngày
đến xin băng bó các vết thương và chữa các bệnh linh tinh của chúng...” [22]
Tiếp xúc với
người Thượng, học tiếng của họ, dạy học và chữa bệnh cho họ, đó là những công
việc thường ngày của cha Cassaigne từ khi ngài tiếp nhận điểm truyền giáo
Di-linh. Nhưng xem ra trường học của ngài cũng gặp những trớ trêu như ngôi
trường của cha Nicolas tại Đà-lạt gần mười năm về trước: “...việc dạy dỗ lũ
trẻ thì... hết sức vất vả. Chúng như những con dê con, thích chạy, thích nhảy,
thích đi long rong ngoài bụi ngoài bờ, ít khi chịu ngồi yên trong lớp... Học
sinh trốn học ở nhà là chuyện thường...”
[23]
Trong lá thư
đề ngày 16/8 trên đây, cha Cassaigne cũng nói đến những khó khăn vất vả trong
việc truyền đạt kiến thức cho con em bản địa; ngài viết: “Dạy học cho lũ con
nít bản địa không phải là chuyện dễ; cha mẹ chúng, ông bà chúng... không bao
giờ biết, cũng như không bao giờ nhận thấy lợi ích của việc biết chữ... ngôn
ngữ của họ là để nói chứ không phải để viết. Tuy nhiên, phải bắt đầu từ chính
chỗ này, và vì không nên quá tin tưởng vào sự hiếu học để lôi cuốn đám học trò
nhỏ, nên mỗi ngày vài bát cơm nóng sẽ là phần thưởng cho những em siêng năng và
thu hút những đứa khác... đối với những chú Thượng con, cần có cơm, và một bát
cơm thì được nuốt nhanh hơn là một trang chữ.” [24]
Sau những mò
mẫm kiên trì, Cha Cassaigne cũng đã soạn được một cuốn sách giáo lý nhỏ [25] và đã dịch được một ít kinh quen dùng bằng tiếng Ko-ho. Để có thể hội
nhập hoàn toàn vào xã hội của người bản địa, cha Cassaigne còn tìm hiểu và ghi
chép những phong tục tập quán của họ. Những nghiên cứu này, ngài đã thuyết
trình trước các nhà đương cuộc [26] hoặc đăng trên các tạp chí, như tạp chí Education – Giáo dục [27] .
Công việc
thì bề bộn và vất vả như thế, nhưng sức khỏe của nhà truyền giáo thì thật là
đáng ngại. Chính cha Cassaigne thì hình như không bao giờ nói đến các bệnh tật
mà ngài mắc phải khi ở Di-linh. Chúng ta chỉ thấy ngài viết về bệnh sốt rét và
bệnh phong mà người khác là nạn nhân được ngài cứu chữa. Nhưng cha Phùng Thanh
Quang đã dành nhiều trang trong cuốn Lạc quan trên miền Thượng của ngài
để nói đến căn bệnh sốt rét quái ác đã tấn công nhà truyền giáo. Ngài viết: “Cuộc
đời đau ốm liên lỉ của Đức Cha Cassaigne là điển hình rõ rệt nhất của loại sốt
rét này. Cha Cassaigne đến Di-linh được hai tháng thì thần sốt rét đã lù lù đến
viếng nhà xứ (Trước tiên, ông bếp già, rồi đến Nhân, chú bé đã đi theo Cha
Cassaigne từ Cái-mơn, bị cơn sốt hành hạ)... Ngày 14/11/1927, cha Cassaigne ngã
bệnh thực sự... Cha nằm li bì cả tuần lễ không ăn uống. Vẻ tráng kiện thanh
xuân tàn lụn nhanh chóng trong vòng một tháng sau. Ngài bắt đầu ốm yếu, xanh
mét, và cứ đau đi đau lại như thế trong suốt 14 năm làm cha sở Di-linh... Thế
mà cha Cassaigne cố giấu không dám cho Bề trên biết, cũng không bao giờ xin đi
nằm nhà thương, vì sợ bị bắt buộc phải thuyên chuyển đi nơi khác. Nhiều khi
thấy vắng ngài lâu quá thì các cha sở ở gần, như cha Barret ở Phan-thiết, cha
Nicolas ở Đà-lạt, phải tới thăm coi ngài ra sao thì mới hay ngài đang trùm chăn
kín mít trong giường, đau cả tuần mà không ai hay, cả ông bếp già điếc, cả chú
Nhân cũng đau hết một lượt, không còn ai lo cơm cháo gì. Nhưng khổ một điều là
không ai khuyên được ngài đi nhà thương, vì ngài nhất định ở lại với nhóm con
chiên nhỏ bé của mình với bất cứ giá nào... (Trong thời gian xây dựng làng cùi
và vận động chính quyền công nhận) Ngài vẫn sốt rét liên lỉ. Ngay khi tổ chức
lễ ra mắt làng cùi xong, ngày 11/4/1929, thì ngài nằm liệt giường, đến nỗi cha
Nicolas phải đem xe từ Đà-lạt xuống bốc ngài đi nằm nhà thương. Nhưng cũng như
bắt cóc bỏ dĩa, vừa hơi mạnh là cha Cassaigne trốn về Di-linh, viện cớ rằng mắc
lo cho bệnh nhân đang nằm ở đó không bỏ được...” [28] Phải đợi đến khi có lệnh của Bề Trên Cả bắt buộc ngài phải
đi chữa bệnh, ngài mới chịu để cho đưa về Sài-gòn, sau đó sang Pháp. Đó là vào
đầu tháng Tư năm 1932. Cha Henri Sion được cử lên Di-linh thay thế ngài. Sau 9
tháng tĩnh dưỡng tại Pháp, ngày 22/02/1933, cha Cassaigne trở lại Sài-gòn. Mười
hôm sau, ngài trở về với đoàn chiên của mình (sau khi cha Sion được bổ nhiệm
làm cha sở Thủ Dầu Một). Nhưng cơn bệnh quái ác vẫn không buông tha ngài:
chỉ hai tháng sau ngày trở về Di-linh, ngài lại lên cơn sốt rét, phải lên nằm
nhà thương Đà-lạt cả nửa tháng mới tạm ổn để bắt đầu làm việc trở lại.
Tuy đau yếu
như thế, nhưng cha Cassaigne luôn cảm thấy như bị thiêu đốt trong lòng bởi tình
thương ngài dành cho người Thượng. “Ngài mê say người Thượng, yêu thương
người Thượng nhiều khi gần như quá trớn, nhất là lúc ngài đã cao niên” [29] . Thật là một ơn đặc biệt Chúa ban cho ngài. Nhưng không phải ngài chỉ
dành sự quan tâm cho người Thượng mà thôi. Đúng hơn, tinh thần truyền giáo nơi
ngài thôi thúc ngài hoạt động cho tất cả mọi người để họ được ơn cứu rỗi, bất
luận là Kinh hay Thượng. Vì thực tế, ngài đã không thành công lắm với người
Thượng trong những năm đầu. Ngoài con người khốn khổ bị bệnh phong cùi giai
đoạn chót mà ngài đã rửa tội vào ngày được giáo phận chúng ta chọn làm khởi
điểm của tám mươi năm truyền giáo cho người dân tộc thiểu số, như đã nói ở đoạn
đầu, thì ngài chỉ có được một tân tòng người bản địa đầu tiên, sau gần ba năm
nỗ lực dành cho người Thượng: dạy dỗ, yêu thương, giúp đỡ, chữa cho lành các
bệnh tật, thậm chí qui tụ lại để cưu mang chăm sóc (trường hợp những người
phong cùi bị dân làng xua đuổi): đó là anh Giu-se K’Brai. Về sự kiện này,
chúng ta đọc được trong cuốn Lạc quan trên miền Thượng những dòng sau
đây: “Cha Cassaigne sung sướng hãnh diện làm báo cáo kết quả truyền giáo lên
Đức Cha Dumortier, vị Giám mục chỉ có một khát vọng là đem ánh sáng Phúc Âm đến
cho mọi kẻ nghèo khó, nhất là đồng bào Thượng trong địa phận mình... Nào ngờ
khi nhận được thư hồi âm của Đức Cha Sài-gòn, cha nôn nao đọc với điệu bộ hí
hởn vui mừng, bỗng dưng mặt ngài tái lại, nét da xanh mét lại càng xanh mét
thêm rõ rệt hơn. Trong thư, Đức Thầy khiển trách nặng nề, cho rằng rửa tội quá
vội vàng, ngài phê rằng: “Thượng mà cho theo đạo có một người, thì chỉ có Chúa
mới biết trước được nó sẽ giữ đạo bền hay không.” Như vậy là Đức Cha gián tiếp
ra lệnh phải cố gắng gấp hai để cho gia đình K’Brai và bà con thân thuộc của
anh ta cũng nhận ánh sáng Phúc Âm để họ nâng đỡ nhau giữ vững đức tin.” [30] Và Chúa đã thêm sức cho nhà truyền giáo để ngài cố gắng
nhiều hơn. Kết quả là vào dịp lễ Giáng Sinh năm đó, cả gia đình anh K’Brai gồm
tám người đã lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy. Rồi nhờ sự trợ giúp của người tân
tòng nhiệt tình và ngoan đạo này, con số người Thượng dự tòng năm 1931 lên đến
98 người [31] .
Trong bản
Phúc trình 1930, Đức Cha Dumortier đã viết những dòng sau đây, như gián tiếp ca
ngợi các hoạt động của nhà truyền giáo: “Ước gì Chúa cho các ngôi nhà thờ và
các trường học của chúng ta luôn trở nên bé nhỏ và bắt buộc chúng ta phải nới
rộng và xây dựng thêm mãi! Nguyện ước này trở nên hiện thực nơi cha Cassaigne:
người bạn của chúng ta đã nối dài nơi phượng tự của mình và còn thấy cần phải
nới rộng hơn nữa. Là vì, bị chinh phục bởi lòng nhiệt thành và tình bác ái của
ngài, người bản địa bắt đầu xin theo đạo. Ngài đã rửa tội và ban phép Thêm sức
cho người tân tòng đầu tiên vào dịp lễ Thánh Giu-se, và nhiều gia đình đang xin
trở lại. Ngoài ra, nhờ sự giúp đỡ của nhà cầm quyền, ngài đã lập một làng cùi. Chính
ngài chăm sóc những con người khốn khổ này, và bằng một sự dạy dỗ vừa tầm của
họ, ngài chuẩn bị cho họ được chết trong tư cách là người tín hữu...” [32]
Khi cha
Cassaigne tạm rời Di-linh để về Pháp chữa bệnh vào ngày 02/4/1932, họ đạo
Di-linh của ngài, năm năm sau ngày thành lập, đã trở nên lớn mạnh một cách đáng
kể: số giáo dân từ 5 người lúc đầu nay lên 109 người, gồm 60 người Việt, 31
người Pháp và 18 người Thượng; ngoài ra còn có 98 dự tòng. [33]
Đến lần thứ
hai tạm rời Di-linh để nhận sứ mạng cao cả là làm Giám mục Giáo phận Sài-gòn,
kế nhiệm Đức Cha Dumortier qua đời ngày 16/01/1940, “sau 14 năm lãnh đạo xứ
Di-linh, từ 1927 đến 1941, cha Cassaigne đã gầy dựng cho vùng này một địa vị
đáng kể trong cộng đồng Hội Thánh“ [34] : ngoài họ đạo Di-linh đã có nhà thờ hẳn hoi, với số giáo dân là 367
người (134 Kinh, 218 Thượng, 15 Pháp), chưa kể 78 giáo dân Thượng ở làng cùi và
133 dự tòng, phải kể thêm họ nhánh Bắc-hội được ngài thành lập năm 1928, họ
nhánh Xuân-trường (Cầu Đất), họ nhánh Công-hinh (Bảo-lộc), cả hai nơi được ngài
thành lập năm 1936, có cha phó Phê-rô Nguyễn Vĩnh Tiên phụ tá cho ngài từ năm
1934.
Trong bài
tham luận Truyền giáo ở Đà-lạt đã được nói đến ở phần trên, Đức Cha
Giu-se Võ Đức Minh đã viết: “Bước đường truyền giáo của cha Cassaigne thật
là lạ lùng... (Ngài) đã mở ra cánh đồng truyền giáo trên vùng cao nguyên
Đà-lạt, Di-linh, Bảo-lộc. Chúng ta thật ngỡ ngàng khi thấy một con người như
thế được sai đến vùng đất mà hầu như chưa ai biết Tin Mừng của Chúa, để rồi sau
đó mở mang đạo thánh Chúa không những ở vùng Di-linh, Ka-la, mà còn lan rộng
đến Bắc-hội ở vùng Fimnom, lên tới Xuân-trường, nay là giáo xứ Cầu-dất, trải
dài đến Công-hinh, tức giáo xứ Bảo-lộc ngày nay... Ngài đúng là “Ông Tổ các vị
Thừa sai truyền giáo Thượng đầu tiên Đà-lạt”, như lời của Đức Cha Ximong-Hòa
Nguyễn Văn Hiền.”
Vào đầu năm
nay, 2007, giáo xứ Di-linh kỷ niệm tám mươi năm thành lập giáo xứ. Một tập kỷ
yếu nhỏ được biên soạn để đánh dấu sự kiện này. Tập kỷ yếu đó cho biết “Cha
Cassaigne đã đi đến rất nhiều làng của người bản địa để truyền giáo. Nếu lần
theo sổ Rửa tội của giáo xứ Di-linh từ năm 1927 đến ngày 13/5/1941, là ngày
ngài rời Di-linh để nhận chức Giám mục Giáo phận Sài-gòn, cha Cassaigne đã rửa
tội cho 280 người dân tộc thuộc 82 làng khác nhau (tiếp theo là danh sách của
82 làng của người bản địa). 82 làng dân tộc có mặt rộng khắp trên phần đất của
tỉnh Lâm-đồng hiện nay – từ Đà-lạt qua Ryôngto, Đơn-dương, Di-linh, Bảo-lộc, có
một số địa danh hiện nay không thuộc tỉnh Lâm-đồng nữa.” [35]
Đến đây, ta
có thể nói cha Cassaigne đã hoàn tất sứ mạng truyền giáo mà ngài đã được giao
phó. Đó cũng là uớc nguyện mà ngài đã ấp ủ khi gia nhập Hội Truyền Giáo Paris. Nhưng
tâm hồn đầy ắp tình thương của ngài đối với các linh hồn còn đưa ngài đi xa
hơn, đi đến với những con người bị xã hội ruồng bỏ, bị gia đình và bản làng xua
đuổi, những con người ngài gặp sống vất vưởng trong rừng, trần truồng, đói
khát, lở loét, thối tha... Và ngài đã chọn phục vụ hạng người này. Vì vậy danh
hiệu đúng nhất dành cho ngài phải là “Tông đồ của người phong cùi”.
Trong lá thư
của Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục Giáo phận Đà-lạt, gửi cha
Giu-se Phùng Thanh Quang, đề ngày 22/02/1973, để chuẩn nhận và giới thiệu cuốn
sách đã được trích dẫn nhiều lần ở các phần trên – Lạc quan trên miền Thượng
– có đoạn viết:
“Năm 1965,
trong khóa IV Công Đồng Va-ti-ca-nô II, nhiều Nghị phụ trầm trồ ca tụng cử chỉ
cao đẹp của Đức Hồng y Léger, Tổng Giám mục Montréal (Canada), sắp xin từ chức,
sang giúp người cùi ở Phi-châu. Tôi khiêm tốn đáp thưa: Bên Việt-nam chúng tôi,
đã mười năm nay, có một vị Giám mục đang làm cha xứ, giám đốc và y tá một trại
cùi ở địa phận Đà-lạt chúng tôi. Các Nghị phụ bỡ ngỡ, vì một biến cố như vậy,
mà không mấy ai hay biết.” [36]
Tháng
10/1929, cha Cassaigne đã viết một bản tường trình trong đó có đoạn nói về
trường hợp của những người phong cùi như sau: “Nhà truyền giáo vĩ đại Giê-su
đã làm gì trong cuộc đời trần thế của Người? Người rao giảng Nước Thiên Chúa,
bằng Bác Ái và Yêu Thương; Người lôi kéo các trẻ nhỏ đến với Người và Người
chữa lành các bệnh nhân, nhất là những người phong cùi. Nơi người bản địa, hạng
người này thì đông lắm; họ bị bỏ mặc với nổi thống khổ của họ, và khi họ không
còn đi đứng, hay lao động được nữa, vì chân tay của họ đã bị thối rửa, họ chỉ
còn chết đói. Xin cho phép tôi kể một ví dụ. Trong số những con người bị bỏ rơi
đó, có một anh chàng ở cách chỗ tôi khá xa, anh ta thường đến nhận phần gạo và
cá khô của anh một cách đều đặn. Vì anh đi lại quá khó khăn, tôi nhờ người ta
dựng cho anh một cái lều tranh bên cạnh nhà tôi ở; anh ta ở lại đó một đêm
trước khi trở về làng... Đến mùa nóng bức, cũng là mùa có những cơn sốt rét
cao, người cung cấp lương thực, trong suốt ba tuần lễ, không rời nhà được mà
phải nằm li bì vì cơn bệnh quái ác hành hạ. Phần người được cung cấp lương
thực, vì không còn đi lại được, nên không đến. Lo lắng vì sự vắng mặt kéo dài
này, và lợi dụng một lúc hạ sốt, tôi lên đường đi tìm con chiên khốn khổ của
tôi. Đến nơi, tôi không thấy anh ta trong căn lều tồi tàn trống hoác của anh,
và người làng cho tôi biết anh đã chết được bốn ngày; vì không có cha mẹ, không
có con cái, nên chẳng ai lo cho anh ta ăn uống, và anh đã chết mà không nhận
được phép rửa tội, trong khi anh đã sẵn sàng. Lòng nặng trĩu, nhà truyền giáo
trở về nhà, đau đớn không phải vì cơn sốt rét hành hạ mà vì đã để hụt một linh
hồn... Ở Trung bộ cũng như ở Nam bộ, và hầu như khắp vùng Đông Á, có những làng
cùi nơi đó bệnh nhân phong cùi được đón nhận và được chăm sóc; nhưng nơi xứ
thượng này, chưa ai làm gì cho họ cả. Mà họ thì đông vô kể; mỗi làng đều có năm
ba người; họ sống với gia đình bao lâu còn có thể làm việc được; nhưng rồi mau
chóng bị loại trừ khi họ trở thành một miệng ăn vô ích và một vật ghê tởm... Tôi
ao ước được qui tụ tất cả những con người khốn khổ đó trong một ngôi làng chỉ
dành cho người phong cùi mà thôi, để có thể lúc nào cũng có họ bên mình, chăm
sóc cho họ dễ dàng hơn, dạy dỗ họ đều đặn hơn và nhất là để không một linh hồn
bất hạnh nào đi vào thế giới bên kia mà không mang theo cái thẻ vào thiên
đàng... Bạn đọc thân mến, xin hãy giúp vị thừa sai trẻ chữa lành ít nữa là linh
hồn của những người phong cùi bất hạnh của ngài!” [37]
Chính cha
Cassaigne đã thuật lại việc hình thành làng cùi như thế nào, trong bản tường
trình tháng 10/1937: “Khoảng cuối năm 1928, trong một chuyến đi qua rừng,
nhà truyền giáo tình cờ gặp một đám người phong cùi đã bị đuổi ra khỏi làng và
đang náu ẩn trong một góc rừng. Họ không khiếp sợ khi thấy nhà truyền giáo;
trái lại họ đã kêu lên với ngài tiếng kêu đã vang lên trên các nẻo đường xứ
Ga-li-lê khi Thầy Chí Thánh tiến đến gần họ: “Cha ơi, xin thương xót chúng
tôi!” Sau khi được trao đổi ý kiến, nhà cầm quyền Pháp đề nghị tài trợ; còn nhà
truyền giáo thì đóng góp các khả năng chữa bệnh mà ngài đã thu thập được trong
trận đại chiến, cùng với tấm lòng nhiệt thành của mình. Công việc được thỏa
thuận. Việc sắp đặt diễn ra nhanh chóng và, ngày 11/4/1929, 21 bệnh nhân – ôi
những bệnh nhân khốn khổ! mình đầy vết thương, dơ bẩn, đói khát và sợ sệt – trở
thành chủ nhân của căn nhà tồi tàn này. Họ kinh ngạc khi thấy Ông Cha phân phát
cho mỗi người mền, chiếu, quần áo mới và một phần ăn quá ư đầy đủ; họ không thể
tin rằng tất cả những thứ đó là cho họ; vài người còn từ chối; họ sợ và tự hỏi
tại sai người ta cho họ nhiều thứ như vậy. Người ta sẽ đòi lại cái gì đây?...
Nhưng sự do dự của họ không kéo dài: vài ngày sau, một nhóm người phong cùi
khác xuất hiện trong tình cảnh tương tự như nhóm trước... Số bệnh nhân tăng
dần: từ năm 1935, con số đó vượt lên trên một trăm.” [38]
Và làng cùi
đã được hình thành như thế. Vị trí của làng nằm cách nhà xứ Di-linh khoảng trên
dưới một cây số. Điểm đặc biệt của làng cùi này được Đức Cha Gioan Cassaigne mô
tả trong một bài nói chuyện của ngài tại Sài-gòn ngày 03/01/1943, và được cha
Giu-se Phùng Thanh Quang trích dịch trong cuốn sách của ngài: “Làng cùi
Di-linh không phải là một nhà thương, cũng không phải là khu biệt cấm dành
riêng cho bệnh nhân truyền nhiễm với những luật lệ nghiêm khắc. Đây là một ngôi
làng với dân cư được chọn lọc kỹ, một vùng đất sống của người Thượng phong cùi.
Làng Thượng này có tổ chức chu đáo, có nhà rộng, có phòng phát thuốc, phòng
chiếu phim và nhà thờ hẳn hoi. Cũng có công viên, có đường sá được tu bổ giữ
gìn kỹ lưỡng. Trưởng làng là một ông Thượng phong cùi; ông ta đứng ra lo an
ninh trật tự cho ngôi làng nhỏ bé đó. Nhà cửa được cất theo kiểu người Thượng,
nghĩa là nhà sàn, lợp tranh, cất riêng nhau thành nhiều chòi nhỏ, mỗi chòi chứa
vài bệnh nhân đã được tự do lựa chọn nhau để sống chung cho vui vẻ... Trong
làng này, người phong cùi sớm tối có nhau, được săn sóc, được an ủi, được nuôi
dưỡng tử tế, tránh được những hiểm nguy của kiếp sống cô đơn nơi rừng vắng... Người
cùng cảnh ngộ, cùng một mối ưu tư lo nghĩ về số kiếp bạc bẽo, thường sống với
nhau rất thuận thảo. [39]
Như lời Đức
Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền đã nói trên đây, tại làng cùi Di-linh, người
điều hành tổng quát, người chăm lo đời sống tinh thần, người lo nuôi sống thể
xác và băng bó các vết thương cho bệnh nhân cũng chỉ là một: cha Gioan Cassaigne.
Hằng tuần, ngài đến làng cùi ba lần để chữa bệnh và phát thuốc. Những người
bệnh nặng không tới phòng phát thuốc được thì được ngài đến chăm sóc tại chòi
của họ. Và mỗi tuần một lần, vào ngày thứ bảy, ngài đến phân phát lương thực
cho dân làng: gạo, cá khô, muối, thuốc hút. Từ tháng 9/1937 [40] , có các chị Nữ Tử Bác Ái đến tiếp tay với ngài, một nữ tu người Pháp và
hai nữ tu người Việt. Như những người mẹ, các chị sẽ cúi xuống trên những vết
thương của những người con bản địa khốn khổ, còn người cha thì chuyên lo chữa
các vết thương linh hồn và lo cái ăn cho thân xác của họ. [41]
Trong lời
kết của bản tường trình tháng 10/1937, cha Cassaigne đã viết: “Người đàn bà
phong cùi đầu tiên, về thiên đàng cách đây mười năm, đã giữ lời hứa. Còn tôi
thì tin vào sự Các Thánh Thông Công.” [42]
Năm 1948,
những cơ sở đã được xây dựng hai mươi năm về trước nay xuống cấp trầm trọng,
gần đến chỗ đổ nát. Hơn nữa, vì sự phát triển của Di-linh, việc đi lại giữa các
buôn làng vùng Ka-la và Di-linh ngày càng nhộn nhịp; mà làng cùi lại nằm trên
con đường giao thông giữa hai khu vực, nên việc đi băng qua làng là điều bắt
buộc. Những lý do đó, kèm thêm môi trường độc hại trong đó các bệnh nhân phong
cùi đang sinh sống, đòi hỏi phải tái thiết làng cùi tại một địa điểm mới, cao
ráo, thoáng mát hơn.
Tháng Giêng
năm 1952, công việc tái thiết được khởi sự. Địa điểm mới không cách làng cũ bao
nhiêu; đó là ngọn đồi nằm ở ngã ba đường đi Ka-la và đường đi Phan-thiết như ta
thấy ngày nay. Nhờ sự yểm trợ đến từ nhiều phía, công trình tái thiết chỉ kéo
dài trong không đầy năm tháng. Ngày 22/5/1952, nhằm lễ Thăng Thiên, Đức Cha
Cassaigne làm phép và khánh thành làng cùi mới, gồm có các cơ sở được xây dựng
kiên cố: ngôi nhà nguyện nhỏ nhưng xinh xắn, với bàn thờ và bàn rước lễ bằng gỗ
nguyên khối được chạm trỗ theo phong cách bản địa, các cửa sổ được ráp kính màu
với ảnh của các chặng đàng Thánh Giá; xa hơn một tí là ngôi nhà dành cho cộng
đoàn nữ tu; có phòng phát thuốc với tủ thuốc, phòng thí nghiệm được trang bị
hiện đại, và phòng chăm sóc bệnh nhân; sau cùng, hơi thấp phía dưới là 16 nhà
chòi được xây theo kiểu nhà sàn bản địa, mái tranh, tường gạch, nơi đó, khoảng
một trăm bệnh nhân phong cùi, mà hai phần ba trong họ đã được rửa tội, tìm lại
được khung cảnh gia đình của họ. [43]
Và chúng ta
đã biết, ngày 24/02/1941, cha Cassaigne nhận được quyết định bổ nhiệm ngài làm
người kế vị Đức Cha Dumortier (qua đời ngày 16/02/1940). Bốn tháng sau, ngài
rời Di-linh đi nhận nhiệm vụ mới tại Sài-gòn. Cha phó Gioan Chauvel, sau đó là
cha Emile Grelier... [44]
thay ngài coi sóc họ đạo Di-linh và làng cùi; riêng việc thuốc men và chăm lo
đời sống vật chất cho bệnh nhận phong cùi thì đã có các chị Nữ Tử Bác Ái đảm
trách. Các cha làm việc tại điểm truyền giáo Ka-la cũng thường đến dâng thánh
lễ và ban các Bí tích tại làng cùi, đó là cha Chauvel, rồi đến cha Jacques
Dournes, cha Emile Grelier, cha Rubat du Mérac [45]
. Năm 1955, Đức Cha Cassaigne được Tòa Thánh cho từ chức, ngài về lại Di-linh,
nơi ngài đã coi như quê hương của ngài, về lại giữa những người Thượng mà ngài
coi như “núm ruột” của ngài.
Bản tin MEP
tháng giêng 1956 đưa các tin sau đây về những ngày cuối cùng của Đức Cha Gioan
Cassaigne tại Tòa Giám mục Sài-gòn:
Từ đầu năm
1947, sức khỏe của Đức Cha Cassaigne xấu đi rõ rệt. Thêm vào bệnh sốt rét cũ,
và chứng suy gan của ngài, là sự giảm chất vôi cột sống rất đau đớn; và trên
tất cả còn có một mối đe dọa: năm 1943, người ta đã tìm thấy trong cơ thể của
ngài “vi trùng Hansen”.
Ngày
19/12/1954, kỷ niệm giáp năm thụ phong linh mục của ngài, Đức Cha khám phá trên
cẳng tay, hơi xa cổ tay một chút, một vết màu hồng. Ngài lấy kim chích vào chỗ
da đó thì không cảm thấy đau đớn gì cả, và cái vết kia ngày càng lan rộng ra.
Ngày
24/02/1955. Đức Cha đi gặp các bác sĩ thuộc viện Pasteur Sài-gòn. Kết quả xét
nghiệm là: phong cùi dạng lao thần kinh! Nhưng các bác sĩ nói thêm: “Ngài đừng
thay đổi gì trong các hoạt động và thói quen của ngài. Bệnh của ngài không
lây!” Họ áp dụng cho ngài một cách điều trị có nguy cơ làm giảm hồng huyết cầu
trong cơ thể.
Ngày
05/3/1955, Đức Cha Cassaigne viết thư cho Đức Cha Lemaire, Bề trên Cả Hội Thừa
sai Paris để xin phép gửi lên Tòa Thánh đơn từ chức Đại diện Tông tòa Sài-gòn
và về hưu tại làng cùi Di-linh.
Ngày
15/7/1955, sau nhiều lần nằm điều trị tại nhà thương Grall, Đức Cha Cassaigne viết
thư cho Đức Cha Dooley, Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông dương, để xin từ nhiệm và về
hưu tại làng cùi Di-linh, tại đó ngài còn có thể phục vụ và tự chữa bệnh, mà
“không làm phiền ai và cũng không trở nên gánh nặng cho ai.”
Thứ Hai,
10/10/1955 (áp lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa), lúc 4 giờ chiều, Đức Cha Cassaigne
thân tình thổ lộ cho cha Phát, quản lý của ngài: “Từ giờ phút này, tôi không
còn là Giám mục của cha nữa... Chúng ta chấm dứt làm chủ Tòa Giám Mục này! Cố
gắng đừng làm gì bậy nữa.” Chắc ngài mới nhận được tin Rô-ma chấp thuận đơn từ
chức của ngài.
Cuối tháng
10/1955, Đức Cha Cassaigne trao vào tay Đức Cha Nguyễn Văn Hiền, người kế vị
của ngài, quyền Đại diện Tông tòa Sài-gòn.