PHẦN II

 

HOẠT ĐỘNG TÔNG ĐỒ

 

Sau năm ngày trọ ở nhà quản lý Hội Thừa Sai tại Sàigòn, cha Cassaigne được gởi xuống Cái-mơn ở với cha Delignon để học tiếng Việt.

 

Nhưng công việc học tập chưa đầy năm tháng thì Đức Cha Du Mortier, Giám Mục địa phận, gửi thư kêu ngài cấp tốc trở về Saigòn để lãnh một nhiệm vụ đặc biệt : Làm Cha Sở một thí điểm truyền giáo trên miền cao nguyên Trung Phần Việt Nam, một miền mà dân cư toàn là người thiểu số Thượng và chưa ai có đạo cả. Tên thí điểm ấy là DJIRING.

 

 

CHƯƠNG I

 

ĐỊA DANH DI-LINH

 

I. TỪ DJIRING ĐẾN DI-LINH.

 

DJIRING : Cái tên nghe lạ tai làm sao ấy ! Nó là cái xứ nào ?

 

Djiring là một đơn vị hành chánh, nhà cầm quyền Pháp lập ra vào năm 1899 trên vùng cao nguyên hoàn toàn là dân Thượng. Đơn vị hành chánh này nặng về sắc thái chiến lược hơn là về phương diện kinh tế và xã hội. Thời ấy người ta khai sinh ra nó là cốt để yểm trợ chương trình phát triển Trung Tâm Dưỡng Sức Lâm Viên, tức Đalạt ngày nay.

 

Tại sao có tên Djiring ? Dùng hai vần “DJ” để phiên âm “NõDJ” là lối viết của người Thượng Rhadé Ban-Mê-thuột, không phải là lối phiên âm của người Thượng Kơho vùng Dilinh.

 

Có người nói đó là tên một vị chủ làng thời xưa đã có công thành lập ra buôn Thượng này.

 

Có người nói tên Djiring có dụng ý ám chỉ sáp ong (Jrềng), vì vùng này ong rừng rất nhiều. Những dân phu Thượng bị bắt làm phu vận chuyển vật liệu xây cất cơ sở hành chánh đầu tiên ở đây, hoặc làm đường cho sở lục lộ, đã nán níu ở lại lập làng, lúc đầu họ sinh sống bằng nghề lấy mật ong rừng, nên người ta gọi họ là Jrềng, rồi viết sai là Djiring.

 

Có người nói đó là tên một loại cây sồi mọc đầy trên vùng Dilinh, gọi là cây “Njrêng”. Đó là một loại cây dẽo dai dễ uốn, nên người Thượng dùng nó vào nhiều việc như : làm răng nĩa để gom rơm rạ, hoặc chẻ mỏng nhỏ ra để đan phần niền chân gùi (một thứ giỏ mây người Thượng đeo sau lưng) để cho cái gùi được đứng thẳng mỗi khi đặt nó xuống đất.

 

Địa danh Djiring đến năm 1958 được chính phủ Ngô Đình Diệm cho đổi thành Dilinh cùng một trật với các địa danh Bảo Lộc, Đơn Dương, Liên Khương thay cho tên cũ Blao, Dran, Liên Khang.

 

Dilinh là một vùng đất thuộc cao nguyên Trung Phần có tên là cao nguyên Dilinh.

 

Cao nguyên Dilinh.

 

Cao nguyên Dilinh nằm về phía Tây Nam dãy Trường Sơn, hình thể của nó chỗ lồi chỗ lõm không đều, bị cắt thành nhiều thung lũng sâu và nhiều dốc đứng.

 

Vùng cao nguyên này chiếm từ chân đèo Bảo Lộc đến sông Đa-nim gần thác Gougah.

 

Địa thế đất đai nhiều chỗ bị xói mòn, do mưa chảy xiết và do đất chùi. Những vùng không bị xói mòn thường bằng phẳng nhưng diện tích không được bao nhiêu.

 

Cao độ Dilinh là 1000 mét, đang khi đó Đalạt 1500 mét và Bảo Lộc là 850 mét, triền dốc đổ dài từ Đông sang Tây.

 

Vị trí này cách xa biển độ 60 cây số theo đường chim bay.

 

Đây là một vùng đồi núi phì nhiêu, nhờ hiện tượng địa xát (Plissements Terriens) ở dãy Trường Sơn mà phát hiện. Đất đai ở đây được cấu tạo do biến thể của đá huyền vũ (Basaltes) do núi lửa phun ra, vì thấm chất thán khí lâu đời mà mủn làm thành một thứ đất màu đỏ (Latosols rouges). Đất này được pha lẫn với sa thạch (Grès) do hỏa diệm sơn phun lên từ thời đệ tam nguyên đại, tạo nên một lớp màu mỡ sắc đỏ thẩm đồng đều (Đất huyền vũ – basaltes – khi có trắc diện sâu, thủy cấp sâu được nhiều đất sét mà nước thấm xuống dễ dàng  - có nhiều Fe2 O3 – thì đất ửng ra màu đỏ, còn nếu thủy cấp cạn thì đất ửng ra màu xám đen), rất thích hợp cho việc trồng các loại cây kỹ nghệ như : trà, càphê, sơn … để sản xuất đại quy mô. Trên triền dốc, khi mà cây cối bên trên bị chặt phá trơ trụi, thì lớp đất đỏ thẫm màu mỡ này dần dần khô cứng lại thành thứ đất đá ong (Latériste) màu nâu, khô khan nghèo nàn chỉ còn trồng được những loại có rễ sâu như mít mà thôi.

 

Dưới các thung lũng, vào mùa mưa, nước lũ đưa xuống một lớp phù sa phong phú thích hợp cho việc trồng lúa và các hoa màu phụ.

 

Đất đai trên cao nguyên Dilinh này tương đối tốt, tuy độ chua hơi cao (ph : 4,5 – 5) nhưng chưa được khai thác đúng mức.

 

Người Thượng ở đây chỉ biết canh tác về lúa và vài loại hoa màu phụ lặt vặt như bắp, bầu bí, khoai, đậu … những hoa lợi thu vào không được bao nhiêu vì cao nguyên tuy mưa nhiều song mặt đất gồ ghề không giữ nước được, mà lúa là loại hoa màu cần nhiều nước.

 

Khí hậu Dilinh trung bình không nóng lắm, không lạnh lắm, nhiệt độ trung bình khoảng 2008, và thường thay đổi đúng mùa trong năm nên cây cối ít bị ảnh hưởng. Thường thường vào tháng Năm, tháng Đức Mẹ, kể là nóng nhất nhưng cũng chỉ đến 2207 là cùng, ít khi hơn. Lạnh nhất vào tháng Giêng, mức lạnh thường xuống thấp đến 1807  (Thero Địa Phương chí Lâm Đồng 1973, nhiệt độ tối đa và tối thiểu trong thập niên 60 là : - Tối đa 330 vào tháng 4 năm 1964 ; Tối thiểu 405 vào tháng 2 năm 1963). Tuy nhiên những áp lực không khí thường sinh ra gió ở miền Trung Việt này xê dịch luôn nên nhiều khi đang mùa đông lạnh lẽo lại có vài ngày rất nóng vì gió nồm nóng ấm từ biển thổi vào thay thế cho gió bắc lạnh lẽo.

 

Quang độ suốt ngày (Insolation) trung bình khoảng 4g34. Trời thường trong sáng vào gần trưa, nhưng sau trưa, nhất là vào tháng Hai, tháng Ba, mây xám ảm đạm, cảnh vật đượm vẻ buồn buồn và uể oải.

 

Cũng như các nơi khác trong nước Việt Nam là xứ có gió mùa và biển động, nên trong năm có hai mùa rõ rệt.

 

a. Mùa khô hợp lúc với gió mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4, mùa này gió bắc khô khan, vận tốc trung bình từ 8 – 9 cây số giờ, thổi từ Đông Bắc xuống Tây Nam, mang theo làn khí lạnh lẽo. Mùa khô cảnh vật đều khô cháy vì đất triền gồ ghề không giữ nước được. Cuộc sinh hoạt làm ăn lúc này có vẻ eo hẹp ngoại trừ nhà vườn cà phê. Mùa khô này cũng là mùa hay sinh bịnh sốt rét nhiều nhất.

 

b. Mùa mưa hợp lúc với gió mùa hạ, bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, đây là mùa gió nồm, vận tốc trung bình là 12 cây số giờ, từ biển thổi vào lục địa theo hướng Tây Nam qua Đông Bắc mang theo mưa. Trong tháng mưa thì ở đây mưa rất nhiều.

 

Vũ lượng turng bình là 2600 đến 2700 ly mét. Số ngày mưa thường là 160 ngày. Những tháng 7, 8, 9 kể là mưa nhiều nhất, có khi mưa cả tuần lễ liên tục. Vì thế ẩm độ tương đối khá cao, sương mù có rất thường, và hễ quang độ càng bị giảm thì ẩm độ lại càng gia tăng. Trong mùa khô, ẩm độ tối thiểu là 20%, nhưng vào mùa mưa thì ẩm độ lên đến 90 có khi 100%. Bởi đó sình lầy khắp nơi, cây cối hay lên bệnh nấm, đồ đạc trong nhà thì ẩm ướt mốc meo dễ bị mục nát và trở thành mồi ngon cho lũ mối gậm phá.

 

Nguồn lợi thiên nhiên.

 

Nằm cạnh dãy núi Brah-Yang (1874 thước), núi Yang Doan (1812 thước) và núi Pantar (1654 thước). Dilinh xưa kia là vùng có nhiều rừng rậm ướt át. Rừng trùm lên cả những ngọn núi cao như một bồn chứa nước khổng lồ thu giữ nước mưa làm cho khối đất cao nguyên luôn luôn ẩm ướt để suốt năm rỉ ra dần dần hầu tăng cường lưu lượng cho sông ngòi, cho hồ giếng khỏi bị cạn trong mùa khô.

 

Ngày nay vì tình trạng chiến tranh, việc kiểm soát lâm sản lỏng lẻo, người dân vô ý thức phá rừng lấy gỗ nhiều khi bừa bãi, nhất là nạn đốt rừng làm rẫy khiến cho núi đồi trơ trọi. Các giống gỗ quý như cẩm lai, dầu đỏ, dầu lông, trắc, sao, sến, gõ … xưa kia rất nhiều, bây giờ ngày càng hiếm.

 

Lại nữa núi đồi không cây cối sẽ bị nước lũ xói mòn, lớp mầu mỡ trôi đi, hoặc bị đá ong hóa trở thành cằn cỗi, thoái bộ dần dần không còn trồng trọt gì được nữa, sau này có muốn gây dựng lại cũng phải tốn kém rất nhiều.

 

Hiện giờ những khu đất bị đốt phá rồi bỏ đi ấy trở thành hoang địa, tre rừng, cỏ tranh, lau sậy, nhất là những loại thảo dã có chùm hạt phủ lông mịn, lúc trời khô nương theo gió gieo rắc đi rất xa và chiếm khắp đồi núi rất chóng, ăn phá màu mỡ của đất, lại dễ làm mồi cho lửa trong mùa khô chớ không sinh ích lợi gì.

 

Rừng thưa ban đầu còn dây leo chằng chịt, gai góc cỏ tranh cao phủ đầu người, nhưng khi lớp ấy rụi xuống thì đến lượt cỏ thấp hơn xâm chiếm, thế là đất dần dần trơ trụi, sức tẩm nước mất dần, trở nên khô chai cằn cỗi không  còn cây cối gì nữa. Thật là tai hại cho cao nguyên vậy.

 

Cao nguyên Dilinh xưa kia cũng là một trong những vùng săn bắn lý tưởng nhất Việt Nam, nhất là các cuộc săn bắn lớn.

 

Trước năm 1930 khi chưa có quốc lộ 20, vùng này rất ít người lai vãng nên thú rừng rất dạn. Voi, bò rừng, min, nai, hươu, đỏ rất nhiều, nhưng cọp beo cũng không ít và gây rất nhiều tai hại cho đồng bào sinh sống ở đây.

 

Đến năm 1957, một nhóm người Thượng dùng thuyền độc mộc đi săn trên khúc sống Đa-Dung còn thấy xuất hiện một con tê giác có lẽ từ bên đất Lào chạy lạc qua, họ bèn phóng lao đuổi theo, con vật tuy bị thương những cũng đã bơi được qua sông Đa-Dung và biến mất vào rừng rậm và từ đó không còn thấy nó trở lại nữa (Trích Địa phương chí Lâm Đồng1973, trang 9).

 

Những thắng cảnh.

 

Dilinh cũng có những cảnh đẹp hùng vĩ như đèo Da-Trum (cao 1235 thước) ở 15 cây số về hướng Nam và đèo Yan-Kar (cao 1017 thước) cách quận Dilinh 19 cây số về hướng Đông Nam. Từ đèo Yan-Kar có thể nhìn về Phan Thiết và thấy biển Nam Hải.

 

Dilinh cũng có thác nước đẹp như thác Bobla (cách thị xã 6 cây số về hướng Nam) tại cây số 213 xa mặt quốc lộ 300 thước. Thác này cũng có sức nước đổ khá mạnh từ độ cao 30 thước rót xuống có thể sử dụng vào việc chế biến điện lực được.

 

II. SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC.

 

Thời vương quốc Chàm.

 

Từ đầu thế kỷ XI đến khi có cuộc Nam tiến của nhà Hậu Lê, cao nguyên miền Nam là cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa Phù Nam và vương quốc Chàm.

 

Cuối thế kỷ thứ XIII, vua Chế Mân (Simhavarman III), vị cua Chàm đã kết thân với vua Trần Anh Tôn để cưới Huyền Trân Công Chúa (1306), nhờ thế lực hưng thịnh đã mở mang bờ cõi vương quốc Chàm lên tới cao nguyên Dilinh và xâm chiếm địa hạt này cho đến vùng cây số 16, tức xã Đinh Trang Hạ bây giờ. Các bộ lạc Thượng như  Srê, Cill, Rơglai… ở đây bị đặt dưới quyền thống trị của người Chàm, nên hàng năm phải đem lễ vật như ngà voi, lộc nhung, sáp, mật ong, trầm hương, gỗ quý… xuống Phan Rang để triều cống vua Chàm (Trích Địa phương chí Lâm Đồng 1973, trang 5).

 

Năm 1470, trong cuộc “Nam tiến bình Chiêm” vua Lê Thánh Tôn chiến thắng quân Chàm, sát nhập Đồ Bàn Đại Chiêm, Cổ Luy thành đạo Quảng Nam, thì quân Chàm phần lớn rút lên cao nguyên rừng rú và quy tụ các sắc dân Thượng trực thuộc họ để kháng chiến. Nhưng thất bại, họ bèn tìm cách liên minh với bộ lạc Mạa (vùng Bảo Lộc), một bộ lạc trong quá khứ đã làm chùn bước quân xâm lăng về hướng đông của Khmer, để kiếm thêm vây cánh.

 

Truyền thuyết của người Mạa diễn rằng : Người Prum (Chàm) mở hội trên đất bộ lạc Srê (Dilinh thuộc Chàm) và mời các tù trưởng Mạa đến dự, đại điểm ấy là đồi Ddor Nroa, một quả đồi trọc cạnh làng Njanda-Riam.

 

Các tù trưởng Mạa, vai đeo mác chiến, tay cầm giáo trận oai phong lẫm liệt ngồi xổm trên các khúc tre mỡ to có tên là “Rlá” do thuộc hạ từ vùng đất Mạa mang tới và thảo luận rất hăng. Người Mạa nhận hợp tác phần nào nhưng tạm thời thôi, với điều kiện là người Chàm không được xâm lăng qua hướng Đông và Đông Bắc, nghĩa là suốt vùng đất Mạa nằm trên thượng lưu sông Da Rnga. Người Chàm chấp nhận và hai bên đồng ý lấy lùm tre ven sườn đồi làm di chứng. Từ đó lùm tre này được gọi là”Ddor-Korla-Nroa”, rừng tre thần thánh đã cứu đất Mạa khỏi nạn ngoại xâm, và vì không ai dám động đến nên nay nó đã hoá thành rừng tre rậm.

 

Trong thời kỳ bị Chàm đô hộ này bộ lạc Srê vùng Di Linh cũng lắm khi nổi lên khởi nghĩa chống quân Chàm. Họ còn thuật lai việc nhà cách mạng Thượng tên là LENG-LER thuộc bộ lạc Srê đã dấy binh đánh đuổi quân Chàm nhưng thua trận và bị thương tích nặng phải trốn vào rừng sâu rồi biệt tích luôn. Hiện nay chỉ còn lưu lại chiếc gươm còn dính máu để tại buôn Konyam Dariam vùng Đinh-Trang-Hạ (cây số 16).

 

Thời Triều-đình Việt-Nam.

 

Đến năm 1786, khi quân Tây-Sơn khởi nghĩa trấn giữ tỉnh Binh Thuận thì con cháu nhà cách mạng LENG-LER đã liên kết với quân Tây Sơn đánh đuổi quân Chàm ra khỏi vùng đất của các bộ lạc Thượng, và từ đó giải toả vùng Di Linh khỏi bị Chàm đô hộ và các bộ lạc vùng này sau đó trở thành “Thuộc Mán” của triều  đình Việt Nam. Chính quyền trung ương vẫn tôn trọng quyền tự quyết của các địa phương này, và chỉ hành xử quyền giám hộ mà thôi. Các tù trưởng của đồng bào Thượng nắm việc lãnh đạo trực tiếp đồng bào mình và được coi như là những đại diện thay mặt trung ương để trị dân. Họ thu thuế, nộp cống đều đều hằng năm cho trung ương qua các vị Thông Dịch ở Phan Rí (Bình Thuận).

 

Thời Pháp thuộc

 

Chính phủ thuộc địa Pháp sau khi chiếm cứ Việt Nam đã bắt đầu xâm nhập vào vùng Cao Nguyên Việt Nam năm 1850. Nhưng mãi đến năm 1899 vùng đất Cao Nguyên Lâm Viên và Di Linh vẫn cứ nguyên cựu chưa có gì thay đổi.

 

Người Thượng trên vùng này mỗi khi có việc về sưu, xâu, tố tụng vẫn cứ xuống Phan Rí để liên lạc với các quan triều ta.

 

Tuy nhiên cuộc tiếp xúc với nền văn minh Âu tây vùng này đã khởi sự có từ 1885 qua các Linh Mục Thừa sai.

 

Giáo sĩ Thừa sai thoáng qua vùng này đầu tiên có lẽ là Cha Gonzague Villaume, vị Linh mục mà Bác sĩ Yersin có nói đến trong bài báo Indochine số 99 năm 1942 “Cuộc tiếp xúc đầu tiên với xứ Mọi Annam”

Cha Villaume, thường gọi là cố Đề, một Linh mục Thừa sai trẻ vừa 24 tuổi, được phái đến Phan Rang năm 1882 để coi sóc một giáo sở Việt Nam độ 2.000 giáo dân sống rải rác trên một địa bàn rộng, bao gồm cả tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay. Vùng Phan Rí và Phan Thiết trong tỉnh Bình Thuận có độ 700 bổn đạo, ngài nhờ cha phó An coi sóc. Còn vùng Phan Rang (tỉnh Ninh Thuận) với 1.300 giáo dân thì chính cố Villaume chăm sóc, nó gồm có 5 địa điểm :

 

- Láng Mum, ( nay là làng Tân Hội cách Phan rang chừng 4 cây số về hướng Bắc. Gọi là Láng Mum vì rừng ở đây có nhiều gỗ Mum ). Giáo sở chính này có trên 500 bổn đạo nên suốt ba năm đầu trước cơn bắt đạo cha Villaume thường xuyên ở tại đây.

 

-Bốn họ lẻ kia là Xóm Gò với 260 bổn đạo, Dinh Thủy : 255 bổn đạo( nay là địa sở Tấn Tài ). Mai Nương : 130 bổn đạo ( nay là thôn Cầu Chuối thuộc xã Đắc Nhơn ). Rừng Lai : 135 bổn đạo (nay là họ Đá Hàn thôn Ninh Quý thuộc giáo xứ Phước Thiện ).

 

Đất bằng dậy sóng, tháng 8 năm 1885 một tai biến bất ngờ xảy đến, Đảng Văn Thân khởi nghĩa đốt phá các làng Công Giáo. Vật liệu Cha gom góp để cất nhà thờ tại xóm Gò bị đốt hết. Gần hai phần ba giáo dân tại đây bị thiêu sống, ba họ nhánh kia cùng đồng số phận. Riêng về địa sở chính tại Láng Mum thì có trên 200 giáo dân bị giết, còn cố Villaume thì chạy thoát được rồi cùng với thầy  sáu Khiêm và  hai chú giúp lễ trốn vào dãy Trường Sơn về phía Đơn Dương bây giờ và từ đó dò dẫm sang Di Linh, nhờ người Thượng ở đây chỉ đường, mấy cha con băng rừng vượt núi suốt 21 ngày đêm lội  bộ những 500 cây số, vất vả nhọc nhằn  lắm mới về được đến Saigon. Một số bổn đạo khác chèo thuyền ra bể chạy vào Bà Rịa, sống nheo nhóc ở bến tàu để chờ ngày thanh bình .

 

Năm 1887 khi bình yên rồi, cố Villaume trở về giáo xứ cũ giữa những đổ nát điêu tàn. Láng Mum, xóm Gò cháy rụi, không còn gì, Dinh Thuỷ chỉ còn 40 người sống sót, cha đành ở lại đó để tái xây dựng. Nhưng 2.000 giáo dân trước biến cố  1885 chỉ còn lại 40. Cố Villaume hy sinh tất cả cho đoàn chiên bé nhỏ này cho đến năm 1900 thì qua đời .

 

III. VẾT CHÂN NHÀ THÁM HIỂM YERSIN TRÊN CAO NGUYÊN DI LINH.

 

Từ 1890 đến 1894, dãy Trường Sơn của miền Trung Việt này bỗng bừng dậy với những đoàn thám hiểm dồn dập từ ven biển đi lên.

 

Bác sĩ Alexandre John Emile Yersin người Thụy Điển quốc tịch Pháp, khi còn là một y sĩ giúp việc cho hãng tầu thuộc bến thương khẩu Saigon, trong những chuyến công tác qua lại dọc theo bờ biển Trung Việt đã say mê nhìn sững vào dẫy núi vĩ đại có mhững chỏm cao vút mầu xanh lam, mơ mộng đầy vẻ huyền bí, Ông viết rằng : “ Dẫy núi có những chỏm cao chấn ngữ mạn Tây suốt theo thung lũng ấy tạo ra một sự hấp dẫn thật sự nơi con người tôi. Tôi bèn nẩy ra một dự tính táo bạo là thử tiến về hướng Tây cho đến khi đụng dẫy Trường Sơn, leo lên dẫy núi này cứ đi bộ lần theo hướng Tây Nam để từ vùng Nha Trang mà về đến Saigon, xuyên qua một vùng Lam Sơn hoàn toàn chưa biết tới. Lộ trình này tôi dự đoán chừng vài chục ngày”.

 

Tháng 7-1890, khi chiếc “ Saigon” tầu chạy thơ mà ông hợp tác cập bến Nha Trang. Yersin được  phép lên bờ rồi nhờ có người chỉ dẫn ông đi gặp cha Villaume tại Phan Rang với mục đích hỏi thăm đường đi nước bước để đi lên dẫy Trường Sơn Cố Villaume vì điếc lác bệnh tật không giúp được gì hơn là chỉ cho Yersin đi vào Phan Rí để nhờ một người ở đó hướng dẫn lên cao nguyên theo con đường mòn mà người Thượng ở vùng này hay đi.

 

Ngay buổi chiều hôm ấy, Yersin và người dẫn lộ lên đường ngay, đang khi trời kéo mây đen nghịt báo trước một cơn giông to sắp đổ xuống.

 

Có lẽ Yersin đã đi lối đường Tamon, đường mòn mà người Thượng Di Linh gọi là “Gun Phori” đi từ Phan Rí lên đến ấp Tam Bố gần giáo xứ Phú Hiệp quận Di Linh bây giờ, hoặc theo con đường nhỏ từ Phan Rí ngược dòng Sông Mao mà lên đến Lang Hanh để đi dần về hướng Di Linh.

 

Hai người đi bộ dưới cơn mưa tầm tã, phải ngủ qua đêm trong một chòi tranh ngoài rẫy Thượng, và mất gần một ngày leo dốc mới đến được một đỉnh đồi cao độ 1.200 thước. Từ đó có thể nhìn bao quát độ vài trăm thước dưới thung lũng, Yersin trông thấy một cánh đồng rộng bát ngát có nhiều làng Thượng nằm rải rác xung quanh. Sau cùng họ đến được vùng phụ cận Di Linh, với dáng điệu mệt lả, giầy vớ rách tả tơi.

 

Sự xuất hiện đột ngột của ông Tây làm dân Thượng hết sức bở ngỡ kéo nhau ra xem. Nhờ người dẫn lộ thông ngôn, người Thượng cho Yersin biết rằng từ đây có thể xuống Saigon được,nhưng phải mất chín hoặc mười ngày đi bộ. Họ cũng cho biết thêm rằng ở đây nếu đi ròng rã không nghỉ cũng có thể chỉ mất không đầy một ngày đường là tới Phan Thiết.

 

Thời giờ eo hẹp nên Yersin đã phải trở xuống Phan Thiết ngay hôm sau cho kịp đáp chuyến tầu của hãng ông để đi ra Hà Nội. 

 

Hậu quả lần mạo hiểm này là Yersin đã ngã bệnh sốt rét nặng và suốt kỳ tầu cập bến Hải Phòng ông ta đã nằm liệt giường.

 

Nhưng không ngán, sau khi thôi việc ở hãng tầu, Yersin được bổ qua ngành y tế thuộc địa, lại tiếp tục thám sát các vùng cao nguyên trên dãy trường sơn suốt bốn năm liền.

 

Tháng 3 năm 1893 Yersin bắt đầu làm một cuộc thám hiểm kéo dài 5 tháng ( tháng 3 đến tháng 7-1893 ).

 

Từ Nha Trang ông đi ngược lên núi, và dò theo thung lũng sông Da Nhim, Yersin đến Đơn Dương, rồi qua Fimnon lên đèo Prenn, Yersin tìm ra vùng Lâm viên Đalạt ngày nay lúc 15 giờ 30 ngày 21-6-1893.

 

Lần thám sát này có Cha Robert, Quản lý hội thừa sai Ba Lê tại Viễn Đông tháp tùng để nhân đó nghiên cứu địa thế cho công cuộc hoạt động và phát triển của hội dòng trong tương lai. Vài ngày sau, Yersin và đoàn tuỳ tùng đã thám sát vùng đồi phía dưới nằm giữa Dran và Djiring, rồi đi vòng ngãTrạm Hành, Cầu Đất, Bosquet,để trở lên Lang Biang.

 

Sau cuộc thám sát này, Yersin đã đề nghị với toàn quyền Paul Doumer, biến Lang Biang thành một nơi nghỉ dưỡng sức cho các công chức Pháp làm việc tại Đông Dương.

 

IV- DI LINH 1899 VÀ CHƯƠNG TRÌNH THÀNH LẬP TRUNG TÂM DƯỠNG SỨC LÂM VIÊN.

 

Bốn năm sau, do bản phúc trình của Bác sĩ Yersin, chính quyền thuộc địa Pháp mới lưu ý đến vùng Cao Nguyên Lâm Viên. Sau khi biết được Lâm Viên có độ cao thích hợp, có khí hậu ôn hòa, nước nôi không thiếu, hơn nữa có một diện tích rộng mênh mông, có thể thành lập một trung tâm Dưỡng sức quan trọng cho Đông Dương, thì vào cuối tháng 10 năm 1897, khi vừa hết mùa mưa, toàn quyền Paul Doumer bèn đề cử một phái đoàn quân sự do Thouard, đại uý pháo binh cầm đầu để thám sát lại kỹ càng và nghiên cứu chương trình mở một con đường bộ từ Nha Trang lên Lâm Viên.

 

Trong phái đoàn này có Cunhac làm trắc địa viên, phái đoàn hạ trại tại Dankia gần một làng Thượng, và phải ở luôn tại đó những 11 tháng mới xong công tác.

 

Sau đó Thouard đã phúc nghị về phủ Toàn quyền rằng con đường lên Lâm Viên khó thực hiẹân được thẳng từ Nha Trang lên, cho nên phải từ Phan Rang đi xóm Gò qua Đơn Dương, dọc theo thung lũng sông Đa Nhim( ngã Lạc Lâm bây giờ) , đoạn leo đèo Prenn mà lên Lâm Viên Thouard cũng đề nghị thêm rằng  Cao Nguyên Lâm Viên hầu hết được bao quanh bởi những phụ lưu sông Da Dung,một con sông mạnh chảy thẳng xuống Đồng Nai, nên có thể thiết lập một con đường từ Dalat thẳng xuống Biên Hoà để về Saigon dọc theo thung lũng sông này, hầu tránh những đèo cao trên 800 thước về hướng Phan Rang .

 

Qua năm sau, 1899 một phái đoàn khác đông hơn do Guynet, Đại uý pháo binh cầm đầu, cũng được phái lên Lâm Viên để vạch một lối đi không trải đá dài 120 cây số từ Phan Rang lên Đơn Dương để tới Đalat. Họ phải mất những 13 tháng mới xong .

 

Cũng trong năm ấy, Ernest Outrey được giao nhiệm vụ mở thêm một cuộc thám hiễm vùng cao nguyên Dilinh, để thăm dò khả năng cung ứng của vùng này, và tìm cách vạch một con đường nối liền vùng này với miền duyên hải Phan Thiết ( Bình Thuận ) phái đoàn Outrey đặt bản doanh tại Dilinh bây giờ, và đã tìm ra con đường mòn từ Dilinh xuống Ma Lâm để đi Phan Thiết .

 

Liên tiếp ba năm sau đó phái đoàn Oddera, Carier, Bernard (1898 – 1900 ) cũng được từ Saigon phái đi nghiên cứu con đường bộ từ Saigon lên Lâm Viên theo lời đề nghị của Thouard và hoạch định chương trình to tát cho một trục lộ gần 300 cây số từ Biên Hoà lên Dilinh để đến Đalat.

 

Tỉnh Đồng Nai Thượng 1899.

 

Để hổ trợ chương trình thiết lập trung tâm dưỡng sức Lâm Viên trên đây, toàn quyền Doumer bèn cho thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng ngày 1-11-1899 và chính Ernest Outrey được bổ nhiệm làm Công sứ đầu tiên cho tỉnh này, tỉnh lỵ đặt tại Dilinh.

 

Gọi là Đồng Nai Thượng vì nó nằm trong khu vực thượng lưu sông Đồng Nai. Diện tích tỉnh này thời ấy rất rộng lớn,bao gồm Tuyên Đức,Lâm Đồng và cả quận Định Quán ngày nay. Đất đai phần lớn là rừng, dân cư thì chỉ có người Thượng mà thôi.

 

Công việc của Outrey là lo thiết lập cơ sở hành chánh cho tỉnh mới chưa có gì hết. Việc xây cất tòa nhà đầu tiên ở đây được giao cho Cunhac trắc địa viên kiêm kiến trúc sư đảm nhiệm. Vật liệu xây cất lấy từ Phan Thiết và phải dùng đến một số người Thượng “làm xâu” rất đông để gùi vật liệu trên lưng (mỗi người độ 50 ký) hoặc khiêng hoặc vác đi bộ 71 cây số từ Phan Thiết, Vượt qua đèo Gia Bắc (tức đường liên tỉnh số 8 hiện nay để lên Dilinh).

 

Toà nhà hành chánh này hoàn thành vào năm 1900, nhà này cho tới nay hãy  còn và biến thành văn phòng hành chánh quận Dilinh . Công sứ Outrey, vì phải đảm nhiệm luôn cả Trung Tâm dưỡng sức Dalat trong thời phôi thai, nên cũng đã cho cất tại Đalat một ngôi nhà gỗ lợp tôn (cũng trong năm 1900 để thay thế đồn lính lợp tranh do Garnier, Công sứ Phan Thiết dựng năm 1898). Nhiệm vụ của Outrey (từ 1901) là bảo đãm việc tiếp tế thường xuyên cho cơ sở này bằng ngã Phan Rang .

 

Trong thời kỳ ấy số người Thượng có công nhất trong việc quy dân lập xã ấp Dilinh và đôn đốc công nhân Thượng và vận tải vật liệu xây cất toà hành chánh, phải nhắc tới ông Dam Trang, vị chủ làng cao niên và đầy uy tín. Chính phủ ghi ơn ông nên một con đường  cạnh quận Dilinh ngày nay vẫn còn mang tên là đường Dam Trang để nhớ người có công này.

 

Từ lúc biến thành tỉnh lỵ của Đồng Nai Thượng, Dilinh thời ấy chưa có gì. Buôn bán chỉ có hai tiệm người tàu nhưng rồi một thời gian sau vì không chịu nổi khí hậu họ cũng dần dần rút lui đi nơi khác làm ăn. 

 

Tỉnh Đồng Nai Thượng tồn tại không lâu, vì sau Khi toàn quyền Paul Doumer được triệu hồi về Pháp (1901) thì mọi dự án về trung tâm dưỡng sức Dalat bị ngưng trệ, hoặc có tiến hành thì cũng rất chậm chạp vì ngân quỹ eo hẹp. Từ 1901 tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ. Lý do bãi bỏ được H. Maitre trong quyển “Les Junggles Mois” (Paris 1912) tả lại rằng vì nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ còn lãnh đạm với các dân Thượng, hơn nũa trạng thái rời rạc trong chính sách điều khiển vùng cao nguyên khiến cho “nhiều đồn bót tỉnh lỵ  đã được lập ra rồi bị bãi bỏ đi”.

 

Vì thế khi mà dự án thiết lập đường xe lửa Đalat qua Cung Xom trên sông Darang bị coi là không thể thực hiện được thì tỉnh Đồng Nai Thượng (thành lập 1899) phải sát nhập vào tỉnh Bình Thuận, còn Đalat thì trở thành một quận (Délégation) trực thuộc tỉnh Phan Rang mới thành lập và Cunhac được đặt làm quận trưởng đầu tiên ở đó.

 

Trục lộ “Ma Lâm – Di linh – Đalat”.

 

Trong lúc mà chương trình thành lập trung tâm dưỡng sức Lâm Viên bị ngưng trệ, thì công việc tân trang đường xe lửa chung cho Đông Dương do đạo luật ngày 25-12-1898 vẫn được cho tiếp tục như thường. Thiết lộ Saigon – Nha Trang khởi công từ 1901 mãi tới 1913 mới hoàn thành.

 

Cũng trong lúc đó nhiều phái đoàn nghiên cứu để thảo dự án làm các con đường giao thông trên Cao nguyên Lâm Viên vẫn chậm rãi làm việc. Phái đoàn Garnier và Cunhac (1906-1907) cũng tiếp tục thám sát để đặt kế hoạch mở trục lộ Saigon-Đalat qua Di Linh.

 

Khi trực tiếp điều khiển guồng máy hành chánh (1901), Cunhac đã xúc tiến mạnh việc thành lập các trục lộ chính từ vùng ven bể đi lên Trung tâm dưỡng sức Đalat.

 

Từ 1907, ông đã có công rất lớn trong việc khai thông trục Đalat - Di Linh - Ma Lâm đúng theo đồ án hồi 1901 do Ernest Outrey cựu công sứ Đồng Nai Thượng đề xướng.

 

Malâm tiếng Chàm có nghĩa là “đêm” là một làng nằm cách Phan Thiết 16 cây số rưỡi. Công việc khai thông trục lộ dài 54 cây số rưỡi đường đèo này thật là hết sức vất vã. Nhiều dân phu và chuyên viên công chánh đã ngã gục trên đường Malâm-Di Linh (thường gọi là Gia Bắc) vì cảm thương hàn và nhất là sốt rét rừng. Có hai chuyên viên công chánh người Pháp đã bỏ mình trong công tác này vì bệnh sốt thương hàn ; xác họ được chôn tại nghĩa trang dành cho người Âu Châu trên ngọn đồi đầu lối đi vào làng cùi Di Linh.

 

Con đường Di Linh đến đèo Prenn để lên Dalat cũng được thúc đẩy mạnh mẽ trong giai đoạn này. Ra khỏi Di Linh 32 cây số đến Lang Hanh, con đường bị sông Đa Nhim chắn ngang. Trước kia để qua sông này thì phải đi phà nổi ghép bằng nhiều thuyền độc mộc của người Thượng; thuyền làm bằng thân cây sao to khoét rỗng mỗi chiếc rộng độï nửa thước. Đến 1913,  trưởng đồn Di Linh đã dùng nhân công Thượng làm nên một cầu gỗ khá bảo đảm để xe hơi qua lại được dễ dàng.

 

Giai đoạn khuyếch trương và tu bổ trục lộ Đalat – Dilinh – Malâm kết thúc vào 1910 thì đến năm 1913 được cho tu bổ thêm ra nữa ; chi phí do tổng ngân sách đài thọ, cho nên công việc được xúc tiến mạnh. Đến tháng 10 năm 1914 thì hoàn thành, nhưng cũng phải mất bốn năm trời và chi phí những 700.000 phật lăng Pháp xưa tức là 262.500 đồng bạc Việt Nam thời ấy. Vì thế kể từ cuối năm 1914 sự giao thông giữa Saigon - Đalat qua ngã Malâm - Di Linh chỉ mất không đầy một ngày rưỡi đường (trái lại nếu đi ngả Phan Rang lên Krong Pha, phải mất hai ngày đàng và phải vượt qua nhiều chặng khó khăn hiễm trở). Ngày đầu khách sẽ đi xe lửa khởi hành từ ga Saigon lúc 6 giờ 50 sáng, đến 13 giờ thì đến ga Malâm. Tại đây khách sẽ sang qua xe hơi với giá vé là 5 đồng để đi lên Dilinh. Xe hơi đỗ lại Dilinh lúc 17 giờ, hành khách lo thuê chỗ ngủ qua đêm tại một nhà quán trọ (đã có từ 1914). Hôm sau xe hơi Dilinh - Đalat khởi hành từ 7 giờ sáng, giá vé cũng 5 đồng và đến 10 giờ thì tới Đalat.

 

Thời ấy trục lộ “Malâm - Dilinh - Đalat” đã trở nên quan trọng, nhờ nó Saigon - Đalat chỉ còn cách nhau 350 cây số và chỉ mất 200 cây số đi xe lửa, với 150 cây số dùng xe hơi từ ga Malâm lên Đalat .

 

Bởi đó trục lộ huyết mạch này được tu bổ thường xuyên. Đường Gialâm - Dilinh (quen gọi là đường Gia Bắc) được đặt cho cái tên là đường liên tỉnh số 8, dài những 54 cây số rưỡi (từ cây số 43 đến cây số 97,500). Tuy sự di chuyển bằng xe hơi trên đoạn đường Gia Bắc tương đối dễ trong mùa khô, thì trong mùa mưa dầm cũng còn lắm khó khăn. Đến cuối năm 1915, tình trạng xe kẹt lầy trên đường Gia Bắc vẫn còn rất nhiều và rất thường, nhưng cho những du khách trẻ ham thích xông pha, việc xe bị mắc mưa, sa lầy hay bị kẹt đường là những mạo hiểm nho nhỏ để thêm vào cái vui đặc biệt cho cuộc du ngoạn lên cao nguyên vậy.

 

Con đường Malâm - Dilinh về sau còn được nối dài lên đến Quảng Đức qua phà Kinh Đa (đường này cũng có tên là đường Kinh Đức) gọi là đường liên tỉnh số 8 kéo dài 39 cây số (từ cây số 108 đến cây số 147). Đoạn đường này quan trọng không những về mặt giao thông mà cả về mặt  kinh tế và chiến lược nữa.

 

Đalạt thời phôi thai 1900

 

Phái đoàn đầu tiên đã hoạt động trên vùng Cao Nguyên Lâm Viên từ 1897. Nhưng địa điểm chính của mọi sinh hoạt cũng vẫn đóng  tại Dankia cách Đalat bây giờ độ 13 cây số về hướng Tây Bắc, nơi mà bốn năm trước đây, ngày 21-6-1893, Yersin và đoàn thám hiểm đã hạ trại lần đầu tiên khi vừa tìm thấy vùng đất mát mẻ này.

 

Về cơ sở thì lúc đó chỉ có một đồn lính (đồn đại-lý hành chánh) một cơ sở khí tượng và một thí điểm nông nghiệp với mục đích dò dẫm phong thổ mà thôi. Còn tại chính Đalat bấy giờ chưa có gì khác hơn là một đồn giám binh (un poste commandé par un garde principale de la milice) đóng tạm trên khu đất Tòa Thị Chính cũ, bây giờ là thư viện thị xã Dalat. Về hành chính thì lúc đầu vùng này ăn vào Phan Thiết, rồi sau đó trực thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng, cho đến khi tỉnh này bị bãi bỏ .

 

Đến 1889, Bác sĩ Tardif, nhân viên thuộc phái đoàn thứ hai của Đại uý Guynet người có nhiệm vụ khai thông một con đường tạm từ Phan Rang lên Lâm Viên, sau 13 tháng nghiên cứu tỉ mỉ đã đệ trình thẳng lên toàn quyền Doumer những ưu khuyết điểm giữa hai vùng đất : Dankia và Đalat để nhà hữu trách dứt khoát việc lựa chọn. Theo Bác sĩ Tardif thì : nhờ nằm trên địa thế cao, trống thoáng và có nhiều rừng thông, Đalạt sẽ hơn Dankia ở chỗ không khí thơm mát lành mạnh, ẩm thấp ít, mà sương mù cũng ít, vấn đề nước nôi và đường giao thông cũng tiện lợi nhờ mặt đất ít mấp mô. Hơn nữa vùng Dankia có lớp đất sét quá dầy khiến cho nước khó thấm xuống, đang khi đó vùng Đalat chỉ có lớp đất sét mỏng vừa đủ điều kiện cho công việc trồng tỉa.

 

Sau khi đọc qua bản phúc trình, toàn quyền Doumer rất phân vân, nên khi vào khoảng tháng giêng hoặc tháng hai năm 1900 ông phải đích thân lên Đalạt thị sát tại chỗ và quyết định lấy Đalạt làm trung tâm thay cho Dankia. Bởi đó Outrey công sứ tỉnh Đồng Nai Thượng liền cho cất lại đồn giám binh bằng tranh có từ 1898 thành tòa nhà sàn bằng gỗ lợp tôn, về sau nó trở thành Tòa Thị Sảnh của đốc lý công sứ đầu tiên.

 

Bảy năm sau các cơ sở tại Dankia lần lượt dời hết về Đalạt và từ 1907 ấy đã thấy tại đây mọc lên một lữ quán đầu tiên (Lữ quán này về sau trở thành Hotel Du Lac và đến 1972 là Ty Thông Tin Đalạt) do ông De Santi làm quản lý. Từ khi mà trục lộ Dilinh – Malâm – Đalạt hoàn tất (tháng 10.1914), việc giao thông lên Lâm Viên trở nên dễ dàng, Trung tâm dưỡng sức Đalạt càng ngày càng được nhiều người biết, nhất là giữa lúc trận đại chiến 1914 - 1918 bùng nổ khiến cho tất cả công chức Pháp không trở về quê được đành đổ xô lên Đalạt nghỉ ngơi nhân các dịp lễ nghỉ lớn như Phục Sinh, Hiện Xuống, Mông Triệu… (nghĩa là khoảng từ tháng 4 đến tháng 9, thời kỳ oi bức của vùng nhiệt đới).

 

Địa vị của Đalạt càng ngày càng quan trọng thêm ra ; rồi từ là một nơi nghỉ mát sơ sài dành cho người Pháp, ngày 06.01.1916 giữa lúc từ trời Âu chìm trong khói lửa chiến tranh, Roume vị toàn quyền Pháp tại Đông Dương ký sắc lệnh biến nó thành tỉnh Lâm Viên, lấy Đalạt làm tỉnh lỵ và bổ nhiệm Cunhac, người có công to trong việc thành lập Trung tâm dưỡng sức này làm công sứ đầu tiên ở đây.

 

Dưỡng Viện Thừa Sai trên Lâm Viên – Giáo Xứ Đalạt 1918.

 

Nhờ có quen thân với ông De Santi, chủ khách sạn đầu tiên của tỉnh Lâm Viên tại Đalạt, cha Nicolas Couvreur, linh mục quản lý Hội Thừa Sai Balê trụ sở tại Singapour đã được dịp biết Đalạt, cái xứ mà vị tiền nhiệm của ngài, cha Robert người có tham dự cuộc thám hiểm với Yersin để khám phá ra nó đã nhiệt liệt cổ võ.

 

Sau hai năm đi lại bàn tính, năm 1918, cha Nicolas Couvreur mới được sự đồng ý cho thiết lập tại Đalạt một “Dưỡng Viện” cho các cha Thừa sai đau yếu tại Đông Dương có chỗ nghỉ dưỡng sức trong khi đường về Châu Âu bị nghẽn vì chiến cuộc, hơn nữa cũng nhân đó mà lập ra thêm một Giáo Xứ trên vùng cao nguyên này.

 

Sau khi chọn được một khu đất, cha đã nhờ De Santi và ông Riberolles dựng lên một ngôi nhà gạch khang trang phân làm nhiều phòng tiện lợi cho các Linh Mục đau yếu có chỗ an dưỡng .

 

Từ đó trở đi thỉnh thoảng có Đức Cha già Mão (Lucien Mossard) Giám Mục Saigon, hoặc chính Cha Nicolas Couvreur từ Singapour sang ĐaLat, để coi sóc nhà cửa ít tuần và nhân đó giúp đỡ phần đạo đức cho nhóm dân Pháp - Việt hiếm hoi đang sinh sống tại đây .

 

Bởi đó cuốn sổ rửa tội thứ nhất của họ Đalat đã ghi nhận một em bé Việt Nam được chính Đức Cha già Mão ban phép Thánh Tẩy đầu tiên tại đây ngày 25-1-1919.

 

Vừa khi nhận thấy Đalat đã trở thành một trung tâm khả quan, có nhiều giáo dân Pháp từ các nơi đổ xô lên nghỉ nhiều ngày trong các dịp lễ trọng, ngày 10-5-1920, Đức Cha Quinton, Giám Mục phụ tá Saigon đã bổ nhiệm Cha Frédéric Sidot nguyên bổn sở Biên Hoà lên điều khiển dưỡng viện Thừa sai và đồng thời tổ chức giáo xứ mới này.

 

Là một Linh mục cao niên, tuy đã trên 65 tuổi nhưng vẫn còn hoạt động hăng hái, biết cách tổ chức và say mê xây cất, nên vừa khi lên nhận nhiệm sở, Cha đã cùng với ông De Santi lo cất nhà nguyện ngay. Nhờ một tiếng nói của Đức Cha già Mão tất cả bổn đạo trong vùng này góp sức vào, rồi trong năm ấy một gian nhà làm nguyện  đường được dựng lên nối liền với cánh hữu nhà dưỡng viện . Nhà nguyện này chiều dài 24 thước, rộng 7 thước và cao 5 thước. Các cửa sổ được lồng kính hình mầu mua từ bên Pháp. Cửa chính nhà nguyện hình vòng cung nhọn, chạm trổ thiếp son theo kiểu đình Việt Nam. Trên vòng cung cửa có khắc dòng chử nổi : “Hic domus Dei est” (đây là nhà Thiên Chúa) . Tòa Giám Mục Saigon gửi tặng một quả chuông nhỏ đúc tại Việt Nam, một kỷ vật của thế kỷ XIX được tìm thấy sau cơn bắt đạo dưới một cái giếng sâu ở miệt Hóc Môn  - Gò Vấp .

 

Chuông này treo trước nguyện đường đầu tiên của họ Đalat suốt 24 năm trời, rồi sau kỳ đảo chánh 1945 đã bị thất lạc đâu mất .

 

Cha Sidot cũng lo giúp cất lên một cô nhi viện trên đất trường Nazareth bây giờ, và đầu năm 1921 bà nhất Stanislas dòng nữ Saint Paul de Chartre đã mở thêm một trường học có nội trú cho con cái những gia đình đầu tiên lập nghiệp tại Đalat

 

Cha Sidot chỉ coi họ Đalat một năm mà thôi, vì ngày 11-7-1921 cha được lệnh đổi về Vũng Tàu để lo điều khiển trường trung học của địa phận tại đó. Linh mục thay thế Ngài là cha Céleste Nicolas, một cha giáo sư chủng viện Saigon đã dưỡng bệnh tại Đalat từ 8 tháng rồi. Người ta tưởng rằng Linh mục đau yếu này sẽ chỉ ở coi nhà rồi hưu trí luôn, nhưng trái lại con người bệnh tật này đã làm những việc vĩ  đại mà giáo dân Đalat muôn đời ghi nhớ Ngài, vì Ngài là người cha đã dựng nên giáo xứ Đalat và cất cho nó những hai nhà thờ Thánh Nicolas mà cái thứ hai nay đã trở thành nhà thờ Chánh Tòa địa phận Đalat .

 

Đầu năm 1922, khi lên quyền Giám Mục chính địa phận Saigon, Đức Cha Quiton liền đi kinh lý giáo xứ mới thành lập tại Đalat. Cùng với Ngài có Đức Cha Bouchut Giám Mục Nam Vang, trong buổi lễ Chúa nhật các Ngài nhận thấy số bổn đạo khá đông nên đã cho lệnh cất một nhà thờ tách riêng hẳn ra khỏi “Dưỡng viện”.

 

Hãng thầu của ông Francis Brés được giao phó công tác này và việc xây cất khởi sự ngày 5-7-1922 thì 7 tháng sau nhà thờ đã hoàn thành, nhưng phải chờ thêm 7 tháng nữa tháp chuông mới xong, rồi Đức Cha Quinton đã khánh thành nhà thờ thứ nhất của Đalat vào lễ Mông Triệu 15-8-1923 và chọn Thánh Nicolas làm bổn mạng . Nhà thờ tường gạch dài 27 thước rộng 8 thước , tháp cao 16 thước, có 4 chuông, các cửa sổ lắp kính mầu, cùng với bàn ghế, chi phí tổng quát là 15.000 đồng bạc thời ấy.

 

Nhưng năm năm sau nhà thờ ấy cũng không đủ chứa số giáo dân thành phố nghỉ mát đang gia tăng hết sức nhanh chóng, nên ngày 19-7-1931 Cha Nicolas đã phải khởi sự xây cất ngôi nhà thờ thứ hai hiện tại. Công cuộc kiến trúc ngôi Thánh đường này kéo dài những mười một năm và đã tốn phí trên 200.000 đồng thời xưa mới hoàn thành và đến đời Đức Cha Cassaigne làm Giám Mục Saigon, nhà thờ này mới ăn lễ khánh thành vào ngày 25-1-1952. Nhà thờ này ngày nay đã trở thành nhà thờ Chánh Tòa địa phận Đalat.

 

Tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập (1920).

 

Hai mươi năm sau khi bị bãi bỏ, Tỉnh Đồng Nai Thượng được cho tái lập. Ranh giới phía đông bắt đầu từ cầu La Ngà (cây số 105 quốc lộ 20) sang đến chân đèo Prennvà phía Nam bắt đầu từ chân đèo Gia Bắc, sang bên kia phà Kinh Đức, nghĩa  là gồm quận Đơn Dương , Đức Trọng, Dilinh, Bảo Lộc và một phần quận Định Quán ngày nay.

 

Chính công sứ Cunhac đã đặt viên “Ban Tá Thượng” đầu tiên cho vùng Di Linh đó là Det Dam Kroe. Người Thượng ở đây còn nhắc rằng ông Kroe không hề biết một chữ gì, không biết tiếng Tây cũng chẳng nói được tiếng Việt, ông được quan Tây đề bạt lên chức ấy là nhờ ông có hàm râu dài và rậm hơn người mà thôi .

 

Cũng năm 1920 khi trục lộ Phan Rang lên đalat qua đèo Ngoạn Mục vừa hoàn tất thì đường xe lửa răng cưa từ xóm Gon lên Đalat được cho khởi công ngay, nhưng mãi đến 1933 mới hoàn thành.

 

Thí điểm Truyền giáo Di Linh

 

Nhờ việc phát triển trung tâm dưỡng sức Đalat mà vùng Di Linh được lưu ý và cho mở mang càng ngày càng thêm ra.

 

Theo trục lộ Malâm cũng gọi là đường  Gia Bắc này, đồng bào Kinh từ Phan Thiết đổ xô lên làm ăn buôn bán trên Dilinh, nhưng ít người dám ở lại luôn vì sợ sốt rét, lại nữa ít khi được cho phép.

 

Để đặc biệt gìn giữ trục lộ này, sở kiều lộ được thiết lập tại tỉnh lỵ Dilinh và có một kỹ sư công chánh trông coi, đó là ông West. Việc cung cấp vật liệu làm đường thì có Boyon, một sĩ quan Pháp hồi hưu, nhà ở Phan Thiết thầu tất cả ; trạm liên lạc của ông tại Di Linh được trao phó cho ông Mười Ngô Châu Liên điều khiển .

 

Nhờ làm ăn phát đạt ông Mười Liên bèn mua lại  thửa đất của một người Thượng có thế giá tại Dilinh thời ấy, tên là K’ Brai. Khu đất này rộng 7.000 thước vuông, nằm trên phần cuối một triền đồi (đồi 1.000) sát bên quốc lộ. Phần đất trũng cận mé ruộng Thượng có đất sét nhão nên ông Mười Liên lập lò đúc gạch và giao cho ông Đường từ Phan Rang lên coi sóc.

 

Năm 1925 ông Mười Liên định mở khách sạn đón du khách đến Di Linh săn bắn, nên đặt cho ông Đường và ông Ba Hường thợ mộc cất một nhà cao cẳng (nhà sàn) bằng gổ ngo dầu, nóc lợp tôn, phỏng theo kiểu nhà mát Tây. Nhưng chưa làm ăn gì được thì ngày 13-10-1926 vì hoàn cảnh, ông Ngô Châu Liên liền bán tất cả cho hội Thừa sai Ba Lê do Đức Cha Dumortier Giám mục Saigon đứng tên để làm cơ sở truyền giáo cho vùng Di Linh, với giá tiền là 10.000 đồng bạc kể cả đất, nhà và đồ đạc bên trong .

 

Từ đó khu đất này trở thành địa điểm truyền giáo Thượng đầu tiên trên Cao Nguyên Nam Trung phần.

                        


Về Trang Mục Lục
Trở Về Trang Nhà