LỄ GIỖ ĐỨC CHA GIOAN
CASSAIGNE
(31.10.2004)
Hẳn ai
trong chúng ta cũng đã ít nhiều lần được nghe nhắc đến tên Đức Cha Gioan
Cassaigne. Có người đã từng sống và làm việc với ngài, hoặc có người đã biết
ngài một cách gián tiếp qua sách báo, qua các lời kể về ngài… Ở đây không có ý
nói về cuộc đời và sự nghiệp của ngài, nhưng xin mạn phép ghi lại những chứng
từ, những tâm tư tình cảm của những người đã từng được sống bên cạnh Đức Cha,
mà nay vẫn còn hiện diện ở Trại phong Di Linh trong Giáo phận Đàlạt.
Cách đây
31 năm, ngày 31.10.1973, Đức Cha Gioan Cassaigne được Chúa gọi về với Chúa. Hôm
nay, ngày 31.10.2004, là một ngày đặc biệt đối với Trại phong Di Linh, mọi
người như sống lại khoảng thời gian mà Đức Cha còn hiện diện giữa đoàn con cái
đau khổ của mình : cha con quây quần bên nhau cùng nhau cầu nguyện, ca hát tôn
vinh cảm tạ Thiên Chúa.
Nơi đây
mang hình ảnh của một gia đình : - Đức Cha Gioan Cassaigne như là một người cha
nhân từ, chăm lo đến từng nhu cầu của con cái, hướng dẫn dạy dỗ con cái theo
tinh thần Phúc Âm… - Các Nữ tu thuộc dòng Nữ tử Bác Ái như là người mẹ hiền -
và con cái là những người nghèo hèn, bệnh tật ; căn bệnh họ mắc phải lại là
bệnh phong hay bệnh cùi, một căn bệnh được coi là khủng khiếp vào thời bấy giờ.
Tất cả tạo thành một gia đình hợp nhất trong tình yêu thương.
Trong
một gia đình, khi tưởng nhớ đến người quá cố, đặc biệt là người cha hay người
mẹ, thì những người còn sống thường hay gợi lại những kỷ niệm tốt đẹp, những
đức tính tốt, những niềm vui hay nỗi buồn cũng như những thành công hay thất
bại… của người quá cố. Những kỷ niệm đó đã tác động và ghi khắc trong con tim
mỗi thành viên trong gia đình. Nhưng đây cũng là dịp để mỗi người xét lại mình,
xem mình có sống xứng đáng với những gì mà người quá cố đã mong đợi hay chưa…
Cũng
vậy, nhân ngày giỗ lần thứ 31 của Đức Cha, ngoài thánh lễ buổi sáng, vào buổi
tối, gia đình Trại phong Di Linh đã cùng với Đức Cha Phêrô, Giám mục Giáo phận
Đàlạt, cử hành một giờ Thánh trọng thể, để cầu nguyện cho người cha thân yêu và
đáng kính của mình. Và đây cũng là lúc để mỗi người trong gia đình bày tỏ những
tâm tình của mình đối với ngài, đồng thời dâng lên Chúa những lời cầu nguyện
tha thiết cho ngài.
Chắc hẳn
bất cứ ai tham dự giờ Thánh này cũng sẽ có những tâm tình đó. Mỗi người có một
cảm nhận khác nhau về người quá cố nên cũng sẽ có những tâm tình khác nhau.
Trong giờ Thánh này, có 4 chứng từ của 4 bệnh nhân đã từng được sống với Đức
Cha Gioan Cassaigne và đã từng được ngài yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ… dưới ánh
mắt hiền từ của một người cha, dưới bàn tay êm ái nhẹ nhàng của người mẹ. Họ đã
công khai nói lên những tâm tình và cảm nhận của mình về Đức Cha Gioan
Cassaigne giữa cộng đoàn hiện diện.
Đây thực
là những chứng từ rất sống động về Đức Cha Gioan Cassaigne. Thật xúc động khi
được nghe những gì họ suy nghĩ, họ nói, họ cảm nhận về người cha của mình. Xin
trích dẫn ra đây để giúp chúng ta, trước hết là hiểu biết, yêu mến, cảm tạ và
cầu nguyện cho Đức Cha nhiều hơn, sau là để chúng ta thêm phần cảm thông, yêu
thương, chia sẻ, cầu nguyện cho những người đang mang trên thân xác mình nỗi
bất hạnh lớn lao này.
Đối với
ông K’Wis, thì Đức Cha Gioan Cassaigne như là một người cha nhân hậu, đã cưu
mang, giúp đỡ, dạy bảo và xây dựng cho ông một gia đình hạnh phúc. Và ông đã
thực sự ăn năn hối lỗi vì đã không chịu nghe lời dạy bảo của Đức Cha :
”Tôi tên là K’Wis, 57 tuổi, vào trại năm
1960. Tôi bị bệnh phong từ nhỏ, không nhớ tuổi. Gia đình tôi có hai bà cô và
tôi bị bệnh phong. Dân làng rất sợ nên họ xa lánh chúng tôi. Ban ngày chúng tôi
không dám ra khỏi nhà, đợi đến đêm mới dám ra suối kiếm nước. Vì nếu thấy chúng
tôi đến gần suối, dân làng sẽ xua đuổi và sợ chúng tôi làm dơ nước. Lúc bấy giờ
chúng tôi khổ lắm, rất mong có người đi báo cho cha Tây và các Mẹ. Các ngài vào
làng kiếm được chúng tôi đem về chăm sóc và cho uống thuốc, nuôi ăn mặc. Khi
các Mẹ đưa tôi đến gặp Đức Cha, vừa thấy Đức Cha tôi sợ lắm, nhưng khi thấy ngài
cười, bắt tay tôi, tôi mừng lắm. Cha hỏi tôi bằng tiếng Dân tộc : “con bị cùi à
?”. Nghe được tiếng Dân tộc tôi vui và an tâm hơn. Cha bảo tôi : “con cứ ở đây
Cha nuôi”. Sau đó hai cô và tôi được đưa đến một căn nhà, chia làm ba gia đình.
Khi tôi lớn khoảng 17, 18 tuổi, tôi xin lập gia đình. Đức Cha dạy đạo khoảng
gần 1 năm. Hai người chúng tôi được theo đạo, rửa tội, làm phép cưới. Chúng tôi
có 6 người con, nhưng đến năm 1968, tôi hay trốn về làng thăm bà con. Ở gần gia
đình tôi có một cô cũng bị cùi nhưng còn trẻ và tàn tật ít, nên tôi đem lòng
thương. Tôi đến xin Đức Cha cho bỏ vợ cũ, Đức Cha không cho mà còn nói : “con
đã có đạo, nên không được bỏ vợ và con. Nếu con bỏ thì Chúa không thương con, cha
và các Mẹ cũng sẽ không thương con và không nuôi con nếu con bỏ vợ”. Tôi nghe
lời Đức Cha và ở lại với vợ ít ngày nữa. Trong thời gian ở lại, vợ tôi cứ cằn
nhằn trách móc tôi, nên tôi bực mình quá, và tôi lại lên thưa với Đức Cha là
con muốn bỏ vợ về làng. Đức Cha buồn lắm không nói gì, quay mặt vào nhà, tôi cứ
đứng ở cửa. Sau một lúc Đức Cha bước ra đưa cho tôi một nhúm thuốc rê, mắt ngài
muốn khóc. Cha bảo tôi : “con hãy xin Mẹ Maria, con đừng về làng, đừng bỏ vợ
nhé, cha sẽ cầu nguyện cho con”. Và tôi ở lại được ít tuần nữa. Nhưng trong đầu
tôi cứ nhớ cô gái ở làng. Từ đó tôi về ở trong làng với vợ mới, cho đến năm
1978, chân tôi bị loét, đau lắm, tôi lại xin vào trại chữa bệnh. Bây giờ tôi bị
cụt cả hai chân, đi chân giả. Lần sau tôi trở lại trại thì không còn thấy Đức
Cha, nhưng mỗi lần đi qua hoặc đi nhà thờ thấy mộ Đức Cha, tôi buồn lắm vì đã không
nghe lời Đức Cha mà ngày nay tôi mất cả hai chân.
Tôi thấy thương Đức Cha, vì tôi phạm tội
ngoại tình bỏ vợ con mà chẳng khi nào Đức Cha la rầy tôi, Đức Cha chỉ xin tôi ở
lại trại phong và đừng bỏ vợ. Bây giờ mỗi lần đứng ở mộ Đức Cha tôi chỉ biết
xin lỗi Đức Cha, chứ không biết làm sao. Tôi chỉ nghĩ trong đầu : sao Đức Cha
tốt quá, không la rầy tôi, nhưng mà nếu Đức Cha có la rầy tôi, tôi cũng không
bỏ vợ sau được. Bây giờ vợ trước và các con tôi không thương tôi nữa.
Ngày nào tôi cũng xin lỗi Đức Cha, Ngài
đã thương tôi, đã nuôi tôi mà tôi lại không nghe lời Đức Cha. Tôi cứ đọc kinh
xin Chúa cho Đức Cha về với Chúa, tôi cũng xin Chúa và Đức Cha tha tội cho tôi.
Con xin lỗi Đức Cha.”
Còn đối
với bà Ka Glòng, thì Đức Cha Gioan Cassaigne không những đã cưu mang, chữa trị,
chăm sóc, giúp đỡ những người con đau khổ của Ngài khi Ngài còn sống, mà Ngài
còn làm những việc đó cả khi Ngài đã về an nghỉ bên Chúa.
“Tôi tên là Ka Glòng, nguyên quán ở xóm
Danferun. Tôi bị bệnh phong từ năm 1962. Tôi được Đức Cha và các Mẹ cho ở và
chữa bệnh, nuôi dưỡng rất đầy đủ. Ngoài việc chữa bệnh, tôi còn được học đạo và
được rửa tội. Đức Cha cho phép tôi lập gia đình. Tôi có 6 đứa con, chồng tôi
chết sớm, còn lại mẹ con chúng tôi vẫn ở đây. Rồi mới đây tôi có một đứa con
trai út, nó bị phong đòn gánh, được các Mẹ đưa đi Saigon chữa, nhưng nghe các
bác sĩ cho biết là không thể sống nổi. Tôi không biết làm sao, chỉ sợ con tôi
chết. Tôi chỉ biết khóc, xin Đức Cha chữa bệnh, nên hằng ngày tôi đến mộ Đức
Cha khóc, đọc kinh, xin Đức Cha chữa cho con của con được khỏi bệnh. Có những
ngày tôi thức dậy từ lúc gà gáy lên mộ Đức Cha ngồi khóc cho đến giờ trưa,
chiều. Có một lần tôi đã ngủ gục ở mộ và mơ thấy có người nói là con đừng sợ,
con của con sẽ khỏe. Tôi giật mình tỉnh dậy vì nghe tiếng chuông nhà thờ, tôi
tưởng là Đức Cha làm ma nhát tôi, tôi sợ quá.
Rồi sau đó ít ngày tôi được Mẹ cho hay
là con tôi đã bắt đầu ăn được cháo. Vì từ khi đưa vào nhà thương nó chỉ uống
được sữa. Tôi mừng nhưng vẫn lo, sợ con tôi chết, nên tôi cứ đến mộ nhiều lần,
mỗi lần tôi chỉ nói với Đức Cha : “Đức Cha ơi, cứu K’Kring, nó chết mất, nó chết
con cũng chết luôn, Đức Cha ơi tội nghiệp cho con. Tôi cứ nói hoài như vậy. Sau
một tháng hay mấy tuần tôi không nhớ, mà chỉ thấy lâu lâu, con tôi được rời nhà
thương, tôi mừng quá. Mỗi lần qua mộ tôi cứ cám ơn Đức Cha, vì khi Đức Cha còn
sống đã chăm sóc và nuôi chúng tôi, nay Đức Cha đã chết, người vẫn còn thương
và cầu nguyện cho gia đình chúng tôi được những ơn lành mà chúng tôi xin.
Con tôi năm nay 23 tuổi, đã về làng và
có vợ 2 con. Tôi thấy Đức Cha thương tôi lắm nên từ ngày con tôi được sống,
ngày nào tôi cũng đi nhà thờ đọc kinh cho Đức Cha, cho trại và con cái tôi. Tôi
cũng nhớ xin Đức Cha cho bà con tôi ở trong trại cũng được theo Chúa và Đức
Cha.”
Đức Cha
Joan Cassaigne là con người rất yêu thiên nhiên, vui vẻ, khoan dung, nhân hậu,
thương yêu con người, nhất là những con người bệnh hoạn tật nguyền, những người
nghèo nàn thống khổ. Ngài đã đem ánh sáng đức tin đến cho nhiều người, và giúp
người ta biết sống đạo đức, ngay thẳng, thật thà… Đó là những gì mà ông K’Têm
cảm nhận được nơi Đức Cha Joan Cassaigne.
“Tôi tên K’Têm, 70 tuổi, sinh tại xóm
Reyan, thuộc Phan Thiết. Tôi bị phong cùi khoảng năm 14 tuổi. Dân làng sợ bệnh
cùi, đuổi gia đình tôi đi nơi khác, nếu không họ sẽ chôn sống hoặc đốt lửa cho
chúng tôi chết để người làng khỏi bị lây. Gia đình tôi phải trốn vào rừng, xa
dân làng để người trong xóm khỏi tìm được.
Gia đình tôi vừa bị đói, bị rét, chỉ ăn
củ, rau rừng sống cho qua ngày. Một hôm tự nhiên tôi thấy một ông Tây đeo súng
và một người dân tộc, mỗi người một con ngựa. Vừa thấy ông, chúng tôi bỏ chạy. Nhưng
ông Tây biết nói tiếng dân tộc đã bảo tôi : “đừng sợ, chúng tôi đến thăm”. Tôi
sợ đứng tim. Hai người đến gần hỏi chúng tôi : “có phải gia đình con bị phong
cùi lở loét không ?”. Tôi chẳng biết cùi là gì nhưng cũng gật đầu. Đức Cha đến
gần vỗ vai tôi bảo theo ngài về Di Linh sẽ có nhà ở, cơm ăn, thuốc uống, ở đây
cọp sẽ ăn thịt. Nhưng chúng tôi không có phương tiện nào để về Di Linh được.
Sau nhiều năm chúng tôi mới tới được Di Linh.
Chúng tôi đến gặp Đức Cha. Đức Cha thấy
chúng tôi, ngài cười vui vẻ, tỏ ra rất thương chúng tôi và ngài nói tội nghiệp
các con quá. Từ ngày đó chúng tôi có được một cuộc sống bình an không sợ người ta rình rập và sợ hãi như
chúng tôi là ma qủy nữa. Chúng tôi được Đức Cha thương lo dạy đường lối Chúa,
biết lần chuỗi, biết xem lễ, được ăn uống thuốc men và quần áo. Khi đau ốm Đức
Cha đến tận nhà thăm nhắc chúng tôi dâng những đau ốm cho Chúa và Mẹ Maria,
Ngài cũng cho kẹo bánh để chúng tôi đừng buồn.
Lúc nào gặp Đức Cha trên đường đi Ngài
cũng chào và hỏi thăm thân mật như cha con. Khi thấy ai phạm tội, nhất là tội
uống rượu say hay là tội bậy bạ, Đức Cha kêu lên nhà Đức Cha rầy. Ngài hay nói
: “con không được uống nhiều rượu, không được bậy bạ, nếu không nghe, Đức Cha
cho về buôn thượng không nuôi”. Chúng tôi xin lỗi, sau đó Đức Cha bảo vào nhà
thờ xét mình rồi Đức Cha tới giải tội cho. Khi xưng tội xong thế nào cũng có ít
thuốc hút, thứ mà chúng tôi thích nhất.
Chúng tôi thấy Đức Cha dễ tha lỗi cho
chúng tôi chứ không giận và la rầy, Đức Cha tốt lắm. Tôi còn nhớ trong trại có
nhiều người uống rượu say la lối om xòm, có khi rượt đuổi đánh nhau, có người
lên báo, Đức Cha đỏ mặt đỏ tai nhưng Đức Cha bảo để nó ngủ yên, ngày mai Đức
Cha xử. Nhưng đến ngày mai mấy người được gọi đến, thấy Đức Cha cầm cây gậy
chống chỉ vào mắt mấy người có lỗi, Đức Cha bảo không được uống nhiều, không
được uống say, xin lỗi nhau bắt tay mhau rồi về đi, lần sau Đức Cha phạt đấy. Nói
vậy nhưng sau lại tha ! Đức Cha tốt quá, thương người cùi quá, nên chúng tôi cố
gắng ở tử tế, siêng năng đi nhà thờ, lần chuỗi để đừng làm buồn lòng Đức Cha.
Nhờ Đức Cha mà gia đình chúng tôi mới biết Chúa, mới được no ấm.
Đức Cha chết rồi nhưng không bao giờ
chúng tôi quên ơn và lúc nào chúng tôi cũng còn nhớ hình ảnh Đức Cha. Bây giờ
có điều lo lắng và buồn trong gia đình, chúng tôi cứ đến cầu xin Đức Cha.”
Lòng
nhận hậu bao la không bờ bờ bến, tấm lòng đơn sơ, giản dị, luôn mang sự bình
an, hòa thuận, hạnh phúc đến cho người khác nhất là những người đau khổ ; đức
tính điều độ, chừng mực cũng được bộc lộ qua con người của Đức Cha. Hình ảnh
Đức Cha Gioan Cassaigne, người cha dịu hiền, luôn ở trong tâm trí những người
bệnh. Mỗi ngày họ đến bên phần mộ Đức Cha để gặp gỡ ngài, cầu nguyện cùng với
ngài. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn những điều này nơi con người của Đức Cha trong
phần chia sẻ của ông K’Beo.
“Tôi tên là K’Beo, sinh quán tại xóm B’Hợp,
tỉnh Quảng Đức. Lúc ấy, tôi khoảng 14 - 15 tuổi, chúng tôi đang sống chung với
gia đình. Khi nghe những tiếng đồn đại ba tôi bị cùi, thế là gia đình tôi tự xa
lánh bà con và hàng xóm để đi vào rừng sâu làm nhà ở riêng. Chúng tôi phải lâm
vào cảnh nghèo đói, khổ cực, nhờ có bà con xa làm thầy thuốc ở trạm xá xã đếm
thăm chỗ chúng tôi ở. Sau đó đưa thuốc cho ba tôi uống, băng bó vết thương cho
ba tôi nhưng ngày càng thấy vết thương đau và lở lói nhiều hơn, nên anh ta nói
với ba tôi hãy đi theo anh ấy sang Di Linh ở với cha Tây, ở đó có nhà ở thuốc
uống đầy đủ. Ba tôi nghe vậy liền có ý xin bỏ mẹ con tôi ở lại làng cũ để theo
anh ta đi kiếm thuốc. Nhưng mẹ tôi và chúng tôi không chiu bỏ nhau như vậy, đã
là một gia đình thì sống chết có nhau, không bỏ nhau mỗi người một nơi. Thấy
vậy, anh ấy đi một mình sang Di Linh xin với cha Tây cho gia đình chúng tôi
sang ở với cha. Thế là không lâu sau anh ta dẫn ba má và các em tôi sang Di
Linh ở trước, còn tôi phải ở lại với ông ngoại tới khi ông tôi chết, tôi mới
được xum họp với gia đình. Lúc ấy là năm 1962, tôi khoảng 20 tuổi và cũng là
lúc tôi được phát hiện bị bệnh phong nên ba tôi dẫn lên gặp Đức Cha và các mẹ,
tôi được nhận và cho ở chung với các bạn trai khác.
Tôi hiểu và biết được Đức Cha rất thương
chúng tôi, vì còn nhỏ mà bị bệnh cùi. Đức Cha thường đến chơi với chúng tôi vào
các buổi chiều, chơi lô tô, chơi đôminô…, vừa chơi vừa dậy chúng tôi chơi phải
biết nhường nhịn, thật thà, vui vẻ trong khi chơi. Khi có dịp đi ra ngoài, ngài
hay cho chúng tôi đi theo, chẳng lúc nào Đức Cha nóng nảy, la rầy. Khi chúng
tôi làm điều xấu như đánh nhau, chửi thề, Đức Cha chỉ nói đừng đánh nhau, đừng chửi
thề, Chúa không thương, Đức Cha cũng không thương. Đối với cha mẹ, Đức Cha rất
thương, nếu ai có chuyện gì xich mích với nhau, Đức Cha khuyên phải thương nhau
kẻo Chúa buồn, ở đây ai cũng đau ốm, cũng nghèo, phải thương nhau thì Chúa mới
thương.
Tôi thương Đức Cha lắm, mà ai ở trong
trại cũng thương Đức Cha. Cho đến hôm nay đã 31 năm rồi mà mọi người trong trại
không bao giờ bỏ một ngày mà không đọc kinh ở mộ Đức Cha. Những ai như chúng
tôi đã được biết Đức Cha thì thấy ít có người hiền, tốt và đúng giờ như Đức
Cha.
Hằng ngày tôi xin Đức Cha cho chúng tôi
giữ đạo Chúa, khỏe mạnh và cầu nguyện cho những người giúp đỡ trại chúng tôi.
Lúc nào nhìn hình Đức Cha để trên bàn thờ nhà tôi, tôi cũng cám ơn Đức Cha đã
cho tôi một gia đình và 11 đứa con và những đứa cháu khỏe mạnh, gia đình đủ ăn
mặc, tôi rất nhớ và biết ơn Đức Cha. Không có tình thương và sự chăm sóc của
Đức Cha và các mẹ thì gia đình tôi đã bị phân tán mỗi người một nơi và sống
trong cảnh khổ cực cả hồn lẫn xác.”
Trên đây
là những chứng từ rất cụ thể và sống động về con người, đức tính của Đức Cha
Gioan Cassaigne. Còn biết bao nhiêu chứng từ khác nữa vẫn còn in dấu sâu đậm
trong trái tim của những người từng là bệnh nhân của Đức Cha, tuy họ không nói
ra thành lời, nhưng có lẽ trong trái tim họ, Đức Cha Gioan Cassaigne chiếm một
vị trí rất quan trọng ; và hằng ngày, hằng giờ họ luôn nhớ đến, cảm tạ, tri ân
và cầu nguyện cho Đức Cha, cho những người bằng cách này hay cách khác đã giúp
đỡ họ cả về vật chất lẫn tinh thần.
Chúng ta
tin chắc rằng giờ đây Đức Cha đang được cùng các thánh chung hưởng nhan thánh
Chúa trên trời. Ở đây ngài sẽ biết nhiều hơn, ngài sẽ thấy rõ hơn các nhu cầu
của đoàn con. Xin Đức Cha cầu bầu cùng Chúa cho con cái của ngài, những người
nghèo khổ, bệnh hoạn tật nguyền, biết tìm ra thánh ý Thiên Chúa trong nỗi bất
hạnh của mình, biết trông cậy vào tình yêu của Thiên Chúa, hầu sống xứng đáng
là con cái của Cha trên trời.
Đức cha Phêrô Nguyễn văn Nhơn thắp hương và cầu nguyện trước mộ Đức Cha Gioan Cassaigne. |
Đức cha Phêrô chủ sự Giờ Thánh cầu nguyện cho Đức Cha Gioan ngày 30-10-04. |
Đức cha Phêrô và các bệnh nhân viếng mộ ĐC Cassaigne sáng ngày 1-11-2004, lễ Các Thánh. |
AMOR ET CARITAS |