Dom. Jacques Marie GUILMARD, Dòng Biển-Ðức

“ÔNG CỐ” GIÁM MỤC CÙI,
ĐỨC CHA JEAN CASSAIGNE
(Trích trong EPHATA,
từ Trang Liên Lạc Cựu Chủng Sinh Chủng Viện
Thừa Sai Kontum)
1.
TUỔI THƠ
Ngày 30 tháng 1 năm 1895, tại tỉnh Grenade trên sông Adour vùng Landes
(Pháp) sinh ra một cậu bé tên là JEAN CASSAIGNE. Chúng ta đang ở xứ Gascogne,
xứ sở của Ba Chàng Ngự Lâm, xứ sở của lòng quảng đại và sự vui tươi. Ở đó có
rất nhiều nhà Thừa Sai. Tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy họ đem Tin Mừng đến tận
cùng thế giới : họ vừa hạnh phúc nhìn thấy thêm một cháu trai mới và hãnh diện
về Đức Tin của mình, đến độ muốn đem chia sẽ cho tất cả mọi người.
Jean là con một của ông Joseph Cassaigne, một thương gia buôn bán rượu
nho, và của một bà mẹ xinh đẹp tên là Nelly. Song thân Cậu yêu thương Cậu rất
mực. Bà của Cậu, vốn là mẹ đỡ đầu của Cậu, cũng hết sức âu yếm Cậu, mặc dù Bà
nhận thấy cậu bé thật tinh nghịch.
“Tôi làm những gì tôi muốn về Jean, song nó thật không chịu đựng nỗi”,
Bà của cậu đã nói như thế. Và cậu bé trả lời : “Bà ngiêm khắc đấy, nhưng cháu
làm những gì cháu thích”.
Với óc tưởng tượng – thứ mà Jean có rất nhiều – con suối của làng có thể
trở thành sông Hudson hoặc sông Mississipi và được cậu dùng cho các cuộc thám
hiểm người da đỏ. Cậu và các bạn nhỏ của Cậu khi thì làm người da đỏ Hurons,
lúc lại thành dân da đỏ Iroquois. Một ngày nọ, Mắt-Chim-Ưng – chính là Jean –
nằm cho trôi trên sông Mississipi, trong người vẫn mặc quần áo, như một tử thi,
để tránh bị cầm tù bởi kẻ địch. Cư dân Grenade, khi nhìn cảnh tượng này, không
tưởng tượng được đó là chuyện về người Da Đỏ. Họ hoảng hốt chạy tới vớt cậu bé
lên, trong khi cậu ta dẫy dụa và trách cứ người lớn là chẳng hiểu gì hết : “Đó
chỉ là trò chơi thôi mà !”. Trò chơi, có thể lắm, nhưng dù vậy, cậu bé đã bị bố
Cậu cho một trận đòn nhớ đời.
Jean đạo đức và ngay thẳng, linh lợi và vui tươi như một sinh vật hạnh
phúc vì được sống.
2.
NẢY SINH ƠN GỌI LINH MỤC VÀ THỪA SAI
Jean thích những sách về phiêu lưu mạo hiểm. Cậu đọc những sách về người
da Đỏ ở Mỹ Châu. Cậu cũng đọc ngấu nghiến các chuyện kể về các Vị Thừa Sai, sau
khi khám phá trong một nhà kho mà Cậu hay tới ẩn nấp, những cuốn sách làm Cậu
say mê. Trong một cái hòm, có bộ sưu tập những Biên Niên Sử Về Truyền Bá Đức
Tin, kể lại cuộc đời những nhà truyền giáo đã sang Châu Phi, Châu Á và cả Bắc
Cực rao giảng Tin Mừng cho các dân. Cậu đọc ngấu nghiến những chuyện kể về Cha
Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), một Linh Mục Dòng Tên người Pháp đã sang Viễn
Đông, trong một miền mà ngày nay gọi là Việt Nam. Đó là một vùng xa xăm, nhưng
từ năm 1906, Jean có những tấm bưu thiếp đến từ đó. Cậu mê mẫn nhìn nét chữ Tàu
kỳ bí in ở trên bưu thiếp. Những tấm
bưu thiếp này là cả một gia tài đối với Cậu. Năm ấy Cậu lên 11.
“Và nếu chính mình trở thành Thừa Sai thì sao nhỉ ?” Cậu tự nhủ như thế.
Yù tưởng ấy cứ quay lại thường xuyên trong đầu của Cậu. Mẹ cậu đã dạy Cậu những
kinh đầu tiên. Được ở trong ban ca đoàn, Jean thích giúp lễ. Những khi ấy, Jean
rất nghiêm trang. Làm cho người khác nhận biết Chúa Giê-su, dạy các dụ ngôn và
đi tận cùng thế giới : ý tưởng này cứ lẫn vẫn trong Cậu. “Mẹ mình sẽ nghĩ thế
nào ?”
Năm 1907, Jean được rước lễ vỡ lòng. Đó là dịp để Cậu hỏi mẹ. Một chút
trước khi nghi lễ bắt đầu, Cậu cho mẹ biết ước ao của Cậu được làm Linh Mục và
Thừa Sai. Mẹ cậu bắt đầu khóc. “Tại sao mẹ lại khóc, hả mẹ ? Nên Linh Mục và
Thừa Sai, là một Ơn Gọi tuyệt vời đấy chứ !”. Thật sự, Bà Nelly Cassaigne không
khóc vì ân hận, mà khóc vì hạnh phúc khi biết con bà được Chúa gọi. Jean cảm
thấy mẹ thấu hiểu Cậu và được mẹ nâng đỡ vô bờ. Nhưng bà cũng báo cho cậu biết
là cha cậu sẽ chẳng muốn cho Cậu một tương lai như vậy, đứa con một mà ông ấy
yêu thương, nhưng lại muốn làm kẻ thừa kế của ông.
Bà Nelly Cassaigne bị bệnh lao phổi nặng. Jean rất đau khổ về điều ấy.
Khi Cậu rước lễ vỡ lòng, mẹ Cậu đã không thể có mặt tham dự. Các tuần lễ kế
tiếp thật buồn bã. Thỉnh thoảng Bà nội lại đưa Cậu xa khỏi căn phòng Mẹ cậu
nằm. Bà cố gắng an ủi Cậu. Nhưng Nelly Cassaigne đã từ trần ngày 18 tháng 8 năm
1907.
Jean sẽ luôn gắn bó với người mẹ và Cậu cầu xin Đức Trinh Nữ Ma-ri-a
hằng ngày với chuỗi hạt mà mẹ Cậu để lại. Lòng tôn sùng của Jean đối với Đức
Ma-ri-a luôn trung kiên và sâu thẳm.
3.
HỌC VIỆC BUÔN BÁN RƯỢU
Vào năm học 1907, Jean được gửi đến Saint-Sébastien ở Tây-ban-nha, trong
một trường trung học kỹ thuật do các Sư Huynh La-san điều hành. Cậu phải học
nghề của bố. Cậu sẽ là nhà buôn rượu, ít ra là cha cậu nghĩ như thế. Các học sinh
trong trường hầu hết là người Pháp. Nhưng đạo luật chống Ki-tô-giáo của năm
1901 đã buộc các tusĩ biệt xứ khỏi nước Pháp và định cư bên kia biên giới. Cậu
bé hài lòng về chổ ăn học, nhưng cậu thiếu vắng mẹ ; sự xa cách bố dần dà biến
chuỗi ngày này thành một thời gian thử thách và càng hơn nữa khi đầu óc tính
tóan mà một thương gia tương lai phải học, lại không phải là thế mạnh của cậu.
Điều làm Jean đau khổ nhất, là không được chuẩn bị bản thân cho tương lai Linh
Mục và nhà Thừa Sai của cậu. Tất nhiên, Jean biết cười và làm cho kẻ khác cười
vui. Về điểm này thì cậu chẳng hề thay đổi.
Trong suốt giờ học một ngày Chúa Nhật năm 1908, các học sinh nội trú tỏ
ra khá kích động sau một cuộc đi dạo chơi. Sư Huynh Zéphyrin canh chừng chúng.
Về phần Jean Cassaigne, như mọi tuần, khoe với anh bạn hàng xóm tấm bưu thiếp
xứ Bắc Kỳ nổi tiếng của cậu, chẳng mấy chốc mà tấm bưu thiếp chuyển từ hộc bàn
này sang hộc bàn khác kèm theo những tiếng thì thầm nhỏ. Vị Sư-huynh đã nhìn
thấy hết, liền can thiệp : “Đưa cho Sư Huynh tấm bưu thiệp. Sư Huynh tịch thu
nó”.
Các học trò lại tiếp tục học, nhưng Jean thì không tài nào học được nữa.
Cậu nghĩ về tấm bưu thiếp. Cuối giờ học, cậu đi tìm gặp vị Sư Huynh để đòi lại,
không có vẻ giữ lịch sự lắm. “Trả lại cho trò ư ? Nhưng điểm hạnh kiểm của trò
rất xấu, vị Sư Huynh trả lời, và tấm tiếp này có gì đặc biệt nào ?” – “Nhưng
thưa Sư Huynh, nó đến từ Bắc Kỳ. Điều đó quan trọng với con”. – “Tại sao ?” –
“Vì con sẽ làm Thừa Sai và một ngày kia con sẽ đi sang xứ Bắc Kỳ”.
Sư Huynh Zéphyrin bị ấn tượng bởi giọng nói chân thành của cậu, đã trả
tấm bưu thiếp lại cho cậu và cho cậu học trò chuồn đi, hân hoan vì đã lấy lại
được tài sản.
Nhưng dù vậy Jean vẫn càng ngày càng hiếu động và lơ đãng. Vị Sư Huynh
đã nhìn thấy rõ dưới bề ngòai hời hợt của cậu bé, một con tim ngay thẳng và sâu
xa và cố gắng bảo vệ cho cậu, nhưng năm kế đó, Sư Huynh giám đốc nhận thấy cậu
rất ít tiến bộ , đã không đồng ý nhận cậu lại. Jean và Bố phải quay về, từ
Saint-Sébastien đến Grenade, không ai trao đổi lời nào, trong sự im lặng nặng
nề. Bố cậu không hài lòng. Ông thương cậu con trai và cậu cũng yêu bố, nhưng
ông vẫn chưa chấp nhận ơn gọi của cậu. Phải chia cách với đưa con trai là cả
một hy sinh quá to lớn đối với ông. Ông sẽ hy sinh, nhưng còn phải cho ông thời
gian.
Và như thế, Jean Cassaigne bắt đầu học việc buôn bán rượu bên cạnh bố.
Cậu duy trì thói quen đi xe đạp và trong các cuộc đua, cậu thường về nhất. Cậu
dần đi vào cuộc sống trưởng thành. Đó là một chàng trai nhảy tuyệt vời đưa tay
mời Angèle hoặc Ferdinande với nụ cười mê ly nhất. Cha cậu tặng cho Cậu một
khẩu súng, hy vọng rằng thú đi săn sẽ xóa tan ý tưởng điên rồ muốn đi đến tận
cùng thế giới kia. Dù vậy ông bất chợt thấy chàng trai trẻ đang lần chuỗi hạt
trong góc hầm rượu. Joseph bị đánh động bởi vẻ trang nghiêm ấy, nhưng ông giả
vờ như không thấy gì.
Jean thấy thời gian trôi qua chậm chạp. Bán rượu, không, việc này chẳng
phải là công việc của cậu ! Sự kém hứng thú về nghề buôn bán đã khiến cậu phạm
nhiều vụng về lóng ngóng. Bố cậu mất kiên nhẫn. Ông cảm thấy ông không thể ngăn
đứa con trai vuột khỏi mình.
Một hôm, Jean đã phạm một điều vụng về nghiêm trọng hơn. Số là khi cậu
phải đánh sang tỉnh bên cạnh, Mont-de-Marsan, một cỗ xe ngựa chở một thùng rượu
lớn, loại Saint-Emilion, thì con ngựa trượt chân. Chiếc xe đổ nhào. Jean nhảy
mau xuống và tìm cách gỡ con ngựa đang nằm kẹt giữa hai càng xe, nhưng thùng
rượu lớn đã bị bật nắp do chấn động mạnh và loại rượu qúy chảy tràn cả mặt
đường. Ông bố giận cành hông : “Cỡ như mày chỉ làm được ông một cha xứ mà thôi
!”. Joseph Cassaigne đành để cậu con trai theo tiếng gọi của Chúa. Phản ứng này
chẳng qua chỉ là cách để ông khỏi mất thể diện. Ông thất bại, nhưng lại không
muốn thú nhận điều ấy công khai, bởi như thế tức là nói Jean không có khả năng
trở thành nhà buôn rượu. Về phần người bố, sự đau buồn vì chia ly với cậu con
trai sẽ còn kéo dài rất lâu.
4.
NGƯỜI CHỦNG SINH THẾ CHIẾN THỨ NHẤT
Tất nhiên là Jean không trở thành Thừa Sai ngay. Cậu phải học bù lại
tiếng latinh, thần học, v.v... Cậu muốn gia nhập Hội Thừa Sai Paris mà Cậu
thuộc lòng địa chỉ từ lâu : 128, Phố Du Bac, Paris 7è.
Một trường tông đồ đón nhận Cậu năm 1913 học một năm chăm chỉ và bình
yên. Ngôi trường nằm ở Saint-Lô, vùng Normandie. Jean vui sướng vì đã tìm được
con đường của mình. Mùa Đông đến, khi trời đổ ưa và trở gió, Jean thấy nhớ cái
nắng ấm vùng Grenade. Cậu tự phân công mình làm “người sưởi ấm” cho phòng học.
Mọi người có thể yên trí : lửa không bao giờ tắt trong bếp lò.
Nhưng năm học sau mau chóng bị gián đọan. Chiến tranh chống nước Đức nổ
ra ngày 2 tháng 8 năm 1914. Tất cả nhân dân Pháp – người trẻ và người không còn
trẻ – đều vùng đứng lên trong một “liên minh thánh” chống lại kẻ thù xâm lăng.
Đó là khởi đầu của Thế Chiến Thứ Nhất sẽ kéo dài 4 năm, từ 1914 – 1918. Jean
gia nhập quân đội dù chưa đủ tuổi, tình nguyện chiến đấu cho đến hết chiến
tranh. Cậu sẽ ở quân ngũ 5 năm. Nhờ đó cậu biết đời sống trong các chiến hào
lạnh lẽo và ẩm ướt, đào sâu trong lòng đất, ở đó người lính gắng để tránh thoát
đạn pháo của quân Đức. Các cuộc chiến đấu thật gian nan, chết người và vô ích :
chiến tranh tiếp diễn.
Vị bác sĩ giải phẫu quân y cần một y tá. Jean tình cờ có mặt ở đó và ông
được thâu nhận. Trong nhiệm vụ này, cậu chứng kiến những đau thương tận cùng,
vì các binh sĩ thỉnh thoảng bị thương rất nặng. Jean học được sự can trường thể
chất và chín mùi cái nhìn Ki-tô Giáo về sự sống và sự chết. Cậu thấy các binh
sĩ quảng đại hiến sự sống mình cho tổ quốc ; các ki-tô hữu phải quảng đại dâng
sự sống cho con người và cho Thiên Chúa. Tất cả điều ấy có một ý nghĩa, vì mục
đích con người sống trên trái đất chính là đời sống vĩnh cữu trên trời. Chịu
đau khổ chính là dịp hy sinh để dâng cho Chúa. Nếu ta dâng đau đớn cho Chúa,
thì đau đớn không ngăn cản ta được hạnh phúc, trái lại là đằng khác.
Một thương binh bị cụt một chân và Jean Cassaigne cầu nguyện thế này :
“Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, xin hãy cất mạng sống con, con dâng mạng sống con cho
Chúa. Nhưng nếu con sống sót, xin Chúa giữ cho con đôi chân để con có thể trở
thành nhà Thừa Sai”. Từ năm 1916, Jean làm công tác người đạp xe của bộ chỉ
huy, với nhiệm vụ mang các chỉ thị vượt qua các chiến tuyến. Cậu sử dụng và làm
hư cả thảy 11 chiếc xe đạp cho công tác này. Đó là một công tác đòi hỏi sự tháo
vát và lì lợm. Cậu phải vượt qua giữa các lằn đạn quân thù, trong một vùng bị
chiến tranh tàn phá.
Sau cùng, nước Pháp đã chiến thắng và ngày 11 tháng 11 năm 1918, Hiệp
Ước được ký kết. Jean Cassaigne thấy mình được gắn huy chương chiến tranh : Anh
Dũng Bội Tinh. Nhưng chàng còn phải chờ cho đến tháng 9 năm 1919 mới được trở
về nhà ở Grenade. Khi sắp ra đi, chàng đi xe đạp gửi trả chiếc cuối cùng của
chàng : nó còn sử dụng được. Đó là chiếc thứ 12 !
Qua cuộc thử thách lớn lao này, Jean Cassaigne đã đạt đến sự trưởng
thành nhân cách toàn vẹn. Chàng sẽ cống hiến hết mình khi đến dâng mình làm
Thừa Sai. Nhưng trước khi lên đường, chàng trai phải lấy chỗ của mình ở
Saint-Lo để nhập học năm 1919. Những học sinh vùng Landes và Basques đông ;
giờ chơi, họ lập thành một nhóm chơi banh ném hằng ngày không biết mệt mỏi.
Sau đó, chàng trai đến ở Chủng Viện Hội Thừa Sai Paris để tiếp tục học
thần học. Chàng dậy sớm : 5 giờ sáng ! Dưới chân cầu thang, chàng dừng lại một
lát trước tượng Thánh Théophane Vénard. Chàng xin Chúa : “Lạy Chúa, xin hãy làm cho con xứng đáng dõi bước theo thánh nhân”.
Chàng thường giúp lễ cho một Linh Mục về từ Trung Quốc hoặc Nhật Bản. Chàng
Chủng Sinh là trung tâm của một sinh hoạt truyền giáo đều đặn và mỗi ngày đều
nhận được những lá thư đến từ Châu Á, được viết bằng tiếng Hoa, tiếng Nhật, tiếng
Triều Tiên, tiếng Cam-bốt, tiếng Thái...
Cuối cùng, thứ bảy ngày 19 tháng 12 năm 1925, Jean Cassaigne thụ phong
Linh Mục trong Nhà Nguyện Chủng Viện Hội Thừa Sai Paris. Chàng trở thành “Cha
Cassaigne”. Ông Joseph Cassaigne có mặt trong ngày lễ và hãnh diện về cậu con
trai của mình. Thứ tư ngày 6 tháng 4 tiếp đó, nghi lễ đưa tiễn chính thức diễn
ra. Người ta gióng quả chuông đã được đưa từ Trung Hoa về vào thế kỷ 18. Trong
Nhà Nguyện, ca đoàn xướng lên bản hát do Charles Gounod sáng tác. Mười vị Thừa
Sai sắp ra đi, sắp hàng ngay Bàn Thờ. Cha Bề Trên, các giáo sư, các chủng sinh,
thân nhân đi qua trước họ, quỳ gối và hôn chân những kẻ sắp đăng trình rao
giảng Phúc Âm.
Tân Linh Mục được phái đến Sài-gòn ở Nam Kỳ, phía Nam của nước Việt Nam
hiện tại. Cha Jean Cassaigne đã thực hiện ước mơ thời tho ấu : trở thành Linh
Mục và Thừa Sai. Thiên Chúa đã đặt trong tim Ngài ơn gọi phụng sự Chúa và giúp
đỡ mọi người. Những giai đọan thật khác biệt của thời tuổi trẻ bổng nên một
trật tự trong việc hiệp nhất lại thành On Gọi Thừa Sai của Cha. Với Cha, hiển
nhiên là bàn tay Chúa hành động trên từng giây phút cuộc đời Cha. Mỗi người, dù
nam hay nữ, phải tìm cách để nhận ra hành động của Chúa trong tất cả mọi biến
cố cuộc đời mình.
NHỮNG BƯỚC ÐẦU TRUYỀN GIÁO
5.
SỨ VỤ THỪA SAI TẠI NAM KỲ
Cha Cassaigne được giao nhiệm vụ gì và ngày 5 tháng 5 năm 1926, Ngài đến
nơi nào ?
Việt Nam (lúc ấy người ta chưa dùng tên này) nằm ở Đông Nam Châu Á. Phía
Bắc là Trung-Hoa ; phía đông và phía nam là biển ; ở phía tây, là Lào và
Cao-Miên. Miền Bắc Việt Nam gọi là Bắc Kỳ (Tonkin, chính là vùng ngày trước
Jean nhận được bưu thiếp gửi về) ; miền Trung là xứ An Nam ; phía Nam gọi là
Nam Kỳ (Cochinchine) với thủ đô là Sài-gòn. Lào, Cao-Miên và 3 Miền của Việt
Nam thành lập Đông-Dương Pháp, với danh nghĩa là thuộc địa và đất bảo hộ. Người
Pháp thường dùng chữ người An Nam (Annamites) để chỉ về dân Việt Nam.
Người An Nam chỉ cư ngụ ở các vùng thấp trũng ven các con sông và bờ
biển. Họ tránh những vùng núi nhung nhúc muỗi mòng truyền bệnh sốt rét. các
Linh Mục Dòng Tên đã đem Ki-tô-giáo đến cùng Đông-Nam-Á ngay đầu thế kỷ thứ 17.
Các Linh Mục Hội Thừa Sai Paris và các Cha Dòng Đa-minh người Tây Ban Nha kế
tục họ. Giáo hội địa phương từ lâu đã chịu nhiều cuộc bắt bớ tệ hại. Năm 1926,
các vị Thừa Sai, nhất là các Cha thuộc Hội Thừa Sai Paris, rất đông. Các Vị
cộng tác với hàng Giáo Sĩ An Nam dồi dào ơn gọi. Ngừơi Công Giáo ở trong các
làng mạc và trung tâm rất sống động, chiếm khoảng 10% dân số.
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, nóng, rất nóng. Dân chúng che ánh
nắng mặt trời cháy bỏng bằng cách đội lên đầu một loại nón. Khi đến mùa mưa,
những cơn giông lắm khi trút xuống như thác đổ. Vì vậy mà có nước ở khắp mọi
nơi. Trên các con kênh nối các nhánh của sông Mekong, giao thông rất nhộn nhịp
: thuyền buồm, tàu hơi nước, ghe có mui, thuyền độc mộc. Cây cối phong phú
không giống chút nào với vùng Landes : những cây tre khổng lồ và những cây lá
buông thật cao, những cây chuối với lá rộng bản và những cây mít trĩu nặng trái
to lớn. Rất nhiều loại cây cối mà Cha Casaigne chưa hề biết. Thảm thực vật cũng
rất đa dạng. Ngoài các thành phố, thì nhà cửa được lợp bằng lá ; tre thì dùng
làm hàng rào. Có người Pháp nào mà chẳng ngán sợ khi phải đi qua những cái cầu
khỉ, những cầu di động làm bằng dây bện lại, treo lơ lửng trên các kênh rạch ?
Trong những đồng bằng, là những ruộng lúa thẳng cánh cò bay, ở đó đàn
ông và phụ nữ cấy lúa, chân tay đều ngâm trong nước.
Cha Cassaigne được Đức Giám Mục Sàigòn tiếp đón và sai đi đến một Giáo
Xứ vùng quê để học tiếng Việt. Ngôn ngữ này làm người Tây Phương ngạc nhiên vì
giọng nói và tính độc âm. Cha Cassaigne học rất nhanh, nhưng Ngài không hài
lòng với việc coi sóc một Giáo Xứ toàn tòng, vì một Thừa Sai thì phải mang Tin
Mừng cho những kẻ chưa tiếp nhận được Phúc Âm Chỉ mấy tháng sau, Giám Mục của
Ngài cử Ngài đi thành lập điểm truyền giáo Di Linh (Djiling) trên Cao Nguyên,
cách Sài-gòn 170 cây số về hướng Đông Bắc. Vùng núi non này chia tách Nam Kỳ
với Cao-Miên.
Mới non một nửa thế kỷ, các bản đồ để trống vùng này với ghi chú : ”Các vùng đất hoang sơ”. Ở đó sinh sống những
người “mọi” hay “người bán khai”. Họ là những dân tộc rất đa tạp, cư ngụ trên
các vùng cao nguyên này từ rất lâu. Ở đó có những người da đen tóc xoăn có thể
có họ hàng xa với người Papou. Người Srê và người Mạsinh sống quanh Di Linh .
Họ tránh xa những tiến bộ kỹ thuật và sự phát triển văn hóa của họ rất đơn sơ.
Đàn ông và phụ nữ của các bộ lạc này có tâm tình tự nhiên rất hiền lành và hòa
nhã, lại rất hiếu khách. Chưa có người ngoại quốc nào học ngôn ngữ của họ,
tiếng Kơho chưa có tự điển, bởi vì người dân tộc không hề biết đến chữ viết.
Đối với Cha Cassaigne, đây là cái mới mẻ. Đúng là một sứ vụ cho người
Thừa Sai. Sự thích nghi sẽ mất nhiều thời gian, nhưng Cha rất vui sướng. Những
khó khăn có thể tiên đoán được chẳng làm Cha sợ hãi, vì “chịu đau khổ không ngăn trở người ta có hạnh phúc”, như chính Cha
đã viết. Ngài đến nhiệm sở mới vào tháng 1/1927. Trung tâm của Xứ Đạo là một
xóm nhỏ gọi là Di Linh. Trong căn phòng lớn nhất của ngôi nhà mới, Ngài đặt làm
Nhà Nguyện. Đó là nơi Ngài sẽ dâng Thánh Lễ. “Lạy Chúa, Chúa đang ở nơi nhà
Ngài đây”. Ngài máng khẩu súng vào một cái móc. Vị Thừa Sai đã tặng súng cho
Ngài, quả quyết Ngài sẽ dùng tới nó : “cho dù chỉ là để giết mấy con hổ”. Trên
ngọn đồi đối diện, vị Linh Mục nhìn thấy những ngôi nhà lợp rạ của người dân
tộc. Những cái chòi này với hai mái nhọn thẳng, được xây trên mấy cái cọc.
Người ta trèo lên sàn bằng một cái thang thô kệch.
Làm thế nào để tiếp cận với người dân tộc ? Kẹo cho bọn trẻ, tất nhiên
rồi. Thuốc sợi cho người lớn, đàn ông và đàn bà, vì nơi này, mọi người đều hút
thuốc ngay từ khi còn rất nhỏ. Chỉ một thời gian rất ngắn, Cha Cassaigne được
mọi người tán đồng, đến mức ông chủ làng đã mời Ngài uống, trong một cái ché
chung, thứ rượu gạo mà người dân tộc say mê. Nhưng chính bọn trẻ mới là những
người thầy đầu tiên dạy tiếng Kơho cho vị khách mới đến. Vạn sự khởi đầu nan.
Dần dà, vị Thừa Sai tiến bộ và có thể xuất bản một cuốn tự điển ngắn gọn. Nhưng
Ngài còn phải mất bao nhiêu thời gian nữa để thật sự có thể nói về Chúa bằng
ngôn ngữ này ?
6.
BỆNH PHONG (CÙI)
Người dân nơi đây rất đơn sơ. Y phục của họ thật tối thiểu : đàn ông chỉ
bận một cái khố quấn quanh hông, phủ ra trên đùi phía trước ; đàn bà thường thì
mặc váy, nhưng thỉnh thỏang lại cuộn mền. Người dân tộc thường ăn uống rất kém
vì thiếu tiên liệu, bởi người Thượng sản xuất ít lương thực. Bệnh tật thì
nhiều, nhất là sốt rét (với những cơn sốt) do muỗi truyền bệnh. “Tại sao ông
Nô-ê lại cho lên tàu cái giống muỗi mòng này nhỉ ?”. Cha Cassaigne tự hỏi.
Những cơn sốt gây ra những cơn đau đầu dễ sợ, những cơn ớn lạnh dữ dội, những
cảm giác nóng lạnh. Người nào cố đứng dậy, sẽ bị chóng mặt quay cuồng. Những
cơn sốt quật ngã cả những người hùng dũng nhất và thỉnh thoảng giết chết họ.
Nhưng căn bệnh đáng sợ nhất lại là BỆNH PHONG CÙI. Đó là một tai ương mà nhân
loại chịu đau khổ từ lâu. Trong Phúc Âm, bệnh phong cùi được dùng làm gương để
chỉ tình trạng tội lỗi gậm nhắm linh hồn. Quả thật, nó tấn công da và hũy hoại
các chi thể con người. Những ngón tay rụng dần. Mắt hết thấy đường. Người bệnh
phong cùi chứng kiến mình bị hủy hoại từ từ. Những cách chữa trị hiệu quả chưa
có vào thời ấy.
Cha Cassaigne bắt đầu đi thăm các thôn ấp quanh vùng Di Linh. Nhờ cái
bọc thuốc tây, Ngài sơ cứu nhiều bệnh nhân và băng bó cho họ. Ngài chiếm được
lòng tin của tất cả mọi người. Các bệnh nhân phong đến nhà Ngài nhận sự chăm
sóc chữa trị và chút ít thức ăn. Nhiều người đến thường xuyên. Một người đàn bà
đã mười lăm ngày chưa thấy đến, Vị Thừa Sai đi tìm bà, như Mục Tử tốt lành đi
tìm chiên lạc, như Chúa Giê-su đã nói. Ngài tìm thấy bà ta đang hấp hối trong
cái chòi tách biệt khỏi cái làng bỏ hoang, nằm trong bóng tối, ngay trên mặt
đất. “Chúa đáng chúc tụng ! Con đã tìm ra người đàn bà !”
Bà ta chọn lựa chết ở đây. Ánh mắt bà ngước lên nhìn về phía người Linh
Mục : “Thưa ông cố, xin Ngài hãy tránh xa đi. Ngài chẳng thể làm gì cho tôi
được đâu !”. Vị Thừa Sai ngồi xuống, nói với bà về Thiên Chúa : “Chúa là Cha
chúng ta và Ngài muốn điều lành cho ta. Con đừng sợ”. Đây là lần đầu tiên Ngài
nói vậy bằng tiếng Kơho. “Chúa sẽ đón con vào thiên đàng, nơi đó con sẽ được
vui mừng luôn mãi. Con sẽ đổi cái áo hoa lấy sắc đẹp vĩnh cửu. Chúa yêu người
bị phong cùi và hết thảy mọi lòai thọ tạo”.
“Con phải làm gì, thưa Cha ?”. Người đàn bà hấp hối hỏi. – “Con hãy dâng cho Chúa các đau khổ con chịu
và hãy tha thứ cho những kẻ đã hất hủi con”.
Lòng nhân hậu của Vị Thừa Sai đã thuyết phục được người phụ nữ và bà
đồng ý chịu rửa tội. Ngài chạy đi tìm nước, vì trong lều không có. Rồi Ngài cho
bà ta uống, lau sạch mặt cho bà, s au cùng cho bà chịu bí tích rửa tội với tên
thánh Ma-ri-a. Bà lập lại theo Ngài những câu trong kinh Lạy Cha, mà Ngài dịch
ra tiếng Kôhô. Maria kiệt sức. Vị Linh Mục lần chuỗi trong khi chờ bà ta thiếp
ngủ. Ngày hôm sau, bà mệt hơn. “Thưa ông cố, con sẽ nhớ đến ông cố nơi thiên
đàng”, người đàn bà nói trước khi chết. Cha Cassaigne tự mình đào một ngôi
huyệt. Cái cột tế lễ người Sré được dùng để làm một cây thập giá và dựng lên.
Hôm ấy là ngày 7.12.1927, ngày áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Đối với vị Thừa Sai, sự trở lại đầu tiên của người Thượng là một người
đàn bà bị phong cùi. Ngài hạnh phúc vì đã mang ơn cứu chuộc đời đời đến cho bà,
người mà thế gian coi như rác rưởi, trong khi bà là con cái Chúa như bất cứ
người mạnh khỏe nào. Người đàn bà phong cùi sẽ giữ lời hứa và người ta có thể
nghĩ rằng những hoa trái tốt tươi mà công lao vị Thừa Sai đem lại, cậy nhờ rất
nhiều ở Ma-ri-a, người đàn bà Sré đầu tiên trở thành Kitô hữu.
“Đó là món quà lễ mà Mẹ Thiên Chúa gửi tặng tôi. Tôi đi đến nhà nguyện
đọc một kinh Magnificat với hai hàng lệ chan chứa mừng vui”.
7.
LÀNG PHONG VÀ NHỮNG VỤ GẶT ĐẦU TIÊN
Một thời gian ngắn sau lần rửa tội này, một hôm khi vừa từ trong rừng đi
ra, Vị Thừa Sai bị một nhóm người cùi với bộ dạng đáng sợ chặn lại. Ngài trở
lại chòi tranh, tay lần chuỗi hạt, cầu nguyện cùng Đức Bà. Họ cản đường Ngài :
“Thưa Ông Cố, chúng con quá bất hạnh. Ông Cố hãy làm điều gì đó giúp chúng con
. Xin Ông Cố thương xót chúng con”. Vị Linh Mục hứa sẽ suy nghĩ. Lúc ấy họ mới
nới ra và để cho Ngài đi qua. Nhưng Ngài chẳng thể suy nghĩ thực sự, nếu chưa
cầu nguyện. Ngài đến trước Mình Máu Thánh để hỏi Chúa Giê-su Thánh Thể điều
Ngài phải làm. Câu nói : “Xin Ông Cố thương xót chúng con” vang trong đầu Ngài
: đó là câu mà mười bệnh nhân phong cùi đã nói, khi Chúa Giê-su gặp họ. Ngài
thấy đó một dấu hiệu.
Ít lâu sau, Vị Thừa Sai đề nghị với các bệnh nhân phong cùi xây dựng một
làng sẽ thành làng của họ. Sẽ không còn một người bệnh phong cùi nào bị hất hủi
: mỗi người sẽ được chăm sóc, được cho ở, dạy dỗ và nếu sẵn sàng, thì sẽ được
Rửa Tội. Bởi không thể chữa lành những thân thể bị bệnh quá nặng nề, Cha
Cassaigne xoa dịu các tấm lòng và chữa lành linh hồn họ. Quả nhiên, chỉ ít lâu
sau đã mọc lên một đám nhà tranh do chính người phong cùi dựng lên, được một số
người khỏe mạnh giúp đỡ. “Xây dựng, nghĩa là không chết”, vị Linh Mục nói. Ngài
thán phục nghị lực của những bệnh nhân tật nguyền. Những bệnh nhân phong cùi
biết yêu thương nhau. Họ tìm thấy ở đó sức mạnh giúp họ sống và làm việc.
Ngôi làng giống như một ngôi nhà, ở đó Vị Linh Mục quy tụ con cái mình.
Bởi vì đối với vị Thừa Sai, những ngừơi cùi chính là con cái của Ngài. Và Ngài
luôn gọi họ như vậy. Ngài lo lắng cho những người cùi như một người cha lo cho
con cái. Mỗi tuần ba lần, Ngài tự tay chăm sóc họ và băng bó lâu giờ.
Ngôi làng chính nhanh chóng lớn ra này, giống như tất cả mọi ngôi làng
mà người ta tìm thấy trên thế giới. Có một người phụ trách. Có những công việc
làm : những bệnh nhân lành lặn hơn thì trồng cây ăn trái và rau quanh lều của
họ. Rất kỷ luật trật tự.
Lại còn có những ngày lễ nữa chứ. Ngày lễ đầu tiên là ngày khánh thành
làng mới vào tháng 4 năm 1929. Khởi đầu bằng một Thánh Lễ ngoài trời. Thánh Lễ
vừa mới chấm dứt, thì một tiếng chiêng dóng lên, có lẽ do một bệnh nhân cùi nôn
nóng. Tất cả mọi người cười ồ lên. Ngày lễ bắt đầu. Một số đàn ông mặc quần do
Cha Cassaigne tặng. Mọi người hút thuốc xả làng, ngay cả những người đã cụt mất
các ngón tay và tất cả mọi người đến bên mấy vò rượu, hút uống bằng những cái
vòi tre. Thực phẩm dồi dào : canh rau, cá nướng, sâu cây béo ngậy, thịt heo
rừng phơi khô. Thịt trâu được thưởng thức tận tình. Không giới hạn cơm mà người
ta cho ớt vào cay xè. Mọi người vô cùng hài lòng. Tiếng cười đầy ắp. Ngày hội
mà, một ngày hội đáng nhớ. Những người cùi trở lại làm người như những người
khác.
Cha Cassaigne tổ chức những buổi chiếu phim, với những thành công của
phim Charlot thêm vào chương trình chiếu. Ai cũng hiểu các phim câm thuở ấy,
ngay cả những người chỉ nói tiếng Kơ-ho ! Người cùi cười hô hố. “Nụ cười cũng
là một thành phần thuốc chữa bệnh”, cha Cassaigne giải thích với tính hài hước
cố hữu. Đó là Ngôi Làng của Niềm Vui.
Rất mau sau đó, làng có Nhà Nguyện cho rất đông anh em cùi trở lại đạo.
Một ngôi làng có thể là làng của niềm vui, nếu không có một Nhà Nguyện dành cho
đông đảo người cùi trở lại đạo ư ? Một ngôi làng có thể là làng của niềm vui
sao, nếu như không có một Nhà Nguyện ở đó vị Linh Mục cầu nguyện với con cái
của Ngài ? Không thể có niềm vui thật sự và bền vững, nếu không có cầu nguyện.
Các nhân chứng tham dự những buổi cầu nguyện của người cùi, rất cảm động khi
nghe giọng nghiêm trang và sâu trầm của người dân tộc, thấy nó khác biết bao
với giọng cầu nguyện của người An Nam.
Chúng ta hãy rời làng người cùi và trở lại đàng sau một chút. Giữa những
người Thượng ở Di Linh có những cuộc trở lại đạo. Người dân tộc đầu tiên trở
thành Ki-tô hữu là một thanh niên hai mươi tuổi, Giu-se Braé, được cử hành lễ
rửa tội vào ngày 19 tháng 3 năm 1930. Đó là một món quà của Thánh Giu-se tặng
Cha Cassaigne vốn rất tôn sùng Thánh Cả. Gương của Giu-se Braé mau chóng được
bắt chước và cả nhà của Braé đã được Rửa Tội vào đêm Giáng Sinh năm ấy.
Nhà Nguyện đặt trong nhà của Vị Thừa Sai không còn đủ chỗ nữa. Cũng cần
có một Nhà Nguyện thật sự cho nơi đó. Vị Linh Mục làm thợ mộc, họa sĩ, v.v...
và chẳng bao lâu sau, mọc lên một tòa nhà đơn sơ mà Ngài gọi là nhà kho tinh
thần. “Tôi đã có một nhà tạm thật sự. Được tự nhủ rằng : ta chẳng đơn độc, thật
là một niềm an ủi lớn lao. Tôi biết rằng có Đấng đang nghe tôi, mỗi cuối ngày,
khi tôi đến kể cho Người những nhọc nhằn và vui mừng của tôi”.
8.
ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT
Với Cha Cassaigne, trường học cung cấp phương tiện tiếp xúc thường nhật
với người dân tộc và dịp tốt để nói với họ về Thiên Chúa. Nhưng chẳng phải dễ
dàng gì. Các trẻ em Sré con của núi rừng, tự do như cơn gió, không chịu được sự
bó buộc và không biết trường học là cái gì. Chạy, nhảy, leo trèo cây cối hợp
với chúng hơn là ngồi một chổ, chăm chú trước mặt thầy giáo. Không có phần
thưởng nào ngoài việc phân phối thuốc hút. Bị cắt thuốc hút là một hình phạt
rất nghiêm khắc và rất khó chịu.
Những cuốn sách giáo khoa đầu tiên đến từ Sài-gòn. Dần dần, phải học đọc
và học viết tiếng Kơ-hô và một chút tiếng Pháp. “Các Bạn không thể tưởng tượng
được sự ngạc nhiên và niềm vui của những đứa bé này, khi chúng bắt đầu đánh vần
; chúng đi từ khám phá này sang khám phá khác ; D và A viết là DA, theo tiếng
Kohô là nước ; T và I đọc là TI, nghĩa là bàn tay ; S và O đọc là SO, con chó. Nhưng
chỉ vắng mặt một thời gian ngắn, Vị Thừa Sai gặp lại các học trò của mình đang
rất hài lòng với những điếu thuốc lá loại mới của chúng. Vị Linh Mục tái xanh
mặt. Các trang sách bị xé và cuốn thuốc điếu. Đứa nhỏ nhất lớp đang loay hoay
tiếp tục cuộn và liếm giấy in một cách vụng về. Vị Thừa Sai tìm ra được một
giải pháp. Ngài cho đem từ Pháp sang 17 cái ống vố cho đám học trò, mỗi đứa một
ống vố ; điều khiến chúng hết sức vui mừng và tránh cho sách vở bị phá họai.
Chỉ có những bài học tổng quát. Còn cần những môn thực hành. Một thùng xà-phòng
của Marseille tới nơi và người ta bận rộn khui nó. Vị Linh Mục cắt nghĩa cách
sử dụng. Người ta tập tắm rửa, tắm cho các em bé và giặt đồ. Sự vệ sinh tiến
bộ.
Người dân tộc thích thú tham dự bài học Giáo Lý được dạy giữa trời. Đến
để nghe vị Linh Mục nói là một thú giải trí : ngài là một người kể truyện tuyệt
vời. Những câu truyện rất đơn sơ của Ngài về cuộc đời Chúa Giê-su khiến họ
thích thú. Họ hiểu các dụ ngôn của Phúc Âm, như dụ ngôn hạt giống tốt nẩy mầm
trên đất tốt. Ngài đề nghị với họ Chúa Giê-su và những lời giảng dạy của Chúa
như mẫu gương cho cuộc sống đời thường.
Ngài đã cho ra một tập sách Giáo Lý nhỏ và một cuốn kinh bằng tiếng
Kôhô. Ngài chú thích : “Đức Trinh Nữ sẽ có được thú vui hoàn toàn mới mẻ : nghe
trẻ nhỏ người Sré cầu nguyện bằng tiếng Kơ-ho”.
Cha Cassaigne dốc toàn tâm toàn lực cho công việc Thừa Sai. Sức khỏe của
Ngài bị hao hụt đều đặn và Ngài thường bị kiệt sức. Bệnh sốt rét tái xuất hiện
rất đều. Vị Linh Mục ngưng lại. Ngài đuối sức lắm rồi và thỉnh thoảng Ngài mê
sảng. Khi sức khỏe hồi phục, Ngài lại lạm dụng nó không chừng mực cho tới…lần
lên cơn sau. Năm 1932, thấy vị Thừa Sai suy kiệt, các bề trên của Ngài bắt Ngài
trở về Pháp tịnh dưỡng. Cha Cassaigne rút ngắn tối đa sự vắng mặt của Ngài và
khi đã trở lại, Ngài tự hứa “sẽ chẳng để lộ ra vẻ ốm đau bệnh hoạn nữa”.
Ngài mau chóng đáp ứng những sự cần thiết cho người cùi. Nhu cầu tiền
bạc sẽ là một nỗi lo đè nặng trên Ngài đến cùng. Để nuôi sống, chăm sóc, lo cho
ăn mặc, lo cho người nghèo ăn ở, suốt đời Ngài phải tìm kiếm các ân nhân vừa có
lòng hảo tâm vừa tặng cho tiền bạc.
Trong Giáo Xứ Di Linh, ngày càng có nhiều người Việt bên cạnh người
Thượng, vì vùng này bắt đầu được các nhà trồng trọt người Pháp khai thác và họ
đem nhân công từ Bắc Kỳ vào. Chung quanh thành phố, các đồn điền cà phê trù
phú. Người ta dễ tin rằng có một lớp tuyết phủ nhẹ các cánh đồng, mỗi khi cà
phê ra hoa trắng xóa và tinh khiết. Cha Cassaigne rất mau được biết đến và thán
phục khắp cả Nam Kỳ.
Năm 1938, ba Nữ Tu người Pháp, Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh-sơn, đến để chăm
sóc các bệnh nhân cùi và giúp đỡ vị Thừa Sai đã vất vả 12 năm, chưa kể đến sự
mệt nhọc và những cơn sốt hành hạ định kỳ. Soeur Marie-Thérèse, Soeur
Marie-Claire và Soeur Laurence sẽ trọn đời ở lại phục vụ các bệnh nhân phong
cùi. Đối với các con cái thân yêu của Ngài bị bệnh, Đức Cha Cassaigne mong muốn
”có những tâm hồn đồng cảm hơn là tâm hồn của một người đàn ông, hầu an ủi
những khốn khó lớn lao này : những trái tim người mẹ, những trái tim của các Nữ
Tu”.
9.
GIÁM MỤC SÀIGÒN TRONG THỜI BIẾN LOẠN
Thế Chiến Thứ Hai nổ ra ngày 1.9.1939. Nam Kỳ là một thuộc địa Pháp. Ban
đầu, mọi sự vẫn yên tĩnh, vì xung đột khởi đầu ở tận bên Châu Âu xa xôi. Nhưng
cuộc sống của cha Cassaigne sắp thay đổi một cách bất ngờ. Ngày 20.2.1941, ngài
nhận được một bức điện tín khiến ngài buồn bã. Thật là bất thường khi nhìn thấy
ngài trong trạng thái này, đến nỗi người ta phải dò hỏi ngài ! “Họ đã tấn công dồn dập bắt tôi làm Giám
Mục”, ngài càu nhàu trả lời. Quả thật, Đức Giám Mục Sàigòn vừa qua đời năm
vừa rồi và Tòa Thánh tìm một người để kế vị trong thời kỳ khó khăn này, và đã
chọn vị Linh Mục của người phong cùi. Vị Thừa Sai phải rời bỏ Di Linh. Sự chia
ly rất đau lòng cho cả hai phía : anh em Thượng và nhất là những bệnh nhân
phong cùi mất người cha của họ ; vị Linh Mục phải xa con cái ngài. Dù vậy vị
Thừa Sai không do dự vâng lời Tòa Thánh với đức tin và can trường. “Tôi là kẻ từng mơ thành một Thừa Sai tầm
thường. Tôi, kẻ đã coi sự nghèo khó của mình là niềm hãnh diện và niềm vui, lại
trở thành một hoàng tử của Giáo Hội. Nhưng, dù người ta sẽ thay y phục và chỗ ở
của tôi, song chẳng ai thay được con người chất phác nơi tôi”. Khẩu hiệu “Bác
Ái và Yêu Thương” do ngài chọn, đã nói lên điều đó rất nhiều.
Trong một tờ nhật báo tháng 2 năm 1941, một người Việt Nam mô tả chân
dung Ngài : “Cha Cassaigne là một vị Thừa Sai đích thực, một vị Tông Đồ đích
thực của Chúa Ki-tô và là một người Pháp đích thực. Ngài đã đến để yêu thương
người dân bản xứ, để sống cho họ và với họ, để đem lại cho họ nhiều điều thiện
hảo của đạo Công Giáo và văn minh Pháp. Ngài làm tôi nhớ lại khẩu hiệu của
Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, quan thầy các nhà Truyền Giáo : YÊU THƯƠNG,
PHỤC VỤ, MỈM CƯỜI. Bản thân tôi cũng bị nụ cười của Ngài chinh phục. Vì cha Cassaigne,
chính là SỰ VUI VẺ, SỰ ĐƠN SƠ, LÒNG NHÂN HẬU, nghĩa là sự thánh thiện đích
thực”.
Ngày 24.6.1941, ngay từ 7 giờ sáng, chuông các Nhà Thờ Sàigòn đồng loạt
đổ vang, báo tin lễ tấn phong Đức Cha Cassaigne. Nghi lễ diễn ra ở Nhà Thờ
Chính Tòa. Đám đông ken dày : có những bạn bè đến từ khắp nơi ... và đại diện những
anh em Thượng đi thành đoàn. Các anh em Thượng bận y phục ngày lễ ; họ làm
khách tham dự thấy vui thích, mặc dù nhiều người An Nam tỏ ra khó chịu trước
cảnh tượng ấy. Nghi lễ Phụng Vụ dài, quá dài đối với anh em Thượng. Họ liền rời
chỗ để đi tham quan tháp chuông. Khi ra khỏi Nhà Thờ Chính Tòa và bị đám đông
xô lấn khiến họ hoảng sợ, họ liền trèo lên cây cao để nhìn đám rước. Đức Cha
Cassaigne mỉm cười khi nhìn thấy họ.
Tân Giám Mục bắt tay vào công việc. Đó là một con người đơn sơ. Lối vào
Tòa Giám Mục rộng mở tự do và bất cứ ai cũng có thể gõ cửa văn phòng của ngài.
Các nhân chứng ngày nay vẫn còn nhớ lại đã thấy ngài đi xe đạp hoặc xe Vespa
thăm các khu nghèo ở Sài-gòn. Ngài dong duổi khắp địa phận rộng lớn của Ngài.
Người Nhật nhảy vào cuộc chiến bên cạnh người Đức và đã xâm nhập Bắc Kỳ
ngay từ tháng 7 năm 1940. Một năm sau, tháng 9.1941, họ chiếm đóng Đông Dương
về mặt quân sự. Sự hiện diện của họ ban đầu cũng không khó chịu đựng, nhưng với
thời gian, tình hình trở nên ngày càng khó khăn hơn. Từ năm 1943, Sàigòn chịu
nhiều trận bom của máy bay Mỹ. Đức Cha Cassaigne, tay cầm một cái vên, là một
trong những người đầu tiên đi đào bới những người bị thương dưới các đống đổ
nát, cũng tận tụy và can đảm như khi ngài làm y tá trong thời Đệ Nhất Thế Chiến
hoặc chăm sóc bệnh nhân phong cùi.
Nhưng rồi sẽ còn nghiêm trọng hơn nhiều. Ngày 9.3.1945, quân Nhật làm
một cú đảo chánh vũ lực chống người Pháp : họ cai trị trực tiếp lãnh thổ và gây
cho dân chúng đói khát. Đông Dương sống những giờ phút bi thảm. Những người
Pháp ở Nam Kỳ nhận được lệnh quy tụ về Sàigòn. Đức Cha Cassaigne cầm đầu một Ủy
Ban Cứu Trợ của Pháp để đón tiếp người tị nạn. Ngài làm việc tận tụy không bờ
bến để tìm lương thực. Phụ trách những người không tiền bạc, giải quyết những
rất nhiều vấn đề khó khăn cho nhiều ngàn người tìm đến. Hai lần ngài bị cảnh
sát Nhật bắt giữ vì bị tình nghi.
Ngày 15.8.1945, nước Nhật đầu hàng sau khi bị ném bom nguyên tử ở
Hiroshima và Nagasaki, nhưng tình hình chính trị ở Đông Dương sục sôi cách
mạng. Đầu của Đức Cha Cassaigne được ra giá. Một tấm biển gắn vào Nhà Thờ Chính
Tòa còn cho biết giá được hứa thưởng. Phải mất nhiều tuần lễ để cho tướng
Leclerc, đến từ Pháp ngày 5 tháng 10, có thể bình định được Nam Kỳ. Trong các
tháng sau đó, những rối ren tiếp tục và chẳng bao lâu sau bắt đầu cuộc Chiến
Tranh Việt Nam lần thứ nhất. Về phía Việt Nam, họ muốn có độc lập chính trị và
sự ra đi của người Pháp. Cuộc chiến dai dẳng và khắc nghiệt, vì nó mang hình
thức chiến tranh du kích.
Đất nước bị giằng xé. Tình hình rối ren : người tốt trộn lẫn với kẻ xấu.
Tất cả những khuynh hướng và định hướng chính trị hoặc ý thức hệ va chạm nhau ...
Giữa những biến cố bi thảm này, Đức Cha Cassaigne thành công trong việc duy trì
một sự hiệp nhất tinh thần nhất định và hành động cho hòa bình. Thái độ siêu
nhiên của ngài khiến mọi người, ngay cả các đối thủ của ngài, phải cảm phục.
Các Linh Mục Sàigòn dâng Ngài bức thư bày tỏ sự hậu thuẫn đối với ngài. Ngày
16.10.1945, ngài nhận một vinh dự bất ngờ từ một người Nhật. Khi đầu hàng, các
sĩ quan Nhật phải giao thanh kiếm danh dự của họ ; đại tá Amano, quân phục tề
chỉnh, lựa chọn việc giao thanh kiếm của ông ta, vốn thuộc về dòng họ của ông
từ thế kỷ 16, cho Đức Giám Mục Sàigòn.
Dù thế, đời sống của Giáo Hội vẫn tiếp tục và người ta thông báo có 4 vị
Thừa Sai người Pháp mới sẽ đến trên chuyến tàu sắp tới. Các Nhà Thờ quá nhỏ và
quá ít so với số bổn đạo ngày càng đông. Phải xây dựng lại những Nhà Thờ bị bom
làm sập nát hư hại. Đức Cha Cassaigne không quên một ai, nhất là các tín hữu
sống trong những vùng nguy hiểm, không thể tiếp cận với các Linh Mục. Ngài tiêu
hao sức chẳng quản ngại, không kể gì đến sức khỏe đang sa sút và những đợt sốt
cách nhật. Mặc dầu có thể bị phục kích tấn công, tháng 12.1951 ngài tổ chức một
Đại Hội Thánh Thể. 100.000 người tham dự cuộc rước kiệu và cầu nguỵện cho hòa
bình.
SỐNG,
CHỊU ĐAU KHỔ và CHẾT NƠI ĐÂY
10.
VỊ GIÁM-MỤC CÙI – TRỞ VỀ DI LINH
Tình trạng chiến tranh kéo dài nhiều năm. Nhưng năm 1954, sự bại trận ở
Điện Biên Phủ đã được những người Việt Minh tận dụng về mặt chính trị. Họ đạt
được thắng lợi to lớn trong Hiệp Định Genève tháng 7.1954 dàn xếp xung đột và
đánh dấu chấm dứt sự hiện diện của nước Pháp tại Việt Nam.
Về phần các vị Thừa Sai, các ngài ở lại. Ngay từ năm 1953, Đức Cha
Cassaigne đã làm đơn từ chức gửi Tòa Thánh, để nhường chỗ cho một Giám Mục Việt
Nam. Quả thật chuyện người Việt Nam nắm trong tay việc điều khiển Giáo Hội của
họ là điều hết sức bình thường. Nhưng Đức Thánh Cha Piô XII không muốn thay đổi
Giám Mục Sàigòn trong một thời kỳ tế nhị như vậy. Phần sau của năm 1954 hết sức
cực nhọc đối với Đức Cha Cassaigne. Ở Miền Bắc Việt Nam chính quyền cộng-sản
được thiết lập. Rất đông những người di cư rời miền Bắc vào Sàigòn. Sau một thời
gian ngắn ở thành phố, họ được phân tán về các tỉnh. Trong vòng 6 tháng, có
800.000 người đã được đưa vào Sàigòn, trong đó có 200.000 người Công Giáo, phải
lo chỗ ăn, chỗ ở và ủy lạo. Đức Cha Cassaigne đã cống hiến hết mực. Ngài đã vắt
kiệt sức lực của mình.
Quả thật, ngày 19.12.1954, vào ngày kỷ niệm thụ phong Linh Mục của Ngài,
Đức Cha Cassaigne dâng Thánh Lễ Tạ Ơn. Nhưng trong khi cử hành Thánh Lễ, ngài
thấy trên mặt da mình, chỗ phía trên cổ tay một chút, có một vết đỏ hồng màu
rượu. Khi Thánh Lễ kết thúc, ngài lấy một cái kim châm vào chỗ ấy : hoàn toàn
không cảm thấy đau ! Ngài hiểu đó là BỆNH CÙI. “Linh Mục dâng hiến tế Thánh Thể, cũng phải trở thành hy vật”, sau
này ngài sẽ viết như thế. Công việc vất vả sáu tháng vừa qua đã làm cho các bộ
phận cơ thể Ngài vốn mệt mỏi, lại bị suy yếu, đến nỗi bệnh cùi nằm phục từ lâu,
nay phát tác.
Đức Cha Cassaigne giữ bí mật tin này, chỉ cho các bề trên của ngài biết.
Thuốc điều trị do các bác sĩ cho, đã làm Ngài suy kiệt. Sẽ phải mau chấm dứt
thôi ! Vết hồng lan rộng gấp đôi. Ngày 5/3/1955, Ngài viết cho cha Bề trên Hội
Thừa Sai Paris : “Tôi xin Cha cho phép
tôi nộp đơn từ chức sang Tòa Thánh và rút lui về Trại Cùi Di Linh, bên cạnh
những con cái mà tôi yêu thương nhất và Chúa quyền uy, với lòng nhân ái vô
biên, đã cho tôi được nên giống như họ”.
Lời cầu xin của ngài được chấp thuận và Tòa Thánh bổ nhiệm một Giám Mục
kế vị Ngài, Đức Cha Si-mon Hòa Nguyễn Văn Hiền, được tấn phong trong Nhà Thờ
Chính Tòa của ngài, ngày 30.11.1955. Ngày 2.12.1955, Đức Cha Cassaigne trở về
Di Linh. Ngài “hạnh phúc vì được trở
thành Thừa Sai mà thôi”, như Ngài đã hằng mong muốn. Đức Cha Cassaigne từ
giã “nhà ngục” ở Sài-gòn. Những con cái cùi hủi của ngài đón chào sự trở về của
ngài giữa họ với tiếng reo hò mừng vui tở mở. Ngài ở trong Trại Cùi đã được di
chuyển năm 1952 cách xa hơn so với chỗ nguyên thủy. Chỗ ở của ngài là một ngôi
nhà hết sức đơn sơ, giống hệt nhà của các bệnh nhân cùi khác. Trên các bức
tường phòng, Ngài treo các kỷ vật của Thế Chiến 1914 và những tấm hình chụp,
một trong số đó mà Ngài rất ưa thích là những giờ dạy Giáo Lý. Đức Cha Cas-saigne
sẽ sống ở chỗ này cho đến ngày ngài từ trần, 18 năm sau.
Mỗi buổi sáng, ngài đi từ lều này sang lều khác, lo cho sức khỏe và các
nhu cầu. Cuối buổi sáng, ngài dạy giáo lý cho trẻ nhỏ. Sau buổi trưa, ngài dừng
lại trước các ngôi nhà và ghi lại những thứ cần mua ở tỉnh cho người cùi –
không khi nào quên mua thuốc điếu. Bất cứ trong trường hợp nào, ngài cũng tỏ
bày một lòng nhân ái không giới hạn. Ngài thường lặp đi lặp lại : “Chỉ có những sự được chia sẻ mới là tốt”.
Đối với các bệnh nhân cùi, ngài tổ chức các ngày lễ hội. Vốn là dân Gascon
chính tông, Đức Cha Cassaigne luôn vui vẻ và cười tươi tit mắt, luôn chỉ cho
thấy khía cạnh tốt của mọi sự và thích làm kẻ khác cười.
Khách đến thăm ngài rất đông. Ngài nói một chút với họ, rồi dẫn họ tới
các ngôi nhà để giới thiệu với họ các bệnh nhân, như một người cha giới thiệu
gia đình mình với khách mời. Hơn bao giờ hết, ngài là “người cha với các con
cái”. Người ta không thể là bạn hữu của ngài, nếu không là bạn của những người
cùi. Đức bác ái của người dễ lây truyền, đến nỗi không ai kháng lại được.
Năm tháng trôi qua. Rất nhiều sự đổi thay. Vùng đất phát triển. Có
khoảng một chục nhà Thừa Sai làm việc trên Cao Nguyên, Các Vị đem nhiều làng
trở lại đạo toàn bộ và xây trường lớp. Bên cạnh họ, các Linh Mục Việt Nam bắt
tay vào việc. Trại cùi mở rộng. Bệnh nhân cùi bây giờ lên đến hàng trăm và rất
nhiều người là Ki-tô-hữu. “Họ sống gần như là các tu-sĩ. Hơn nữa, họ vui vẻ và
rất hòa thuận với nhau. Quả là một thiên đàng hạ giới”, Cha Cassaigne đánh giá
như vậy.
Chiến tranh tiếp diễn, nhưng làng những bệnh nhân cùi sống xa các cuộc
giao tranh. Vào tháng 5.1966, Đức Cha Cassaigne mở radio và nghe giọng nói của
cha Boutary trình bày trong buổi phát tôn giáo đầu tiên bằng tiếng Kơ-ho. Những
lời cầu nguyện trong Thánh Lễ, được đóng khung bằng các bài hát tiếng Thượng,
được đọc theo cung bình ca như làm nền âm thanh. Vị Giám Mục cảm động lắng nghe
sự lạ này : người ta nói về Thên Chúa trong đài phát thanh bằng tiếng Kơ-ho !
11.
ĐAU ĐỚN VÀ NIỀM VUI – CÁI CHẾT
Suốt cả cuộc đời, Đức Cha Cassaigne là một bệnh nhân mang trọng bệnh. Sự
đau đớn phát xuất từ bệnh cùi của ngài gần như hết chịu đựng nỗi, vì cho dù
trong trường hợp của ngài, bệnh ít lộ ra ngoài da, thì nó lại tấn công các
trung tâm hệ thần kinh. Năm 1970, các bệnh cũ của ngài trở nặng : sốt rét, cột
sống bị gặm nhấm và dạ dày “không chịu nổi được cả rượu lễ, thật đáng giận cho
con trai của một nhà buôn rượu”, ngài nói vậy. Cuối tháng 10.1971, xương đùi
ngài bị gãy và buộc ngài không rời khỏi giường được nữa.
Mặc dầu nhiều khốn khó như vậy, nụ cười vẫn không rời môi ngài và làm
thành nhân cách của ngài, ngay cả khi cơn đau bủa vây Ngài. Đức Cha Cassaigne
luôn là người có niềm vui sâu xa, niềm vui đến từ một tâm hồn an bình với Chúa,
với bản thân và với tha nhân. Làm sao có thể buồn bã, bởi vì sự đau đớn, nếu
được dâng cho Chúa bằng cả tình yêu, sẽ đem lại ơn cứu chuộc cho con người và
cứu thóat nhân lọai ? Vì vậy mà trong Tám Mối Phúc Thật, Chúa Giê-su đã hứa ban
hạnh phúc cho những ai chịu đau khổ vì Danh Người. Một ngày nọ, một nữ tu nói
với Đức Cha Cassaigne rằng nếu ngài được chữa trị ở Pháp thì tốt hơn. “Thưa
soeur, – ngài trả lời – tôi là người Pháp, nhưng trái tim tôi ở Việt Nam. Tôi
muốn SỐNG, CHỊU ĐAU KHỔ và CHẾT NƠI ĐÂY”.
Những ngày giờ cuối cùng của đời ngài, không một thế nằm nào làm giảm
nhẹ cơn đau được nữa. “Ôi cái khung cốt
của tôi”, ngài rên lên. Đó là cách mà ngài nói về cột sống của ngài. Năm
1972, cơn đau khiến ngài không thể cử hành Thánh Lễ trong vòng 7 tháng. Đối với
ngài đó là cả một sự thiếu thốn to lớn. Thế rồi, nhờ thuốc làm giảm đau, Ngài
lại tiếp tục dâng lễ. “Thật vui mừng thay !”. Trong một lá thư, Ngài viết
nguệch ngoạc : “Tôi hạnh phúc, một niềm
hạnh phúc mà chỉ có ân sủng mới cắt nghĩa được”.
Danh tiếng người của Thiên Chúa thật lớn. Ngay khi ngài còn sống, người
ta đã sưu tầm những chứng cớ về nhân đức của “vị thánh Giám Mục”.
Tháng 10.1973 là thời điểm cận kề cái chết của ngài. Đức Cha Cassaigne
nói lớn : “Nếu cần phải làm lại từ đầu,
thì tôi sẽ vẫn đi lại con đường này”. Trong bưu thiếp cuối đời đề ngày
12.10.1973. Ngài viết : “Tôi rất đau đớn.
Chúa hẳn yêu thương tôi vô vàn”. Ngài từ trần ngày 31.10.1973.
Người ta mặc cho Ngài áo và mũ miện như thể ngài sắp cử hành Thánh Lễ
cuối cùng. Một đoàn người đông đúc diễu hành trước quan tài. Trong 5 ngày 5
đêm, những bệnh nhân cùi còn khỏe mạnh mặc tang phục trắng – áo không có ống
tay và bịt khăn tang – thay nhau canh thức thi hài người cha thân yêu của họ.
Ngày 5.11, Lễ An Táng hết sức long trọng. Một lễ đài được dựng lên ngoài
trời . Những cổng chào dựng khắp con đường mới dẫn đến Trại Cùi được trải đá và
nhựa đường cho dịp này. Người ta đến như khách hành hương đi viếng mộ một vị
thánh. Hơn 3.000 người, cả người giàu lẫn kẻ nghèo, Công Giáo lẫn Phật Giáo đã
đến tham dự Lễ An Táng. Người ta đem “Ông Cố” về lòng đất.
Một người Kơho phong cùi tên là K’Gil, đã làm chứng điều anh ta nói với
người quá cố : “Cha đã chỉ cho chúng con con đường thật về Nước Trời. Cha đã
dạy chúng con biết chịu đau khổ. Cha ơi, khi còn sống, cha đã muốn nên giống
hoàn toàn như chúng con, cha đã muốn bị phong cùi như chúng con : xin Cha hãy
cầu nguyện cho chúng con”. Người cha của các bệnh nhân cùi đã là một con người
của an bình và hiệp nhất ; một con người yêu thương giữa hận thù ; một con
người nghèo về của cải vật chất và giàu có về niềm vui Thần Khí ; một con người
đã biến đau khổ thành hy sinh vui mừng để cứu rỗi thế gian.
Sau Thánh Lễ, chính anh em Thượng khiêng quan tài. Họ bước đi theo nhịp
nhạc tang, đến ngôi mộ được xây lên cạnh tháp chuông, nơi mà Đức Cha Cassaigne
ước ao được chôn cất. Một cây thập giá trắng lớn được dựng lên, trên tấm đá lớn
có khắc khẩu hiệu của Vị Giám Mục : “BÁC ÁI và YÊU THƯƠNG”.
Ở Di Linh luôn có người cùi. Họ cầu nguyện trên mộ Đức Cha Cassaigne. Họ
nói với Đức Cha. Họ âu yếm gọi ngài là Bác trên trời của họ. Ngày nay, trên mộ
ngài bao giờ cũng đầy hoa tươi. Rất đông người đến cầu nguyện xin ơn. Họ thường
xuyên được nhận lời. Một Nhà Thờ ở Sài-gòn gắn rất nhiều những tấm bảng tạ ơn
do ngài cầu bầu với Thiên Chúa. Người ta còn nói về cả những phép lạ mà những
kẻ đến cầu nguyện nhận được.
12.
NGƯỜI CỦA CẦU NGUYỆN – MỘT SỐ BẠN
THIẾT NGHĨA CỦA ĐỨC CHA CASSAIGNE
Đức Cha Cassaigne là một người chuyên tâm cầu nguyện. Mỗi ngày, người ta
thấy Ngài đi lại, tay cầm chuỗi hạt hoặc cầu nguyện trước Thánh Thể. Thánh Lễ
là trung tâm một ngày sống của Ngài. Ngài không bao giờ bỏ qua việc chuẩn bị
dâng Thánh Lễ và tạ ơn sau Hiệp Lễ. Nơi ngài, không hề có sự khoe khoang bề
ngoài. Ngài không ngừng cầu nguyện : đó là một con người quen với sự hiện diện
của Thiên Chúa và Ngài múc lấy từ Thiên Chúa sức mạnh tinh thần mà Ngài ban lại
cho người khác, đặc biệt là cho anh em bệnh nhân phong cùi.
Chúng ta hãy kể một vài người bạn thiết nghĩa của Đức Cha Cassaigne.
Trước hết, đó là Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Khi nói đến Mẹ Ma-ri-a, ngài không quên
tính hài hước. Ngài đã kể lại như sau về một giai thoại xảy ra ngay khi ngài
mới tới Di Linh. “Có một vị Thừa Sai
– tất nhiên là cha Cassaigne nói về chính mình – đã mất công vô ích lôi kéo thanh niên Thượng bằng thuốc hút, nhưng điều
ấy chẳng đủ để đem họ trở lại đạo. Vị Linh Mục cất ống vố và lôi chuỗi hạt ra,
nghĩ rằng chỉ có Đức Ma-ri-a, Cửa Thiên Đàng, có thể mở lòng những con người
đáng thương này giùm ngài”. Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã nhận lời ngài và được
Chúa ban cho rất đông anh em Thượng trở lại đạo.
Đức Cha Cassaigne rất yêu mến Thánh Giu-se, quan thầy của bố ngài, nhưng
cũng là quan thầy của Việt Nam. Với vị Thánh coi sóc Chúa Giê-su và Đức Mẹ
trong cuộc sống hằng ngày này, Ngài đặc biệt hay kêu cầu mỗi khi có nhu cầu vật
chất cần xin. Vì, như chúng ta đã nói, cha Cassaigne luôn đi quyên xin tiền bạc
để nuôi ăn, nuôi mặc và chăm sóc những con cái bị phong cùi của ngài. Thánh
Giu-se rất quảng đại đối với ngài. Người ta nhớ lại rằng việc rửa tội cho người
Thượng đầu tiên diễn ra đúng ngày lễ kính Thánh Cả Giu-se, ngày 19.3.1930.
Cùng với Thánh Giu-se, Thánh Phan-xi-cô At-xi-di cho cha Jean Cassaigne
mùi vị của sự đơn sơ và lòng yêu thương người nghèo khổ. Cuối cùng, Đức Cha
Cassaigne yêu mến trẻ nhỏ, vì chính ngài cũng có một tâm hồn bé thơ. Ước gì
những người trẻ tuổi không bao giờ quên gương sáng và lòng nhân hậu của Vị Giám
Mục và vị Thừa Sai này.
13.
Ở XỨ “MỌI”
Ta hãy xem Đức Cha Cassaigne giới thiệu các bạn người Thượng của Ngài
thế nào ở Vichy vào tháng 9/1950. Ngài không thêm mắm muối. Nhưng tính hài hước
trẻ thơ khiến ta đoán giọng của tiếng Ngài nói diễn tả một sự gắn bó sâu xa và
ý định làm cho ta yêu mến những anh em Thượng ấy. Việc ngài thuộc về một nền
văn minh phát triển là một trợ giúp để làm nẩy sinh hoa trái các tài năng của
ngài ; nó để cho trách nhiệm – dựa vào đó chúng ta sẽ bị xét xử – hoàn toàn làm
vì sáng danh Chúa và vì ơn cứu rỗi thế gian.
Những người Thượng mà Đức Cha Cassaigne biết, chung chung là những con
người hiền lành. Họ bị những cao trào phát triển xua đuổi cũng vì tính hiền dịu
của họ. Do không bị nhu cầu nào thúc giục, họ chỉ cần những gì tối thiểu nhất
cho cuộc sống. Dù vậy, được lương tri hướng dẫn và nhờ hành động của Thần Khí
luôn tác động nơi tâm hồn mọi người có thiện tâm, người Thượng vùng Di Linh đã
biết rèn cho họ một xã hội lành mạnh. Họ thuộc về lớp chứng nhân cuối cùng của
một lối sống khác : lối sống của trẻ thơ. Vì vậy Đức Cha Cassaigne yêu thương
họ một cách dịu dàng, như người ta yêu mến những đứa con thơ bé nhất của mình.
Ngài mỉm cười khi thấy họ sai lỗi, không phải để tán đồng các lỗi lầm ấy, nhưng
vì Ngài thấy sự phong phú của tâm hồn họ.
Đức Cha Cassaigne không chỉ dừng lại ở nụ cười. Ngài đã cho họ những
hiểu biết căn bản về óc tổ chức, nhất là Ngài đã đem cho họ ánh sáng, sức mạnh
và ân sủng của Phúc Âm. Bởi vì với bất kỳ ai, cần thiết phải biết Chúa Giê-su
Ki-tô, để có được một sự hiện hữu đầy tràn nhân bản và nhận được ơn tha thứ các
tội lỗi trước khi đón nhận phúc lộc vinh quang trên trời.
Đoạn văn sau đây tả lại tình hình cách nay 50 năm. Ngày nay, người
Thượng đã biết thủ đắc những kiến thức và cách làm tân tiến nhất. Giữa họ,
người ta thấy có 4 Linh Mục.
“Tôi sẽ dẫn các bạn đi vào một xứ mà cuối thế
kỷ trước (thế kỷ 19) chỉ có những hàng chữ ghi trên bản đồ Vùng Viễn Đông :
”vùng đất hoang sơ” ; “các sắc dân ban khai”. Các bộ tộc Kơho, Mạ, Câu Sré,
những sắc dân duy nhất mà tôi biết, hợp thành tỉnh vùng Đồng Nai Thượng, mà
trung tâm là Di Linh.
Người Kơho hoặc người Mạ thì to cao, dáng
thẳng và lực lưỡng. Không bao giờ gặp nơi họ những người lùn, những người còi
cọc hoặc dị dạng. Chẳng có chút gì gần gụi giữa những con người có làn da màu
gạch này với hàng xóm người Việt của họ.
Thuở ban đầu, bị dồn đuổi qua các thời kỳ bởi
những kẻ xâm lăng, họ chắc hẳn là những nhóm cư dân đầu tiên của vùng này. Cách
chung, họ duy trì tín ngưỡng duy linh và thờ các thần linh trên trời và dưới
đất. “Những người mọi rợ”, người ta sẽ cho là vậy ; có thể, là vì họ vẫn còn
trong giai đoạn được gọi là nguyên thủy. Cũng còn cần phải xác quyết là sự mọi
rợ này, xét theo một số khía cạnh nào đó, không vượt trên sự văn minh khai hóa
của chúng ta.
Nhân đây, xin đưa ra một chi tiết : khi một
thầy mo chữa lành một bệnh nhân, ông ta phải được trả công một con gà, một con
heo hoặc một con trâu, tùy theo mức độ bệnh nặng. Chẳng có gì công bằng hơn.
Ngược lại, nếu người bệnh chết, thì chính thầy thuốc của anh ta phải cho gia
đình, với tính cách bồi thường, một giải khăn, một ống vố hoặc một vòng đeo cổ
mà người ta sẽ đặt lên quan tài.
Bạn không thấy tập tục này là tuyệt vời hay sao ?
Tôi phải nói thêm rằng các thầy lang người
Thượng còn phải học hỏi nhiều. Ví dụ, thay vì bắt mạch chẩn đoán cho người
bệnh, thì họ cắt cổ gà kiểu như bói toán trong thời Rô-ma cổ đại và nhìn xem
chân gà quay về hướng nào. Người ta tự hỏi họ có ở trong sự thật chăng. Cũng
thế, khi thầy mo tin rằng người bệnh, trong đa phần thời gian, trước khi chịu
đánh roi thứ mười lăm, phải cảm thấy khỏe khoắn hơn không thể chối cải được.
Chí ít là người bệnh cũng hét lên, to đến nỗi người ta buộc phải tin như
vậy...”
14.
NHỮNG LÁ THƯ TỪ NAM KỲ
Sau đây là những đoạn trích từ những lá thư của Đức Cha Cassaigne, mà ta
thấy lúc nào cũng có chất hài hước. Trước hết một lá thư gửi cho họ hàng viết
tại Di Linh, ngày 29 tháng 11 năm 1933. Ngài vừa từ Pháp trở lại sau thời gian
nghỉ ngơi, song Ngài cố rút ngắn tối đa.
Thư
cho anh chị
Anh Chị thân mến,
Chị Jeanne đã có lý khi mắng tôi đã lâu rồi chẳng gửi tin tức của tôi
cho Anh Chị. Nguyên nhân thì luôn là vậy : trước hết bận bịu vô khối công việc,
và rồi cái sốt rét chết tiệt trong nhiều tháng qua từ chối buông tha tôi ! Ông
bác sĩ có lý, khi nói rằng lẽ ra tôi phải ở nán lại Pháp 5 năm, nhưng nếu mà
như thế, thì tôi lại thành suy nhược thần kinh mất – điều còn tệ hơn – và ai sẽ
chăm sóc anh em dân tộc thân yêu của tôi ?
Đấng Tạo Hóa đã làm nên mọi sự tốt đẹp và người ta sẽ sống chừng nào
người ta muốn, và rồi sau đó, chà ! chắc chắn sẽ có một chỗ trống nhỏ nào đó
trên thiên đàng để hưởng hạnh phúc trọn hảo,
cho cái ông cha xứ bé nhỏ xứ Mọi và khi ấy, sẽ hết sức an tâm : hết sốt rét, hết lo lắng và như giáo dân của
tôi hay mơ, sẽ có thuốc hút, rượu cần uống thỏa thuê.
Nhưng trong khi chờ đợi, phải giật dây cương (cho ngựa phi) và tôi hạnh
phúc vì tôi có nhiều công-việc và là công việc tích cực sống động. Cho nên đối
với tôi, thật sự là một hình phạt sám hối khi phải ngồi ở bàn giấy, để viết
thư. Tôi nói thật đấy ! hoặc để dọn các bài giảng bằng tiếng Việt hoặc tiếng
Thượng cho văn vẽ câu kệ. Không cần phải nói với Anh Chị là, để trổ tài hùng
biện, tôi chẳng cần phải tìm cảm hứng nơi Bossuet hay Lacordaire, nhưng điều
cốt yếu là bổn đạo của tôi hiểu hết được những gì tôi nói !
Đây là thời dụng biểu của tôi : mỗi tuần ba lần, tôi là y tá cùa Làng
Cùi ; ba buổi sáng khác, tôi làm thợ mộc để nới Nhà Thờ ra lớn hơn, vì bây giờ
nó đã trở nên quá nhỏ ; buổi trưa, tôi ngủ, đọc sách kinh và từ 2 giờ chiều,
ông Cha Xứ tiếp khách, Ôi trời, các khách hàng chẳng hề thiếu : thăm khám bệnh
nhân, xét xử những vụ việc nho nhỏ, Giải Tội v.v... Vào 5 giờ, tôi nhảy lên xe
đạp và đi dạy Giáo Lý cho anh em Thượng và các người Việt ; 6 giờ, trở về lại
nhà, là thời gian đến kể cho Chúa những biến cố trong ngày, lần chuỗi. Rồi là
đến bửa ăn tối do đầu bếp 14 tuổi nấu dọn, song anh chàng nấu ăn này lại luôn
tìm cách đánh đổ tất cả mọi lý thuyết nấu nướng quá khứ, hiện tại và chắc chắn
là cả tương lai.
Đó là công việc của 6 ngày và như Đấng Tạo Hóa nghỉ ngơi ngày thứ bảy,
tôi cũng làm như vậy vào ngày Chúa Nhật và đi săn những chú hoẵng, gà rừng và
một vài thứ ăn được đầy dẫy quanh nơi tôi ở. Cuối cùng, giữa những khoảng thời
gian ấy, tôi tự cho phép mình lên vài cơn sốt, cũng là dịp để nằm nghỉ. Ngày
tháng qua đi thật mau chóng và vui vẻ, tôi thấy lòng mình thỏa mãn vì có một
ngày sống từ sáng đến tối thật tròn đầy.
Năm tới, sau ngày Tết Việt Nam, vào khoảng giữa tháng Hai, Đức Giám Mục
của tôi đã hứa sẽ cho tôi một cha phó người bản xứ. Như vậy chúng tôi sẽ có hai
người cùng làm việc và sẽ có hai người cùng sốt rét. Như thế sẽ thấy được an ủi
hơn.
Cám ơn Jeannot vì 100.000 nụ hôn mà anh ấy gửi cho tôi. Tôi chưa bao giờ
nhận một lúc nhiều như vậy. Tôi gửi lại cho anh ấy 5 lần hơn thế và nhờ anh
phân phát cho Bố, Mẹ, Paillet và Dédé. Hôn tất cả với rất nhiều âu yếm.
Ký tên, JEAN.
Thư
cho ông cụ thân sinh
Thư cho người cha của ngài được viết trong
thời kỳ ở Sài-gòn còn chiến tranh. Marguerite Cassaigne chính là bà vợ kế của
ông cụ thân sinh.
Tòa Giám Mục Sài-gòn 180,
Phố Richaud, điện thoại : 20.828
Sài-gòn, ngày 30 tháng 3 năm 1948
Bố thân yêu,
Con viết thư cho Bố sau ngày Lễ Phục Sinh rất đẹp ở Sài-gòn : những nghi
thức đẹp đẽ với sự tham dự của rất đông giáo dân. Lễ nào ở Nhà Thờ Chính Tòa
cũng hầu như chật kín người đủ loại, đủ chủng tộc và màu da Á châu đứng kề sát
nhau ; trong khi đại bác thỉnh thoảng lại nổ và trời rất nóng, khí hậu mùa xuân
của chúng con là như vậy đó. Ở đây người ta cảm nhận được một sự đổi mới Đức
Tin. Con càng thấy điều ấy trong những lần kinh lý ban Phép Thêm Sức, mà con
vừa làm ở vùng ngoại ô Sài-gòn. Ở những nơi đó, người ta ghi nhận một phong
trào trở lại đạo to lớn rất khích lệ. Quả là từ hai năm nay, dân số Sài-gòn đã
tăng gấp đôi. Theo kết quả cuộc điều tra dân số vừa rồi, thực hiện vào tháng
hai này, thì dân số Sài-gòn là 1.175.000, trong đó có 16.000 người Pháp,
800.000 người Việt, 300.000 người Hoa và số còn lại gồm đại biểu của mọi sắc
dân vùng Viễn Đông. Tuần qua, lần đầu tiên kể từ khi con từ Pháp trở lại, con
đi tới một tỉnh cách Sài-gòn 70 cây số, bằng xe hơi của con, nhưng lại có xe
bọc thép vây quanh, trên một con đường bị chiến tranh tàn phá và hầu như ở mọi
khúc quanh đều có lô-cốt trang bị súng máy canh giữ. Đi kiểu này chẳng thích
thú chút nào, nhưng không thể làm gì khác hơn.
Hôm qua, thứ hai tuần bát nhật Phục Sinh, con đã đi ban phép thêm sức
trong vùng năm ngoái chưa giải quyết, một góc tồi tệ nhất của vùng ngoại ô, một
giáo xứ Việt-Nam lớn ở phía cảng biển. Cho tới bấy giờ, cái góc ấy vẫn còn được
bình định rất tốt. Hôm qua, mọi sự diễn ra tốt đẹp, chẳng cần có lính tráng gì
hộ tống. Sau nghi lễ, con còn được mời uống sâm-banh do các Giáo Dân đãi và đó
là lần thứ ba trong hai ngày, người ta tiếp đón con bằng sâm-banh, bởi vì người
Việt Nam cho rằng không thể tiếp một người Pháp, mà không đãi sâm-banh. Cũng
giống như trong các buổi tiếp tân chính thức và các Giáo Dân làm như vậy khi họ
đón tiếp Giám Mục.
Ồ, Bố cứ yên tâm, không phải trong rừng đâu, mà trong các Giáo Xứ ở
thành phố và vì từ khi trở về lại, con đi ban thêm sức trong tất cả các Giáo Xứ
ở Sài-gòn và vùng ngọai ô, khắp nơi con đều uống lọai rượu nước ta, một điều
rất tuyệt cho bệnh sốt rét. Thứ năm tới, và, than ôi, điều ấy xảy ra quá thường
xuyên, sẽ lại có một buổi tiếp tân dành cho chính phủ Nam Kỳ, rồi lại...
Sâm-banh. Chẳng có tuần nào mà con không bị buộc phải xuất hiện và trong khi
ấy, cái chiến tranh kỳ khôi vẫn tiếp tục, gây ra chết chóc thương tâm.
Ôm hôn Bố thật mạnh và cả Marguerite nữa, Bố yêu dấu.
Ký tên, JEAN của Bố.
Thư
gửi Marguerite Cassaigne (bà kế mẫu)
Sài-gòn, ngày 9 tháng 6 năm 1953
Marguerite thân yêu,
Con vội trả lời thư Dì của viết ngày 3 tháng 6. Con vẫn luôn rất bận
bịu, nhưng có những thời kỳ mà con chậm trả lời các thư tín nhận được, ấy là
khi con đi kinh lý nhiều ngày và lúc về nhà, nhìn thấy một đống thư, đúng là
khổ hình. Trong tháng 5 và đầu tháng 6, con đã đi hàng trăm cây số trên các con
đường của Miền Nam Việt Nam, đáng kể nhất là rất nhiều lần đi ban Bí Tích Thêm
Sức ở Miền Tây và vùng giáp ranh Đồng Tháp Mười, trong các cộng đoàn Công Giáo
ở đó các tín hữu tụ tập lại, nhờ được bình định an ninh.
Con giữ được một kỷ niệm êm đẹp về một lần đi kinh lý vào cuối tháng
năm, lúc con thấy lại Đức tin thật sống động của hàng ngàn người từ lâu bị bỏ
rơi. Con cũng giữ một kỷ niệm “cháy bỏng, khát khao”, vì nhiệt độ như đang ở sa
mạc Sahara, nhất là tại một Giáo Xứ mà con ban Thêm Sức cho 350 người vào lúc
hai giờ rưỡi chiều, trong một Nhà Thờ đông nghẹt, thắp vô số đèn cầy, rất nhiều
đèn sắp thành dãy trên bàn thờ và nhiệt độ hẳn phải dao động trong khoảng 45oC.
Con đã chọn giờ này, vì sau nghi lễ kéo dài 2 tiếng đồng hồ, con sẽ còn phải đi
120 cây số bằng xe hơi và vì con đường ban ngày được canh gác, song ban đêm
không được đi lại sau 18 giờ 30. Mặc dù nóng sốt, mọi sự diễn ra tốt đẹp.
Thưa Dì Marguerite yêu dấu, xin Dì hãy tha lỗi cho con vì