Mến Chúa yêu người

chỉ còn là một điều luật duy nhất

Suy niệm Chúa Nhật 30 Thường Niên, A

ĐỌC LỜI CHÚA

·   Xh 22,20-26: (20) Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập. (21) Mẹ goá con côi, các ngươi không được ức hiếp. (22) Nếu ngươi ức hiếp mà nó kêu cứu Ta, ắt Ta sẽ nghe tiếng nó kêu cứu.

·   1 Tx 1,5c-10: (5) Khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa.

 

·   TIN MỪNG: Mt 22,34-40

Điều răn trọng nhất

 (34) Khi nghe tin Đức Giêsu đã làm cho nhóm Xađốc phải câm miệng, thì những người Pharisêu họp nhau lại. (35) Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: (36) «Thưa Thầy, trong sách Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?» (37) Đức Giêsu đáp: «Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. (38) Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. (39) Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. (40) Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:


1.   600 điều luật của Cựu Ước bao gồm đủ mọi khía cạnh: thờ phượng Thiên Chúa, cầu nguyện, thực hành các nghi thức tôn giáo, giữ mình trong sạch, yêu thương và đối xử tốt với tha nhân, v.v… Nếu chưa biết lập trường của Đức Giêsu, thì theo quan niệm tự nhiên của ta, ta cho khía cạnh nào là quan trọng nhất?

2.   Theo tinh thần của Đức Giêsu, điều quan trọng nhất trong đời sống Kitô hữu là gì? Bạn có cùng quan niệm như Ngài không? Bạn đã thật sự sống theo quan niệm ấy chưa?

3.   Sống đạo mà không phân biệt được điều nào cốt yếu và điều nào phụ thuộc, nên cứ lấy chính làm phụ, lấy phụ làm chính, thì kết quả thế nào?

Suy tư gợi ý:

1.   Bối cảnh bài Tin Mừng

Người Pharisêu xếp loại các điều luật được ghi trong Cựu Ước thành khoảng 600 điều. Và các luật sĩ thường tranh cãi với nhau trong việc xếp theo thứ tự ưu tiên những điều luật quan trọng nhất. Họ không đồng ý với nhau về vấn đề này, vì phái này đặt nặng khía cạnh này, phái khác đặt nặng khía cạnh khác. Có người chủ trương coi việc thờ phượng Thiên Chúa là quan trọng nhất. Có người coi việc sống trong sạch, không nhiễm uế là quan trọng nhất. Có người coi việc giữ thật nhiệm nhặt các giới luật Môsê là quan trọng nhất. Có người coi việc cầu nguyện với Thiên Chúa là quan trọng nhất. V. v… Vì thế, một luật sĩ đã đem vấn đề này ra hỏi Đức Giêsu: «Thưa Thầy, trong sách Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?» và Ngài đã trả lời họ rằng có hai điều răn quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người.

2.   Ta coi điều gì là quan trọng nhất trong đời sống Kitô hữu?

Câu trả lời của Ngài phải khiến chúng ta xét mình lại, và đặt lại vấn đề: trong đời sống Kitô hữu hay tu đức của ta, ta đặt chuyện gì là quan trọng nhất? Ta có theo Đức Giêsu, Thầy của ta, coi hai giới luật ấy là quan trọng nhất không? Rất có thể trong thực tế đời sống ta đã không cùng một lập trường với Ngài, điều này bất lợi cho việc phát triển tâm linh của ta, làm ta sống đạo theo kiểu người Pharisêu xưa: điều chính yếu nhất thì ta coi nhẹ, còn những điều phụ thuộc thì ta lại đặt nặng (Mt 23,23). Người Pharisêu dạy dỗ dân chúng đã lấy điều chính làm điều phụ, lấy điều phụ làm điều chính, nên Đức Giêsu đã gọi họ là «quân dẫn đường mù quáng!» (Mt 23,24; x.15,24).

Đức Giêsu đã đặt tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân là quan trọng nhất, và coi tất cả những chuyện khác là nhẹ hơn. Điều đó không có nghĩa là Ngài chủ trương bỏ đi những điều phụ thuộc (Mt 23,23b).

3.   Đức Giêsu kết hợp hai điều răn quan trọng ấy thành một

Theo Đức Giêsu, không có sự tách biệt giữa tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân. Đối với Ngài, hai tình yêu này chỉ là một tình yêu duy nhất: nghĩa là hễ đã yêu Thiên Chúa thì tất nhiên phải yêu tha nhân. Không thể yêu Thiên Chúa mà lại không yêu tha nhân. Thánh Gioan cũng nói: Ai nói mình yêu Thiên Chúa mà lại không yêu tha nhân thì đó là kẻ nói dối (x.1Ga 4,20). Thánh nhân còn nói rất mạnh: «Căn cứ vào điều này mà người ta phân biệt con cái Thiên Chúa với con cái ma quỷ: phàm ai không sống công chính thì không thuộc về Thiên Chúa; ai không yêu thương anh em mình, thì cũng vậy» (1Ga 3,10). Nghĩa là ai không yêu thương anh em mình thì người ấy không thuộc về Thiên Chúa (x.1Ga 3,14b; 4,7-8).

Đức Giêsu cũng từng nói với những người Pharisêu: «Giả như Thiên Chúa là Cha của các ông, hẳn các ông phải yêu mến tôi, vì tôi phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến» (Ga 8,42). Câu này đáng cho chúng ta suy nghĩ. Một khi chúng ta đã nhận Thiên Chúa là Cha, thì ắt nhiên chúng ta phải yêu thương đồng loại là anh em của mình, vốn là hình ảnh và là hiện thân của Thiên Chúa giữa chúng ta. Có ai thật sự yêu cha mẹ mà lại không yêu những người anh em cùng sinh ra từ một khúc ruột với mình không?

Gương của Đức Giêsu cho thấy: Ngài thờ phượng Thiên Chúa và thể hiện tình yêu của mình đối với Thiên Chúa bằng cách yêu thương nhân loại và xả thân cho nhân loại. Hành động chết cho nhân loại vì yêu thương họ chính là cách thờ phượng Thiên Chúa cao cả nhất của Ngài. Đối với Ngài, thờ phượng yêu mến Thiên Chúa và thương yêu nhân loại chỉ là một tình yêu, một hành động duy nhất, không phải là hai tình yêu hay hai hành vi tách biệt. Còn chúng ta, nhiều khi chúng ta tách biệt hẳn việc thờ phượng Thiên Chúa khỏi việc yêu thương tha nhân. Chúng ta không ngờ rằng đó là một thứ rối đạo thực hành từ căn bản. Rối đạo về lý thuyết không trầm trọng bằng rối đạo trong thực hành. Thật thế, biết bao người thờ phượng Thiên Chúa một cách chăm chỉ, sáng lễ chiều kinh, nhưng sống chẳng có tình có nghĩa với đồng loại chút nào. Đúng ra, theo tinh thần Đức Giêsu, sống tình nghĩa, sẵn sàng hy sinh cho tha nhân, yêu thương những người nghèo khổ đói rách, mới là cách thờ phượng Thiên Chúa đúng đắn nhất.

Thiên Chúa muốn chúng ta yêu mến Ngài hơn là muốn chúng ta thờ phượng tôn vinh Ngài. Mà yêu mến Ngài thì không gì đúng bằng việc yêu thương tha nhân, là những hiện thân cụ thể của Ngài trước mắt chúng ta. Không phải là vô ý mà Ngài nói rằng ngày tận thế, Ngài chỉ phán xét theo một tiêu chuẩn duy nhất, là chúng ta đã đối xử với tha nhân, nhất là những người bé mọn, nghèo khổ như thế nào (x. Mt 25,31-46). Cũng không phải vô tình mà Ngài chỉ đưa ra duy nhất có một điều răn: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,34). Điều đó có nghĩa là Ngài muốn nhấn mạnh sự quan trọng của việc yêu thương nhau, và muốn chúng ta tập trung vào điều răn này.

Trong tinh thần đó, thánh Phaolô đã tóm gọn toàn bộ lề luật của Thiên Chúa vào một luật duy nhất: Yêu tha nhân. Ngài viết: «Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Mọi điều răn đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Rm 13,8-9). Chúng ta cần nhận ra tính cách mạng trong lời của ngài. Nếu Đức Giêsu và thánh Phaolô không quả quyết như thế, thì người phàm như chúng ta không ai dám nghĩ như vậy. Đó chính là một chân lý quan trọng, mới mẻ, đầy soi sáng, buộc chúng ta thay đổi nếp suy nghĩ cố hữu của mình.

4.   Cần cách mạng lối sống đạo và cách loan báo Tin Mừng

Trong cuốn «Người Mục Tử Cộng Đồng hướng về tương lai» (1996) và bài «Con đường đi tới của Giáo Hội Việt Nam hôm nay» (9-2005) của Lm Nguyễn Ngọc Sơn, linh mục cho rằng: Tỷ lệ người Công giáo Việt Nam so với số dân kể từ năm 1933 đến nay, chưa bao giờ quá 8% và đang có hướng giảm. Nếu dân số Công giáo Việt Nam giảm hoặc chỉ gia tăng theo tỷ lệ gia tăng dân số hằng năm, ta có thể nói rằng việc truyền giáo không đạt được kết quả tốt đẹp. Hơn nữa, tỷ lệ người Công giáo Việt Nam lại đang giảm dần. Vậy có thể nói đến một sự thất bại trong hoạt động rao giảng Tin Mừng không? Vì thế, các mục tử cũng như mọi người trong cộng đoàn Dân Chúa Việt Nam cần phải suy nghĩ lại về cách sống và cách loan báo Tin Mừng của mình, để xem còn có sức thu hút anh em ngoài Kitô giáo và làm phát triển Giáo Hội Việt Nam không?

Trong một giáo phận vào năm 1993 có gần nửa triệu giáo dân, hơn 400 linh mục,409 tu sĩ nam,2.086 tu sĩ nữ, chưa kể chủng sinh và mấy ngàn tập sinh, đệ tử, thử hỏi mỗi người trong số ấy đã giúp cho một người trở lại đạo Chúa hằng năm chưa? Điều đó mời gọi chúng ta suy nghĩ về cách rao giảng cũng như về việc đổi mới đời sống chứng nhân của mình. Giáo phận… có gần 200 nhà thờ đầy ắp giáo dân trong các buổi sinh hoạt phụng vụ. Nhưng chúng vẫn không thu hút được nhiều anh em lương dân trở về với Đức Kitô. Nói lên những điều này làm chúng ta thật đau lòng, nhưng để chứng minh rằng những giờ kinh lễ, các trường học, hội đoàn, tổ chức từ thiện và hoạt động bác ái chưa phải là yếu tố quyết định cho sự thành công trong hoạt động truyền giáo… điều đó giúp chúng ta nhận ra rằng cần phải thay đổi phương cách rao giảng Tin Mừng. Nếu chúng ta thay đổi được cách sống đạo và truyền đạo, chúng ta mới có thể thu hút được nhiều anh em lương dân gia nhập đàn chiên Chúa. Chúng ta không thể rao giảng Tin Mừng, dạy giáo lý và rửa tội theo phương cách hiện nay. Nhiều người Tây Phương không còn muốn giữ đạo nữa chỉ vì thấy đạo quá xa cách với đời, trong khi đó lại gia nhập các giáo phái nhỏ biết lưu tâm tới cuộc sống. Xã hội Việt Nam cũng sẽ tiến tới tình trạng dị ứng với những «nghi lễ - kinh sách - lề luật» của đạo nếu những người mục tử không tìm ra những phương thế mới để biểu lộ Tin Mừng trong cuộc sống.

Và phương cách mới ấy không gì khác hơn là trở về với tinh thần của Đức Giêsu: coi việc mến Chúa yêu người là chính yếu nhất, lấy việc yêu thương và hy sinh cho tha nhân là cách đúng đắn nhất để yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa. Cần phải nhấn mạnh và quan trọng hóa điều chính yếu này lên, đồng thời bớt quan trọng hóa những thứ phụ thuộc khác.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, đọc bài Tin Mừng này con thấy con đã đi sai đường rồi. Con đã coi nhẹ điều mà Đức Giêsu cho là quan trọng nhất, là mến Chúa và yêu người, đồng thời cứ đặt nặng những điều phụ thuộc khác. Xin cho con biết thay đổi cách suy nghĩ của con để trở về sống đúng với tinh thần Tin Mừng của Ngài.

Joan Nguyễn Chính Kết

19-9-2005


 

 


Về Trang Suy Niệm Chủ Nhật Năm A | Về Trang Nhà