Đức Thánh Cha kêu gọi dẹp bỏ mọi bức tường phân cách, thắng vượt thù hận bạo lực và dấn thân xây dựng hai quốc gia để người Israel và Palestine sống chung trong hòa bình và an ninh.

Radio Vatican 13/05/2009 – Đức Thánh Cha đã đưa ra lời kêu gọi trên đây trong ngày thứ 3 viếng thăm Thánh Địa. Hôm thứ tư 13-5-2009 Đức Thánh Cha đã có bốn sinh hoạt chính là thánh lễ ngài cử hành cho các tín hữu tại quảng trường Giáng Sinh lúc 10 giờ sáng. Vào ban chiều Đức Thánh Cha đã viếng thăm Hang Đá Giáng Sinh Bếtlehem và nhà thương Caritas Nhi đồng, trại tị nạn Aida và thăm xã giao tổng thống Palestine Mahmoud Abbas.

 Lúc 8.45 sáng Đức Thánh Cha đã lên xe rời Giêrusalem để đến Bếtlehem, cách đó 10 cây số. Xe chở Đức Thánh Cha vượt biên giới giữa Israel và vùng đất của người Palestine. Đất của người Palestine bao gồm hai vùng cách nhau 30 cây số là Cisgiordani, giáp giới với Israel và Giordania, và Gaza giáp giới với Israel và Ai Cập. Vùng đất này đã được Liên Hiệp Quốc thừa nhận, theo sau Hiệp định Oslo ký kết ngày 28 tháng 8 năm 1993 giữa chính quyền Israel và Tổ chức Giải Phóng Palestine, qua trung gian của chính quyền Na Uy. Chính phủ Palestine đặt trụ sở tại Ramallah trong vùng Cisgiordani, do ông Mahmoud Abbas làm Tổng thống. Ông Abbas đã mãn nhiệm ngày 15 tháng giêng năm 2008, nhưng được lưu nhiệm thêm một năm.

Bếtlehem cách Giêrusalem 10 cây số là thành phố có 35.000 dân. Tên gọi do thái “Beit Lekhem” có nghĩa là “Nhà của Bánh”, còn tên gọi tiếng A Rập “Beit Lahm” có nghĩa là “Nhà của Thịt”. Bếtlehem nằm trên con lộ dẫn vào sa mạc Negheb ở trên độ cao 765 mét. Sản phẩm chính của vùng Bếtlêhem phát xuất từ nông nghiêp, chăn nuôi, và thủ công nghệ, trong đó có các kỷ vật và ảnh tượng bằng gỗ cây ô liu. Địa danh Bếtlhem được nhắc tới lần đầu tiên trong chương 35 sách Sáng Thế, kể lại biến cố bà Rakhel qua đời và được chôn cất tại đây (St 35,19). Kinh Thánh gọi nơi này là “Bếtlehem của Giuđa”, vì là đất thuộc chi tộc Giuđa. Vua Đavít đã sinh ra và được ngôn sứ Samuel xức dầu thánh hiến làm vua tại đây. Biến cố Chúa Giêsu giáng sinh đã khiến cho Bếtlehem có tầm quan trọng quốc tế và lôi cuốn tín hữu hành hương. Năm 135 hoàng đế Adirano du nhập việc tôn thờ thần Adone với chủ ý xóa bỏ các dấu vết kitô tại Bếtlehem, nhưng năm 330 hoàng đế Constantino trả Bếtlehem lại cho kitô hữu. Từ đó Bếtlehem cũng trở thành một trung tâm viện tu. Năm 384 thánh Girolamo đã đến sống tại đây và dịch Kinh Thánh Do thái ra tiếng Latinh. Sau cuộc đánh chiếm của người A rập năm 638, Califo Omar thi hành chính sách khoan nhượng tôn giáo. Nhưng năm 1099 khi nghe tin các đạo binh Thập Tự đến gần người, Hồi đã phá hủy thành phố. Năm 1110 vị vua Giêrusalem đầu tiên là Baudoin đã được thánh hiến tại Betlehem.

 Năm 1187 thành phố bị người Hồi chiếm đóng, rồi rơi vào tay của đế quốc Ottoman và tàn lụi. Vào năm 1600 Bếtlehem chỉ là một làng nhỏ. Đầu thế kỷ XIX đa số dân là tín hữu kitô. Năm 1831 vua Ai Cập là Mohammad Ali đánh chiếm Bếtlehem và đuổi các người Hồi liên minh với đế quốc Ottoman rồi đốt khu phố của họ. Sau đó Bếtlehem thuộc quyền nhà Hashemita của Giordania cho tới năm 1967, khi Bếtlehem và vùng Cisgiordania bị quân đội Israel chiếm đóng. Sau hiệp định Oslo từ năm 1995 Bếtlehem thuộc vùng đất của người Palestine. Chủ tịch Yasser Arafat đã xây dinh tổng thống tại Bếlehem, và thành phố đã trở thành trung tâm của các cuộc lễ trong Năm Thánh 2000, với việc khánh thành viên bảo tàng trưng bầy 230 máng cỏ đẹp và nổi tiếng nhất thế giới, do Liên Hiệp Quốc bảo trợ.

Lễ nghi tiếp đón Đức Thánh Cha đã diễn ra tại quảng trường trước dinh tổng thống Palestine. Đức Thánh Cha và tổng thống Abbas đã duyệt hàng chào danh dự. Sau khi ban quân nhạc cử hành quốc thiều Vaticăng và quốc thiều Palestine và giới thiệu phái đoàn hai bên, tổng thống Mahmoud Abbas đã chào mừng Đức Thánh Cha.

Tổng thống sinh tại Safad năm 1935, trong cuộc chiến năm 1948 ông cùng gia đình lánh nạn sang Siria. Ông Alias Abu Mazen đã theo học tại các đại học Damasco, Cairo và lấy tiến sĩ tại đại học Patrice Mulumba bên Matscơva. Từ năm 2004 ông là Chủ tịch tổ chức Giải Phóng Palestine sau khi Chủ tịch Arafat qua đời. Từ năm 2005 ông là tổng thống chính quyền Palestine với nhiệm kỳ 4 năm, được kéo dài thêm một năm nữa. Tổng thống có vợ và 3 con.

 Đáp lời tổng thống, Đức Thánh Cha thân ái gửi lời chào tới toàn dân Palestine và bầy tỏ lòng trắc ẩn của ngài đối với những khổ đau họ phải gánh chịu, đặc biệt trong chiến cuộc mới đây tại vùng Gaza. Ngài khích lệ họ can đảm hy vọng và dấn thân hoạt động để đạt tới một giải pháp công bằng là hai quốc gia sống cạnh nhau trong hòa bình và an ninh dựa trên sự tôn trọng phẩm giá và các quyền của mọi người. Đức Thánh Cha cũng cầu mong tình hình an ninh được cải tiến để người dân có thể tự do di chuyển. Ngài cũng hy vọng với sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế việc tái thiết được tiến hành nhanh chóng và cho phép người trẻ đóng góp tài năng và lòng hăng say của họ cho việc xây dựng xã hội. Đức Thánh Cha đã đặc biệt hướng tới người trẻ và khuyến khích họ đừng nhượng bộ chước cám dỗ của bạo lực, nhưng biết xây dựng một tương lai tích cực. Ngài nói:

“Tôi biết các bạn đã đau khổ và tiếp tục đau khổ chừng nào vì các giao dộng đã gây tang thương cho vùng đất này từ bao thập niên qua. Tôi hướng lòng tới tất cả mọi gia đình đã mất nhà cửa. Chiều này tôi sẽ đi thăm trại tị nạn Aida để bầy tỏ tình liên đới của tôi đối với dân tộc đã mất mát qúa nhiều như thế. Với những bạn đang than khóc vì mất gia đình và các người thân trong các thù nghịch, đặc biệt trong cuộc xung đột mới đây tại Gaza, tôi bảo đảm với các bạn sự cảm thương sâu xa và lời cầu nguyện hàng ngày của tôi. Thật thế tôi đem tất cả các bạn vào trong lời cầu hàng ngày của tôi, và tôi tha thiết khẩn nài Chúa ban hòa bình, một nền hòa bình công chính và lâu bền cho các vùng đất của người Palestine và toàn vùng này... Các bạn đừng để cho các mất mát sự sống và các tàn phá, mà các bạn đã chứng kiến, khơi dậy các cay đắng hay thù hận trong lòng. Hãy can đảm chống lại mọi cám dỗ sử dụng bạo lực hay khủng bố phá hoại. Trái lại, hãy làm sao để cho tất cả những gì các bạn kinh nghiệm, canh tân sự quyết tâm xây dựng hòa bình. Hãy làm sao để nó làm cho các bạn tràn đầy ước mong sâu thẳm cống hiến phần đóng góp lâu dài cho tương lai của đất Palestina, để nó có thể có một chỗ đứng đúng đắn trong bối cảnh thế giới”.

Đức Thánh Cha cũng bầy tỏ lập trường của Tòa Thánh đối với tương lai chính trị trong vùng và nói với tổng thống Abu Mazen như sau:

“Kính thưa tổng thống, Tòa Thánh chia sẻ ước mong của Tổng thống và của dân tộc Tổng thống là có được một quê hương Palestine tối thượng trên đất của tổ tiên, an ninh và hòa bình với các dân tộc chung quanh trong các biên giới được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Cả khi trong hiện tại mục tiêu đó xem ra xa vời chưa được hiện thực, tôi xin khích lệ tổng thống và dân tộc của tổng thống duy trì sống động ngọn lửa hy vọng, hy vọng có thể tìm ra một con đường gặp gỡ giữa các khát vọng hợp pháp của người Israel cũng như của người Palestine, khát vọng hòa bình và ổn định. Như vị tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan Phaolô II đã nói: “không thể có hòa bình mà không có công lý, không thể có công lý mà không có sự tha thứ”, tôi van nài tất cả mọi phía liên lụy trong cuộc xung khắc cổ xưa này bỏ qua một bên mọi hận thù và đối kháng còn đang cản ngăn cản đường hòa giải, để đi tới với tất cả mọi người với lòng quảng đại, cảm thương và không kỳ thị”.

 Lễ nghi chào đón kết thúc, Đức Thánh Cha đi đến quảng trường Máng Cỏ nằm cách đó 2,5 cây số để chủ sự thánh lễ cho tín hữu. Đây cũng là quảng trường chính của thành phố Bếtlehem. Chung quanh có Tòa Thị Sảnh, một đền thờ Hồi giáo và Trung Tâm Hòa Bình. Từ quảng trường này có đường các Mục Đồng dẫn ra nơi thiên thần đã hiện ra báo tin Chúa Cứu Thế giáng sinh, trong làng Beit Shahur, Đường Hang Đá Sữa là đền thánh kính nơi Đức Mẹ dừng lại cho Chúa Hài Nhi bú khi trốn sang Ai Cập, đường Phaolô VI kỷ niệm chuyến viếng thăm của Đức Phaolô VI ngày 6 tháng giêng năm 1964.

Thánh lễ được cử hành bằng tiếng Latinh và A Rập có sự tham dự của tổng thống và chính quyền Palestine, cũng như các giới chức xã hội và tôn giáo khác, cùng hàng chục ngàn tín hữu. Đức Thượng Phụ Latinh Fouad Twal đã ngỏ lời chào mừng Đức Thánh Cha.

Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha đã cảm tạ Chúa đã cho ngài đến Bếtlehem để tôn kính nơi Chúa Kitô giáng sinh và gặp gỡ các anh chị em trong lòng tin trên đất Palestina. Đức Thánh Cha đặc biệt hướng tới các anh chị em đến từ vùng Gaza, và xin họ chuyển tới mọi người lời chào của Ngài, nỗi buồn thương và sự chia sẻ của ngài đối với các mất mát và khổ đau họ phải chịu, cũng như tình liên đới và lời cầu nguyện của ngài cho công tác tái thiết vùng này.

Quảng diễn các bài đọc và duyệt lại những gì Kinh Thánh nói về Bếlehem Đức Thánh Cha khẳng định rằng “Trong chương trình của Thiên Chúa, Bếtlehem tuy “nhỏ nhất trong các làng mạc của Giuda” (Mk 5,2), nhưng đã trở thành một nơi của vinh quang bất tử: nơi, khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã chọn trở thành người để chấm dứt vương quốc của tội lỗi và cái chết, và đem đến cho thế giới già nua mệt mỏi, bị áp bức bởi tuyệt vọng, sự sống mới tràn đầy. Đối với các người nam nữ khắp mọi nơi, Bếtlehem được gắn liền với sứ điệp tươi vui của tái sinh và canh tân, của ánh sáng và tự do. Nhưng lời hứa tuyệt diệu đó xem ra xa vời và chưa được hiện thực. Vương quốc hòa bình an ninh công bằng và toàn vẹn, mà ngôn sứ Isaia đã loan báo, xem ra xa xôi qúa!... Nhưng tại Bếlehem này, cho dù giữa mọi thứ mâu thuẫn, các viên đá vẫn tiếp tục kêu lên “tin vui” cứu độ mà hơn mọi thành thị khác thành phố này được mời gọi loan báo cho thế giới. Và tin mừng Bếtlehem mời gọi chúng ta trở thành các chứng nhân sự chiến thắng của tình yêu của Thiên Chúa trên thù ghét, ích kỷ, sợ hãi và oán hờn, khiến cho các tương quan của con người bị què quặt đi và tạo ra chia rẽ tại những nơi mà anh em đáng lý ra phải sống hiệp nhất, tạo ra tàn phá nơi đáng lý ra con người phải xây dựng, tạo ra thất vọng nơi đáng lý ra hy vọng phải nở hoa.

 Lấy lại lời các thiên thần nói với mục đồng xưa kia Đức Thánh Cha kêu gọi mọi người như sau:

“Đừng sợ hãi! Đó là sứ điệp mà người Kế Vị Thánh Phêrô ước mong để lại cho anh chị em hôm nay, vang vọng lại sứ điệp của các thiên thần và của Đức Gioan Phaolô II kính yêu đã để lại cho anh chị em trong Năm Thánh kỷ niệm 2000 năm Chúa Kitô sinh ra. Xin anh chị em hãy tin nơi lời cầu nguyện và tình liên đới của các anh chị em khác trong Giáo Hội hoàn vũ, và làm việc với các sáng kiến cụ thể để củng cố sự hiện diện của anh chị em và cống hiến các khả thể mới cho những người bị cám dỗ bỏ ra đi. Hãy là cây cầu của sự đối thoại và cộng tác xây dựng nền văn hóa hòa bình thay thế cho tình trạng sợ hãi, hiếu chiến và bị tước đoạt. Hãy xây dựng các Giáo Hội địa phương, khiến cho chúng trở thành các nơi thực hành đối thoại, sự khoan nhượng và hy vọng, cũng như tình liên đới và lòng bác ái cụ thể.

Nhưng trên hết và trước hết, anh chị em hãy là các chứng nhân của quyền năng sự sống, sự sống mới mà Chúa Kitô phục sinh trao ban, sự sống có thể soi sáng và biến đổi cả bóng tối và các tình trạng tuyệt vọng của con người. Đất nước của anh chị em không chỉ cần có cơ cấu kinh tế mới và các cơ sở thiêng liêng hạ tầng mới mà thôi, nhưng quan trọng nhất là khả năng thu hút năng lực của các người thiện chí phục vụ giáo dục, phát triển và thăng tiến thiện ích chung. Anh chị em có khả thể xây dựng nền văn minh hòa bình và tôn trọng lẫn nhau, và bảo đảm một tương lai tốt đẹp hơn cho con cái anh chị em. Nhiệm vụ cao qúy này đang chờ đợi anh chị em. Đừng sợ”.

Vương cung thánh đường Bếtlehem cổ kính trơ gan cùng tuế nguyệt và các ngọn gió của lịch sử cũng như sức nặng của thời gian là bằng chứng cho chúng ta thấy chiến thắng của lòng tin trên thế giới. Ai viếng thăm nhà thờ cũng đều nhận thấy cửa vào ngày càng hẹp hơn. Hôm nay chúng ta hãy dấn thân làm sao để cho cánh cửa dẫn vào mầu nhiệm Thiên Chúa ở giữa loài người, đền thờ sự hiệp nhất của chúng ta với Người và thế giới của hòa bình và niềm vui vĩnh cửu, ngày càng rộng mở để tiếp đón mọi con tim nhân loại, để canh tân và biến đổi nó.

Các ý nguyện của Lời nguyện tín hữu đã được đọc bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, A Rập và Do thái. Ca đoàn cũng đã hát mấy bài thánh ca Giáng Sinh nổi tiếng quốc tế. Đức Thánh Cha đã cho một số tín hữu hữu rước lễ.

Thánh lễ đã kết thúc lúc 12 giờ trưa. Sau khi chào từ biệt các tín hữu Đức Thánh Cha và đoàn tùy tùng đến Tu viện Nhà Mới của các cha dòng Phanxicô nằm cách đó 100 mét để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi chốc lát trước khi tiếp tục các sinh hoạt vào ban chiều. Nhà Mới là trung tâm đón tiếp khách hành hương đươc xây năm 1908, được nới rộng vào năm 1986 và hoàn toàn độc lạp với tu viện. Trung tâm này có thể đón tiếp 129 du khách hành hương. Trong tu viện bên cạnh có 38 tu sĩ Phanxicô sinh sống.

 Vào lúc 15,15 Đức Thánh Cha đã đến kính viếng Hang Đá nơi Chúa Giêsu đã sinh ra cách đây hơn 2000 năm. Đức Thánh Cha xuống thăm Hang Đá từ lối vào bên trong của nhà thờ kính thánh nữ Catarina. Hang đá Giáng Sinh hình chữ nhật, dài 12 mét rộng 3 mét cao 3 mét, được lát bằng các miếng thạch ma do tổng thống Pháp Mac Mahon tặng năm 1874 để chống hỏa hoạn. Bên dưới Bàn thờ Giáng Sinh, thuộc tín hữu chính thống, có lát cẩm thạch với hình ngôi sao bằng bạc ghi dấu nơi Chúa Giêsu sinh ra với hàng chữ la tinh “Hic de Vergine Maria Jesus Christus natus est - Nơi đây Đức Giêsu Kitô đã sinh ra từ Đức Trinh Nữ Maria”. Bên phải là Hang Đá Ba Vua với bàn thờ của các cha Phanxicô, nơi các linh mục công giáo có thể cử hành thánh lễ.

Bên trên Hang Đá Giáng Sinh là Vương cung thánh đường Giáng Sinh. Nhà thờ đầu tiên do hoàng đế Constantino xây năm 326. Năm 450 nhà thờ được hoàng đế Giustiniano trang hoàng với nền khảm đá mầu. Vào năm 614 các đạo binh Ba Tư đã không đốt phá đền thờ, vì họ trông thấy hình Ba Vua tạc ở mặt tiền nhà thờ mang phẩm phục Ba Tư. Trong các năm đầu tiên sau khi chiếm đóng Bếtlêhem, người Hồi rất tôn trọng nơi này và các lễ nghi phụng tự kitô. Califo Omar đến cầu nguyện ở nơi thánh dâng kính Đức Miriam mẹ của ngôn sứ Issa. Issa là tên của Đức Giêsu trong Kinh Coran Hồi giáo.

Vào thời Thập Tự quân, vương cung thánh đường được trang hoàng lộng lẫy vì sự cộng tác của các vua Giêrusalem với hoàng đế Bisantin Constantnopoli. Đó là thời kỳ có các tương quan rất tốt đẹp giữa hai Giáo Hội Latinh và Chính thống hy lạp. Năm 1187 vương quốc La tinh sụp đổ, vua Hồi giáo Saladino tôn trọng Vương cung thánh đường và cho phép mở cửa lại vài năm sau đó, nhưng với điều kiện phải nộp thuế. Năm 1347 các tu sĩ Phanxicô thay thế các kinh sĩ Agostino trông coi Vương cung thánh đường và Hang Đá Giáng sinh.

 Bắt đầu từ thế kỷ thứ XVI các tương quan giữa các tín hữu chính thống hy lạp và các tu sĩ Phanxicô cũng bị ảnh hưởng bởi liên hệ có khi căng thẳng có khi thân hữu giữa Sultan Ottoman và các Cộng Hòa miền biển của Italia. Hồi thế kỷ XIX một sắc lệnh của chính quyền Ottoman xác định quyền của ba Giáo Hội Latinh, Chính Thống Hy Lạp và Chính Thống Armeni trên Hang Đá Giáng Sinh và Vương Cung Thánh Đường Giáng Sinh, mỗi Giáo Hội một phần.

 Sau khi viếng thăm và cầu nguyện tại Hang Đá Giáng Sinh Đức Thánh Cha đã đến thăm Nhà thương Nhi đồng Caritas, cách đó 2 cây số. Nhà thương này được thành lập năm 1978 và được Hiệp hội Thụy sĩ “Cứu giúp trẻ em Bếtlehem” tài trợ.

Nhưng nguồn gốc của nó bắt đầu hồi năm 1952, khi linh mục Ernst Schnydrig đến hành hương và tham dự thánh lễ nửa đêm Giáng Sinh. Cha gặp một người A Rập đang chôn cất đứa con nhỏ trong vùng đồng lầy. Cha kể lại cho mấy người bạn nghe và họ cùng nhau thực hiện giấc mộng là thành lập một nhà thương trợ giúp trẻ em. Cha thuê hai phòng trọ, rồi đi tìm được 14 các trẻ em đau yếu trong các làng chung quanh. Cha đem chúng về và trả lương cho một bác sĩ săn sóc các em. Nhà thương nhi đồng Bếtlehem nảy sinh từ đó. Cha Schnydrig đã qua đời tại Freiburg, mười mấy ngày trước lễ khánh thành nhà thương. Hằng năm có 4.000 trẻ em được săn sóc và 30.000 em được khám bệnh tại nhà thương này. Nhân sự gồm 20 bác sĩ, 6 nữ tu Phan Sinh Padova và 200 cộng sự viên.

Đức Thánh Cha đã được Đức Cha Robert Zollitsch, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức và Đức Cha Kurt Koch, Giám Mục giáo phận Basel, cũng như ông Chủ tịch HIệp Hội “Trợ giúp trẻ em, ông Chủ tịch Hội đồng quản trị và Mẹ bề trên cộng đoàn tiếp đón. Đức Thánh Cha đã thăm khu vực của trẻ sơ sinh và nhà nguyện.

Phát biểu trong dịp này Đức Thánh Cha ca ngợi công tác phục vụ vô cùng qúy báu mà nhà thương nhi đồng dành cho các trẻ em Bếlehem và toàn đất Palestina trong hơn 50 năm qua. Nó là một ốc đảo an bình và yêu thương đối với các người đễ bị thương tích nhất là các trẻ em, và là một đèn pha hy vọng cho thấy tình yêu thương chiến thắng thù hận và hòa bình chiến thắng bạo lực. Đức Thánh Cha khích lệ các bác sĩ, y tá và nhân viên trong công tác bác ái này và ngài nói ngài nhớ đến họ trong lời cầu mỗi ngày. Ngài cũng an ủi các trẻ em, gia đình các em và cầu mong hòa bình mau trở lại trên vùng đất này.

Rời nhà thương Đức Thánh Cha và đoàn tùy tùng đến thăm trại tị nạn Aida cách đó 2 cây số. Đây là 1 trong số 8 trại tị nạn tiếp đón 1, 3 triệu người Palestine trong hai đợt chính là chiến tranh năm 1948 và sau trận chiến 6 ngày với Israel năm 1967. Trong các vùng đất của người Palestine có từ 3 tới 4 triệu người tị nạn. Thống kê Văn phòng tị nạn Palestine của Liên Hiệp Quốc cho biết trong năm 2008 có 4,6 triệu người tị nạn: Giordania có 1,5 triệu trong đó có 329 ngàn người sống trong 10 trại; nửa triệu sống trong 19 trại vùng Cisgiordani, 1 triệu sống trong 8 trại dải Gaza, 409 ngàn sống trong 12 trại bên Libăng, và 120 ngàn sống trong 9 trại bên Siria.

Ngoài ra tưởng cũng nên biết là Hội Giáo Hoàng Truyền giáo cho Palestina đã được thành lập hồi năm 1949 và có trụ sở chính tại New York và các văn phòng ở Roma, Giêrusalem, Amman và Beirut. Trại tị nạn Aida hiện có 5.000 người trong đó có 14 gia đình kitô. Tổng thống Abu Mazen đã tháp tùng Đức Thánh Cha.

 Ngỏ lời với dân chúng trong trại tại nạn, Đức Thánh Cha chia sẻ nỗi đau khổ của họ cũng như của toàn dân Palestine, cũng như hỗ trợ mong ước của họ được sống trong một quốc gia an bình. Ngài cũng ca ngợi hoạt động của các tổ chức cứu trợ, các dòng tu, đồng thời kêu gọi cả hai phía, Israel và Palestine, với sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế, can đảm phá vỡ cái vòng bạo lực và tình trạng hiện nay. Đức Thánh Cha nói:

  “Nhân dân tại trại tị nạn này, tại các lãnh thổ này và toàn miền này mong mỏi hòa bình dường nào! Trong những ngày này, ước muốn hòa bình ấy càng trở nên nồng nhiệt hơn trong khi anh chị em nhớ lại những biến cố hồi tháng 5 năm 1948, và những năm tháng trong cuộc xung đột cho đến nay vẫn chưa được giải quyết, tiếp theo các biến cố ấy. Giờ đây anh chị em đang sống trong tình trạng bấp bênh và khó khăn, với những cơ may hạn hẹp trong việc tìm công ăn việc làm. Thật là dễ hiểu khi anh chị em thường cảm thấy bất mãn, thất vọng. Khát vọng hợp pháp của anh chị em mong được một tổ quốc trường tồn, một quốc gia Palestine độc lập, cho đến nay vẫn chưa được toại nguyện. Trái lại, anh chị em cảm thấy bị kẹt, - như nhiều người tại miền này và trên thế giới, - trong một cái vòng bạo lực, tấn công và phản công, báo thù và tàn phá liên tục. Toàn thế giới nồng nhiệt mong ước cái vòng lẫn quẩn ấy bị phá vỡ, mong cho hòa bình chấm dứt sự thù nghịch vạn niên. Bức tường cao bao quanh chúng ta trong lúc chúng ta tụ họp nhau tại đây chiều hôm nay, chắc chắn nhắc nhở về tình trạng bế tắc trong quan hệ giữa người Israel và Palestine.

Trong thế giới ngày nay các biên giới dường như ngày càng mở rộng cho thương mại, du lịch, sự di chuyển của dân chúng, những trao đổi văn hóa, thật là một điều bi thảm khi thấy những bức tường còn được dựng lên. Chúng ta mong ước dường nào được thấy những thành quả của công tình khó khăn xây dựng hòa bình! Chúng ta cầu nguyện sốt sắng dường nào để sớm chấm dứt những xung đột và thù nghịch gây ra việc dựng lên bức tường này!”

Đức Thánh Cha nhận định rằng: “Từ cả hai bên bức tường đều cần có lòng can đảm lớn lao để vượt thắng sợ hãi và nghi kỵ, nếu muốn chống lại nhu cầu báo thù vì những mất mát và thương tổn. Cần có lòng đại đảm để tìm kiếm sự hòa giải sau bao năm xung đột võ trang. Nhưng lịch sử dạy cho chúng ta rằng hòa bình chỉ đến, khi những phe xung đột sẵn sàng đi xa hơn những trách móc và cùng nhau làm việc cho những mục tiêu chung, mỗi người thực tâm để ý đến những lo âu và sợ hãi của phía bên kia, và cố gắng kiến tạo một bầu không khí tin tưởng. Cần có thiện chí để đề ra những sáng kiến có tinh thần sáng tạo và táo bạo để hòa giải. Nếu mỗi bên ưu tiên nhấn mạnh những nhượng bộ mà phe kia phải làm, thì kết quả sẽ là một ngõ cụt.

Trong bài diễn văn, Đức Thánh Cha cũng đề cao tầm quan trọng của việc cứu trợ nhân đạo trong trại tị nạn, nhưng ngài khẳng định thêm rằng giải pháp dài hạn cho cuộc xung đột giữa người Palestine và Israel chỉ có thể là giải pháp chính trị. Không ai nghĩ rằng người Palestine và Israel tự mình có thể đạt tới giải pháp đó, vì thế sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế là điều tối quan trọng, do đó - ngài nói: “Tôi tái kêu gọi tất cả các phe liên hệ hãy dùng ảnh hưởng của mình để giúp đạt tới một giải pháp chính đáng và lâu bền, tôn trọng những yêu cầu hợp pháp của mọi phía, và phù hợp với công pháp quốc tế. Nhưng mọi nỗ lực ngoại giao của quốc tế chỉ đạt thành qủa, nếu người Palestine và Israel quyết chí phá vỡ cái vòng gây hấn, tấn công... Tôi tái kêu gọi tất cả anh chị em hãy dấn thân sâu xa trong việc vun trồng hòa bình và bất bạo lực, theo gương thánh Phanxicô và những vĩ nhân khác trong việc xây dựng hòa bình.

 Rời trại tị nạn Aida Đức Thánh Cha đã trở về Bếtlehem và thăm xã giao tổng thống Mahmoud Abbas cũng như một số quan chức của các cộng đoàn Palestine vùng Gaza và Cisgiordani. Sau khi hội kiến với tổng thống hai bên đã trao đổi qùa tặng.

 Ngỏ lời trong lễ nghi từ biệt diễn ra trong sân của dinh tổng thống, Đức Thánh Cha đã cám ơn tổng thống, chính quyền và nhân dân Palestine về tình hiếu khách và sự tiếp đón nồng nhiệt dành cho ngài. Các sinh hoạt của chuyến viếng thăm đã cho Đức Thánh Cha dịp nghe biết các điều kiện sống của người dân trong vùng Cisgiordani và Gaza. Ngài cũng đã trông thấy bức tường được xây lên trên đất của người Palestine phân cách các gia đình, bọc trại tị nạn và che khuất nhiều phần của thành Bếtlehem. Đức Thánh Cha nói: “Cả khi các bức tường có được xây lên một cách dễ dàng, thi chúng ta tất cả đều biết rằng chúng sẽ không tồn tại vĩnh cửu. Chúng có thể bị đập bỏ. Nhưng trước hết cần phải lấy đi các bức tường mà chúng ta xây lên chung quanh con tim chúng ta đã, phải lấy đi các hàng rào mà chúng ta dựng lên chống lại tha nhân. Vì thế trong lúc từ biệt này tôi muốn lập lại lời kêu gọi cởi mở và quảng đại tâm trí, chấm dứt sự bất khoan nhượng và loại trừ. Cho dù cuộc xung đột xem ra không có lối thoát và sâu đậm, cũng luôn luôn có các lý do để hy vọng rằng có thể giải quyết được nó, và các nỗ lực kiên trì của những người hoạt động cho hòa bình và hòa giãi sẽ đem lại hoa trái. Đức Thánh Cha cầu mong cho điều đó mau được thực hiện để nhân dân Palestine có thể vui hưởng hòa bình và an ninh. Đức Thánh Cha hứa sẽ dùng mọi dịp thuận tiện để khích lệ các cuộc thương thảo giúp tìm ra một giải pháp tôn trọng các khát vọng của cả hai bên Israel cũng như Palestine.

 Kết thúc lễ nghi từ biệt Đức Thánh Cha đã trở về Tòa Khâm Sứ Giêrusalem chấm dứt ngày thứ 3 viếng thăm Thánh Địa.

Linh Tiến Khải - Trần Đức Anh


Về Trang Mục Lục