HIỀN  LÀNH  NHỊN  NHỤC

__________________________________ ________

Tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

 

Hãy học cùng Ta

vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng (Mt11,29)

 

I. ĐẠO LÝ CỦA CHÚA GIÊSU.

       

Hôm nay chúng ta cùng nhau đề cập đến sự hiền lành nhịn nhục, một giáo lý mới mẻ của

Chúa Giêsu khác hẳn với giáo lý thời Cựu ước. Chúng ta hãy tìm hiểu giáo lý của Ngài và dõi theo gương sáng của Ngài về điểm này để chúng ta có thể thực hiện trong đời sống chúng ta.

 

          1. Sách Thánh dạy.

 

        Trong Cựu ước, luật trả thù được khai thác triệt để, luật được đặt ra nhằm giữ sự công bình ngay thẳng, chứ không đả động gì đến đức bác ái. Đối với mọi người thời đó, luật này rất dễ được chấp nhận vì nó phù hợp với lối suy luận của mọi người. Nhưng giáo lý của Chúa Giêsu hôm nay trái ngược lại :

“Các ngươi đã nghe lời dạy rằng : mắt đền mắt, răng đền răng. Nhưng Ta bảo các ngươi : đừng chống cự với người ác. Trái lại, nếu ai tát má bên phải ngươi, hãy đưa má kia cho họ nữa. Ai muốn kiện tụng hầu đoạt chiếc áo cánh của ngươi, hãy nhường cả áo ngoài cho họ. Ai bắt ngươi đi một dặm đường, ngưoi hãy đi với nó hai dặm  nữa. Ai xin ngươi cứ cho, họ muốn vay mượn ngươi đừng từ chối (Mt 11.29)

 

        Đọc đoạn Phúc âm trên, ta thấy giáo lý của Chúa Giêsu  mâu thuẫn với cách sống thường tình của con người. Phải chăng phải im lặng chịu đựng những lạm dụng, để mình bị bạc đãi, bị khai thác ? Nếu như vậy mãi, sống thế nào được ? Phải chăng đòi hỏi của Chúa Giêsu trái ngược với luân lý của Ngài, làm nhu nhược tất cả sự vững mạnh trung thực,  hủy bỏ tận gốc tinh thần can trường và chí mạo hiểm sao ? Hình như sự đòi hỏi của Đức Kitô có vẻ khuyến khích tội ác...

 

        Thực sự, giáo lý của Chúa không nhằm giải quyết những tranh chấp của cuộc sống hiện tại.Giáo lý của Ngài là một lý tưởng vượt quá không gian và thời gian, và có thể áp dụng cho mọi hoàn cảnh. Giáo lý của Chúa không nhằm áp dụng vào những trường hợp cụ thể nhưng là một lý tưởng tổng quát nhằm tới thái độ nội tâm. Đây là một lý tưởng, mà đã là lý tưởng thì không ai đạt tới được, mà chỉ cố gắng vươn tới thôi.

 

        Người ta sẽ hiểu rằng, đó là một lý tưởng, mà nhờ ơn thánh có thể thực hiện được, nếu biết tận lực cố gắng. Đây là một đòi hỏi tâm tình quảng đại, sự tận hiến vô điều kiện. Hăng say làm việc không cần nghỉ ngơi, chiến đấu không lo bị thương tích, tự giải thoát khỏi những gì đê tiện, ích kỷ, cằn cỗi, vượt qua tinh thần  “Tiểu trưởng giả”. Muốn thế, phải biến cải nếp sinh hoạt, biết chấp nhận những viễn tượng rộng rãi và chân trời cao xa, chấp nhận một thái độ tự thoát, hiến thân và hy sinh chính tình yêu vô biên, cho ta sức mạnh thi hành những điều đó theo như thiên ý này. Do đó, ít người đạt tới đời sống này, ngoại trừ các vị thánh nhân. Quả thực,  các vị thánh nhân như thế hiếm biết bao.

        (Richard Gutzwiller, Suy niệm Tin mừng Mt, 1973, tr 108,110)

 

        2. Gương Chúa Giêsu.

 

        Chúa Giêsu đã dám khuyên mọi người hãy theo gương Ngài, khi Ngài nói :”Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng: (Mt 11,29). Những gì Ngài dạy thì Ngài đã làm gương trước để chúng ta noi theo. Ngay trong Cựu ước, con người hiền lành của Chúa Giêsu đã được tiên tri Isaia mô tả :

        “Ngài phải điệu đi như con chiên đem đi giết, Ngài chẳng mở miệng ra như chiên   con không kêu một tiếng trước mặt thợ xén. Ngài bị luận xử một cách đê hèn. Ai sẽ thuật lại được đời Ngài vì đời sống Ngài đã bị xoá khỏi trần gian” (Is 53, 7 và cvsđ 8,32).

 

        Trong cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu đã tỏ ra là con người hiền lành nhịn nhục đến tột độ. Nếu ngày nay người ta khâm phục thái độ nhịn nhục của Socrate, Khánh Kỵ,Lạn tương Như, vua Philippê II... tại sao người ta lại không thán phục thái độ nhịn nhục của Chúa Giêsu ?

 

        Theo dõi bước đường đau khổ của Chúa, ta thấy Chúa Giêsu đã bị tên Giuđa bán với giá 30 đồng bạc (Mt 26,16), dân Do thái xin tha tên trộm cướp Baraba mà đóng đinh Chúa Giêsu (Mt 27,20-21), bị quân dữ khoác áo đỏ, đội mạo gai qùi xuống chế nhạo (Mt 27,28-29), nhất là trên cây thánh giá, trước sự chế nhạo thô bỉ của nhiều người, Chúa Giêsu đã chịu đựng một cách bình tĩnh, không một lời than trách, mà chỉ xin Cha Ngài tha cho họ, biện hộ cho họ vì lầm chẳng biết”

(Mt 27,39tt).

 

        3. Lời khuyên của thánh Phêrô.

 

        Các tông đồ đã theo gương Chúa Giêsu, các ngài đã sống hiền lành nhịn nhục theo gương Thầy mình. Đời sống các ngài đã làm chứng điều ấy vì tất cả các tông đồ đã sẵn sàng chịu chết vì Chúa mà không mở một lời than trách. Vì thế, thánh tông đồ Phêrô đã khuyên chúng ta :

        “Hết thảy anh em hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đầy tình huynh đệ, đầy lòng    thương xót và khiêm tốn nhã nhặn. Đừng lấy ác báo ác, lấy lời nguyền rủa đáp lời nguyền rủa, mà trái lại hãy chúc lành, vì Thiên Chúa đã kêu gọi anh em thừa hưởng phúc lành” (1Pet 3,8-9).

 

II. QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI ĐỜI.

 

        1. Sự hiền lành nhịn nhục được ca tụng.

 

        Trong cuốn sách “Cái dũng của thánh nhân”, tác giả Nguyễn duy Cần đã ra công rút các tinh hoa Á Âu để giải thích một cách rành mạch cái “DŨNG” của thánh nhân. Sau khi cử nhiều ví dụ, và kể những câu chuyện con con rất có duyên, ông Cần lại chỉ cho ta phương pháp để mong đến chỗ siêu việt ấy.

 

        DŨNG là mạnh, nhưng đây không phải sức mạnh của xác thịt, võ lực thiên bẩm hoặc do sự luyện tập cơ thể mà có. Đây là sức mạnh của tâm hồn, làm cho con người trở nên bậc siêu nhân, sống tự do thư thái, với trọn nghĩa thanh cao của chữ “sống”.

 

        Người dũng, dầu lâm vào trường hợp ngang trái, khó khăn đến đâu cũng một mực, không khinh, không giận. Lúc nào cũng tự chủ, thất kinh bị kềm hãm bên trong. Họ quan niệm cái bệnh, cái chết một cách thản nhiên; đứng trước nguy cơ, mặt không đổi sắc, tim không đập nhanh, đầu không choáng, trí rất bình, lượng sức mình màø đối phó với cảnh ngộ. Muốn đạt cái dũng phải dầy công luyện tập cái tính căn bản là sự điềm đạm.

                (Huỳnh khắc Dụng trong Khoa học tạp chí, số Nhâm thìn)

 

        Ông Nguyễn duy Cần làm nổi bật cái triết lý “nhu nhược thắng cương cường” của Lão Tử. Trong phép đấu tranh có hai cách : dùng cương cường chế cương cường, hoặc dùng nhu nhược chế cương cường. Phép cương chế cương là một phương pháp thô sơ tạm bợ, chỉ dùng trong những trường hợp bất đắc dĩ thôi vì một khi đã dùng cường lực chế trị cường lực rồi, dù cường lực của đối phương tan rã vẫn còn lưu lại cái thù oán đến mực mùi rồi... Trong phép võ Judo của Nhật đã có nguyên tắc “Nhượng bộ để chiến thắng” (céder pour vaincre). Chính JUDO là chữ NHU ĐẠO mà âm ra vậy.

 

        Để làm nổi bật cái triết lý “Nhu nhược thắng cang cường” trong phương diện cách mạng, tác giả đã đề cập tới cuộc giải phóng dân Ấn độ do Gandhi điều khiển. Chính sách đề kháng bất bạo động của Gandhi đã làm cho thế giới hết sức ngạc nhiên và thán phục. Để người ta nhao nhao nói :”Á đông nhu nhược ! Á đông nhu nhược, hèn yếu !...

 

        Đâu phải người ta không biết dùng bạo động, nhưng vì người ta cho đó là còn hạ sách. Ông Gandhi nói :”... Nếu ta bị bắt buộc phải chọn một trong hai lẽ, khiếp nhược hay bạo động, thì tôi sẽ khuyên nên bạo động... Tôi dạy sự yên lặng can đảm chịu chết hơn là giết người.  Nhưng với những ai không có đủ cái can đảm ấy, thì tôi muốn họ thà tập luyện thuật giết người... còn hơn là khiếp nhược chạy trốn một cách nhục nhã trước nguy cơ... Tôi chịu thấy Ấn độ dùng đến khí giới bênh vực danh dự mình hơn là khư khư khiếp nhược cúi đầu chứng kiến sự nhục nhã của mình.  Nhưng tôi biết chắc rằng bất bạo động còn cao hơn bạo động vô cùng, sự tha thứ còn hùng dũng hơn sự trừng phạt... Bao dung là món trang sức của nhà chiến sĩ. Nhưng không trừng phạt mà sở dĩ gọi được là bao dung, khi mà mình có quyền hay có thể trừng phạt mà không thèm trừng phạt kia. Bằng không thì nó không có ý nghĩa gì nữa cả... Tôi tin rằng Ấn độ không phải là vô lực. Một trăm ngàn người Anh làm gì mà đến 300 triệu người Ấn phải sợ kia. Bất bạo động đâu phải chịu lụy kẻ làm hại mình. Bất bạo động,là dùng cả sức mạnh của tâm hồn để chống lại với cường quyền của kẻ độc tài.  Một người như thế thôi cũng đủ khiêu khích cả một đế quốc và làm cho nó “tan tành nghiêng ngửa”.

 

        Trong cuốn Tiểu sử ông Gandhi, Romain Rolland đã nói :”Sức mạnh của bạo lực, thế mà còn phải chịu quì gối trước sự mềm dịu anh hùng”.

 

        Ông Tam Ích, trong số báo nói về Gandhi còn nói :”... Người ta không giải quyết được cái gì cả bằng cường lực, nhưng người ta đoạt được tất cả bằng sự hiểu nhau và lòng bác ái, và chỉ có những người này thôi, mới có thể cứu được nhân loại điên cuồng”.

                (báo France-Asie, n. 32 (1948)

 

        Có một điều lạ là không ai chịu được cái triết lý của Lão Tử và cái giáo lý cách mạng của Chúa Giêsu, nhưng khi người ta nghe những mẩu chuyện của những người áp dụng bài học ấy thì người ta lại khâm phục.

 

                        Truyện : Lạn tương Như và Liêm Pha.

        Lạn tương Như được phong làm tướng quốc. Liêm Pha cậy mình có nhiều công hơn mà lại bị đứng dưới, nên tức giận hăm he hễ gặp mặt Tương Như là giết đi. Tương Như vì thế cứ lánh mặt mãi... Một hôm Tương Như ra ngoài, gặp toán lính tiền đạo của Liêm Pha, vội sai tên đánh xe đi tránh vào trong ngõ, đợi Liêm Pha đi qua rồi mới đi ra. Bọn xá nhân thấy thế càng giận bèn họp nhau hỏi Tương Như :

           - Chúng tôi bỏ nhà cửa, xa thân thích đến đây hầu ngài, tức coi ngài là bậc thượng phu nên mến mà theo.Nay ngài cùng Liêm tướng quân cùng hàng mà hạng thứ lại ở trên. Liêm Pha dọa, ngài đã không báo lại, đã tránh ở triều, nay lại tránh ở ngoài đường. Sao ngài lại sợ quá thế vậy ? Chúng tôi lấy làm xấu hổ, vậy xin đi không ở nữa.

        Tương Như nói :

 - Các ngươi xem Liêm tướng quân có hơn được vua Tần không ?

        Bọn xá nhân đáp :

- Không.

Tương Như nói :

-  Lấy cái oai của vua Tần, thiên hạ ai dám chống, mà Tương Như này dám mắng giữa triều đình, lại làm nhục cả quần thần nữa. Tương Như dẫu hèn, há lại sợ một Liêm tướng quân ư ? Nhưng ta nghĩ Tần sở dĩ không dám đánh Triệu là vì e có ta và Liêm tướng quân. Nay hai con hổ tranh nhau, thế không cùng sống. Tần nghe tin, tất thừa cơ đánh Triệu. Ta sở dĩ chịu nhục tránh Liêm tướng quân là coi việc nước là trọng và thù riêng là khinh vậy thôi.

Bọn xá nhân mọp lạy mà rằng :

- Tiểu nhân chúng tôi trí hẹp làm gì hiểu nổi đại chí của tướng công. .

Liêm Pha khi nghe thuật lại việc làm của Tương Như cả thẹn than rằng :”Ta thật còn kém Lạn tương Như xa lắm”. Bèn đến tạ tội với Tương Như, quì mọp mà rằng :”Tôi tính thô bạo, đội ơn tướng quân bao dung, nghĩ lấy làm hổ thẹn quá”. Tương Như đỡ dậy, nắm tay cùng khóc và kết làm bạn sống chết với nhau.

                        (Nguyễn duy Cần, Cái DŨNG của thánh nhân, 1958, tr 162-163)

 

        Bài học về sự hiền lành nhịn nhục của Đức Giêsu đã được Tương Như thi hành đến triệt để, mặc dầu chưa được nghe đến bài học ấy.  Chính Đức Phật Thích Ca cũng dạy tương tự :”Lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng. Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan”. Nho gia cũng dạy :”Dĩ đức báo oán”.  Tertulliano nói :”Kẻ bị sỉ nhục, dùng sỉ nhục để báo thù, có khác gì người sỉ nhục họ không ? Chẳng qua là những kẻ cùng làm quấy như nhau,  chỉ khác kẻ trước người sau mà thôi vậy”.

 

        2. Sự hiền lành nhịn nhục cần thiết.

 

        Trong đời sống hằng ngày, người có quyền bính đều xử dụng tính nóng nảy của mình đối với người khác,  có khi còn giận cá băm thớt. Hành động theo tính nóng có phải là phản ứng của người quân tử không ? Người ta đã từng nói :”no mất ngon, giận mất khôn”. Cho nên, để luôn luôn tự cảnh giác, ông Nguyễn đình Giản, thời Lê mạt, đã viết vào một miếng giấy, dán lên chỗ ngồi giải trí, câu sau đây :

                                TẢO CẤP TẮC BẠI SỰ  (nóng tính thì hỏng việc)

        Hơn nữa, ông để sẵn một bình nước lạnh, mỗi khi gặp một điều trái ý, thấy trong mình lửa giận bốc lên, ông liền cầm uống từ từ, từng hớp nhỏ, cho đến khi lấy lại được hòa khí trong tâm hồn mới thôi.

                        (Vũ minh Nghiễm, Sống sống, 1971, tr 309-310)

 

        Ông Tô đông Pha nói :”Chỗ mà người xưa gọi là hào kiệt, ắt phải có khí tiết hơn người. Nhưng, nhân tình có chỗ không thể nhịn được. Bởi vậy, kẻ thất phu gặp nhục, tuốt gươm đứng dậy, vuươn mình xốc đánh. Cái đó chưa đủ gọi là dũng. Kẻ Đại dũng trong thiên hạ, trái lại,  thình lình gặp những việc phi thường cũng không kinh, vô cố bị những điều ngang trái cũng không giận. Đó là nhờ chỗ hoài bão của họ rất lớn và chỗ lập chí của họ rất xa vậy”.

 

        Vương phủ Nhân cũng nói :”Nói đương sướng hả mà nín ngay được, ý đang hớn hở mà thu hẳn lại được, tức giận ham mê đương sôi nổi, nồng nàn mà tiễu trừ biến mất được, không phải là người kiên nhẫn thì không tài nào được như thế”.

 

        Cảm biết sự cần thiết và giá trị của sự hiền lành nhịn nhục, người đời đã phải hết lời ca tụng :  

                        Chữ nhẫn là chữ tương vàng,

                        Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.

                                     (ca dao)

        Nhận xét những cái ở đời, ta thấy biết bao  nhiêu cái mềm thì còn tồn tại mà cái cứng rắn thì mất. Cái đòn gánh không bao giờ cứng mà phải mềm mới dễ gánh và không bị gẫy. Cái lò xo có sức chịu đựng được sự dồn ép mà không gẫy, khi hết sự dồn ép thì lại giãn ra như thường.  Văn vương Trung nói :”Lửa bốc lên cao, nước chảy xuống thác, thế mà bao giờ lửa cũng thua nước”:.  Người ta sợ lửa hơn là sợ nước, thế mà chết cháy ít, chết đuối vẫn nhiều.  Nước mát, lửa nóng, thế mà lửa vẫn sợ nước vì người ta đã lấy nước trị lửa trong các đám cháy.

 

                        Truyện : gió và mặt trời.

        Một hôm gió và mặt trời khoe về sức mạnh. Gió tự phụ là có sức mạnh hơn mặt trời, còn mặt trời lại tự phụ là mạnh hơn gió. Hai bên đều tự phụ hơn nhau, không bên nào chịu bên nào. May thay lúc đó, giữa một con đường thênh thang quang đãng, có một lão ăn mày đang tiến bước.  gió và mặt trời liền thách thức nhau, xem ai đủ sức mạnh để tung chiếc áo của người ăn mày ra khỏi anh ta.. Mặt trời liền lặng lẽ ẩn mình vào trong tầng mây dầy đặc để gió thử sức trước.

        Gió liền thổi thực mạnh để bay tung chiếc áo của người ăn mày ra, nhưng càng thổi mạnh, thì người ăn mày càng giữ chặt lấy chiếc áo. Thổi mãi, gió mệt, mà người ăn mày cứ giữ chặt chiếc áo. Gió đành chịu.

        Lúc đó mặt trời mới tươi cười, ló mặt ra sau đám mây, chiếu những tia nắng xuống đường : người ăn mày thấy trời nắng, mồ hôi thấm chảy, vội vàng cởi tung áo ra. Mặt trời được cuộc và bảo gió :”Đấy anh xem, tươi cười và dịu dàng bao giờ cũng có sức mạnh hơn là hung hăng và tàn bạo”.

                        (Đỗ đình Tiệm, Muốn thành công, 1969, tr 53-54)

 

        3. Ích lợi của sự hiền lành nhịn nhục.

 

        Lúc không gặp sự trái ý, phản đối, người ta thường hiền lành, vui vẻ, dễ dãi, song khi sự khó và trái ý đến, nhiều người sinh ra khó tính, cau có, bẳn gắt, chửi bới, đập đánh.

 

        Nhân tiện chúng ta cũng nên phân biệt tính hiền lành và nhân đức hiền lành. Tính hiền lành là đức tính tự nhiên sẵn có ngay khi lọt lòng mẹ : dịu dàng, dễ dãi, dễ tha thứ, không nóng nảy, không cáu kỉnh, bẳn gắt, sống với ai cũng được, gặp gì trái ý cũng thản nhiên, bỏ qua, không chấp. Đấy chỉ là đức tính hiền lành, chưa phải là nhân đức hiền lành vì hiền lành như vậy do ở tự nhiên, không do ở sự cố gắng luyện tập.  Còn nhân đức hiền lành do ở sự cố gắng và luyện tập. Bẩm tính nóng nảy, nhiều hay là ít, song biết cầm hãm, không buông theo tính nóng nảy tự nhiên sẵn có. Gương hiền lành của thánh Phanxicô Salesiô là điển hình của sự tập nhân đức hiền lành.

 

        Sự hiền lành đem lại nhiều lợi ích cho cá nhân người hiền lành cũng như cho xã hội nữa.

 

a)  Cho cá nhân hiền lành.

 

* Bình an và vui vẻ luôn.

o       Người nóng nảy thường có điều tức bực, khó chịu luôn, ở đâu và ở với ai cũng vậy không bao giờ vừa lòng, hay kêu ca, trách móc, la lối. Họ khổ và khổ lây cho người chung quanh, mà chỉ đổ tội cho người nọ, người kia,  còn chính mình thì lại vô tội, hoặc có lỗi thì cũng chỉ một chút thôi, còn bao nhiêu thì do hoàn cảnh gây nên.

 

        Ở thế gian và sống giữa loài xác thịt, người hiền lành,  cũng gặp tất cả mọi sự như người kia, nhưng có nhân đức hiền lành, người ấy không quan trọng hoá, nghe vậy hay là nghe hơn, trông thấy thế hay là thấy hơn nữa, người đó vẫn bình tĩnh, thản nhiên,  coi như việc nhỏ mọn, tầm thường, không đáng kể, rồi để mặc cho nó qua, như pho tượng hiên ngang đứng vững trên nền tảng chắc chắn, mặc cho gió gào sấm ran.

 

        Làm êm dịu sống gió trong mình, người hiền lành cũng làm êm dịu luôn sóng gió trong lòng người khác. Nóng mà chẳng gặp người nóng lại, sự nóng cũng chóng nguôi, giận chửi đập đánh mà không có ai đáp, chẳng lẽ giận, chửi và đánh lộn một mình !

 

        Không gây cho ai sự bực tức, khó chịu, và cũng chẳng ai hay là sự gì gây được cho mình sự tức giận, nhiên hậu đời sống trôi chảy trong yên vui. Nhưng ai nắm tay thâu ngày chí tối, dẫu hiền lành đôi khi cũng vô tình làm mất lòng kẻ nọ, người kia, song biết là người hiền lành, không có bụng dạ nào người ta dễ tha thứ, bỏ qua, cắt nghĩa tại thế này thế nọ, và sẽ không có sự cãi cọ.

 

* Được đất làm cơ nghiệp.

        “Ai hiền lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được đất Đức Chúa Trời làm của  mình vậy”.  Đất nói đây là lòng con người.   Chiếm được lòng con người là cái khó và khó hơn hết, có thể chinh phục chiếm được đất đai, tiền của, địa vị, song chiếm được lòng con người ta, khiến họ yêu mến, kính phục, tận tình, là điều khó lắm. Các cuộc cách mạng liên miên ở nhiều nơi, và những hằn thù, cãi cọ, kiện tụng, kêu trách,  là dấu chưa chinh phục và làm chủ được lòng con người. Napoléon đã chiếm được nhiều đất đai, đã thắng những trận oanh liệt, nhưng một nhà viết sử nói :”Có lẽ trên đời, không có ai bị nhiều người ghét như Napoléon”.

 

        Không đánh đông dẹp bắc, không tuyên truyền rầm rộ, chẳng cđổ của ra lấy lòng, không nịnh nọt a dua, người hiền lành chinh phục lòng người cách dễ dàng : ai cũng yêu mến,thích lui tới, bè bạn .  Ta chẳng thấy là gì ?  Cha mẹ hiền lành con cái yêu mến, thầy hiền lành học sinh thích thụ nghiệp, mẹ chồng hiền lành con gái thích làm dâu, chủ hiền lành đầy tớ thích giúp việc, người hiền lành có lắm bạn bè.  Sự hiền lành như mật ngọt thu hút lôi cuốn, như nam châm kéo mạnh. Chống tàn bạo, vũ khí, thông minh, thế lực, không ai chống kẻ hiền lành.

                        (Trần công Hoán, Tìm hiểu ít nhân đức, 1965, tr 69-70)

 

b) Cho nhân quần xã hội.

 

        Người hiền lành đem đến cho những người chung quanh sự thoải mái, dễ thương, dịu dàng vì người hiền lành không bao giờ gây gỗ với những người chung quanh, trái lại còn làm cho bầu khí chung quanh có sự hòa dịiu, dễ thở.

 

                        Truyện : thánh Clementê hiền lành nhịn nhục.

        Một hôm, thánh Clementê thuộc dòng Chúa Cứu thế lững thững đi vào quán cơm ngã tay ra

        - Xin quí ông rộng lượng bố thí cho các em Cô nhi viện một miếng ăn.

        Tức thì các thực khách cười lên hô hố, cách khinh miệt vô cùng. Một anh thợ đóng giầy nhỏ thó tên là Wilszek trợn mắt nói :

-       Một miếng ăn cho các em ? Ừ, được lắm chứ !

Vừa nói, anh ta vừa nâng cốc bia lên miệng uống, rồi búng má phun thật mạnh, như tát

nước, thẳng vào mặt cha Clementê.

        Thánh nhân đã phản ứng ra sao ?

        Múa tay một cái, ngài quật ngã anh thợ đóng giầy nhỏ thó mà lớn mật kia xuống đất (vì thánh nhân là một người vạm vỡ khỏe mạnh) ?  Không, ngài vẫn điềm nhiên bình tĩnh, như chẳng có việc gì xẩy tới cả. Ngài thong thả rút khăn mùi-xoa ra lau sạch mặt cùng vạt áo đi,  rồi lại ung dung giơ tay ra vui vẻ nói :

-       Thưa các ngài, đó là phần của tôi. Còn phần của các em Cô nhi viện đâu chưa thấy ?

Wilzsek đang ngồi trên ghế cao, bỗng té nhào xuống đất, như vừa bị một cú đấm thôi sơn

giáng xuống trên mang tai. Anh ta chẳng bao giơ dám tưởng tượng ra rằng trên thế giới đầy nham nhở này, lại có thể có được người đầy khí phách thần dụng đến mức này.

        Một khi hoàn hồn, chàng lồm cồm ngồi dậy, ấp úng nói :

-       Tôi, tôi... sẽ gửi tặng các em... một món quà.

Quả thực, sau đó anh ta tự động đi lạc quyên giữa các bạn xa gần, và thân hành đến trao tận tay cho thánh nhân một số tiền lớn (100 đồng Đức kim thời bấy giờ) để tạ tội.

                        (Vũ minh Nghiễm, Sống sống, 1971, tr 355-357)

 

        Nhờ sự hiền lành nhịn nhục của cha Clementê mà các em cô nhi được một món tiền để sống. Nếu lúc ấy, cha Clementê hành động theo tính nóng nảy thì kết quả sẽ ra sao ? Chắc chắn sẽ có một cuộc ẩu đả xẩy ra, và các em cô nhi sẽ chẳng được gì cả !

 

          4. Sự tức giận ở đâu tới ?

 

        Có phải người khác làm cho ta tức giận không ? Có phải sự vật làm cho ta phải giận không ? Thực sự những cái đó rất ít. Ta hãy nghe xem nhà hiền triết Épictète nói như thế nào :

 

        “Làm cho người phiền muộn, không phải là tự ở sự vật, chính là ở cái cách người ta phán đoán về sực vật. Như cái chết có gì đáng sợ đâu, nếu đáng sợ thì Socrate đã sợ, nhưng đáng sợ, là sự phán đoán rằng cái chết đáng sợ. Như vậy thời mỗi khi ta buồn bực, bối rối,  phiền não, ta đừng trách ai, nghĩa là trách sự phán đoán của ta mà thôi.

                Phải nhớ rằng : làm nhục cho mình, không phải là kẻ nó chửi mình, nó đánh mình, nhưng là tự mình phán đoán cho rằng nó làm nhục mình. Có kẻ nào làm cho mình giận dữ thì phải biết rằng chính sự phán đoán của mình nó làm cho mình giận dữ         đấy”.

 

        Ta thường tự hỏi : “Người đánh ta, ta giận, là tại người hay tại ta làm cho ta giận” ? Phần đông sẽ trả lời :”Vì người đánh ta nên ta giận”. Nhưng nếu ta biết người đánh ta là người điên, ta có giận người ấy nữa không ? Chắc hẳn là không, nếu ta là người biết xét. Trái lại, nếu ta biết người đánh ta là người tình, thì ắt ta không khỏi phải nổi cơn giận dữ.

 

        Cũng một việc xẩy đến cho ta, mà khi thì ta điềm tĩnh như thường, khi thì ta bực tức nóng giận. Tại nơi đâu ?  Có phải là tại nơi sự phán đoán của ta chăng ?  Tôi không thấy tại nơi sự vật chỗ nào cả.

 

        Sách Bảo huấn nói :”Ở đời, nếu gặp phải kẻ ngang ngược, hãy coi như mình đang đi trong bụi rậm, áo vướng phải gai. Chỉ nên thong thả dừng chân lại, gỡ dần ra thôi. Cái gai góc kia có biết gì mà đáng giận”.

        Mạnh Tử cũng nói :”Ta nên coi những xúc phạm đến ta như chiếc thuyền không, chẳng may đâm phải ta, như cơn gió dữ chẳng may thổi tạt vào ta. Có gì mà phải tức bực” ?     

 

                        Truyện : Ông Socrate và bà vợ dữ dằn.

        Một hôm, ông Socrate mời các bạn dùng cơm tại nhà. Không biết có việc gì, bà vợ bưng cả đồ ăn (ông ăn ròng rau trái) quăng ra ngoài cửa sổ.

        Ông cũng như thường, tươi cười bảo :”Thì bà muốn chúng mình ra sân ăn mát mẻ hơn”.

        Quá sức tức tối, bà bèn vác chổi ra sân quơ luôn các đồ ông đã lượm sắp vô mâm, đĩa... Các bạn ông giận đỏ mặt, muốn gây sư ï. Ông biết trước, đã nắm tay áo các ông bạn lại và ôn tồn bảo :”Ví dụ các anh em đang ngồi ăn, rủi bị một con gà mái nhảy xổ vào, làm văng cả bát đĩa, các anh có đi gây sự với nó không” ?

 

        Một lần khác, có bạn rủ đi sớm. Bà la lối gầm hét om sòm. Ông vẫn thản nhiên. Khi ông bước ra đi, bà lại đứng trên lầu đổ trút thau nước dơ lên đầu ông... Các bạn ông tỏ dấu bất bình phản đối... Ông cười và bảo :”Thì có gì lạ, hễ trời hết gầm, thì đổ mưa”. Ông thản nhiên trở vô thay áo.

 

            Nếu một người khác gặp những trường hợp này, chắc chắn là đã mất cả sự điềm tĩnh rồi vậy. Không phải nơi sự vật xẩy đến cho ta, nó làm cho ta vui mừng hay giận dữ mà do sự phán đoán của ta cho là họ làm cho ta vui mừng hay giận dữ.

                        (Nguyễn duy Cần, Cái DŨNG của thanh nhân, tr 106-107)

 

        Ngoài ra, có những hoàn cảnh rất thông thường không đáng cho người ta phải sinh sự, không đáng cho người ta phải cãi cọ để đi đến sự tức giận, nhưng vì tính HIẾU THẮNG, vì TỰ ÁI đã thúc đẩy người ta từ những câu chuyện không đâu mà làm mất lòng nhau, giận nhau chí tử. Câu chuyện sau đây sẽ làm chứng câu khẳng định trên.

 

                        Truyện : con chuột lắt.

        Nhàvăn Lê văn Trương dựa theo cốt truyện của một nhà văn Tây phương mà kể lại câu chuyện”con chuột lắt” khá thú vị như sau:

        Có đôi vợ chồng trẻ mới lấy nhau và yêu nhau lắm... Cậu mợ đang ôm nhau “tri kỷ” ở trong phòng thì úi chà, một con chuột lắt ở xó xỉnh nào đó chạy vọt ra. Nghe tiếng động, vợ giật nảy mình, ôm chặt lấy cậu... Đến khi nhìn rõ ra là con chuột lắt, mợ mới phì cười áp vào má cậu:

-       Thế mà nó làm em sợ quá.

Cậu vuốt tóc mợ :

-       Thế mà làm cho người ta tưởng là cái gì.

-       Không biết con nởm ấy ở đâu chạy ra thế ?

-       Ở trong gầm tủ áo.

-       Ấy không, ở trong gầm giường. Cậu lầm.

-       Lầm đâu, ở trong gầm tủ mà.

-       Rõ ràng từ trong gầm giuờng.

-       Gầm tủ chứ lại gầm giường.

-       Gầm tủ đâu ? Gầm giường chứ ?

-       Thế mà cũng nói, mắt với mũi.

-       Rõ ràng mà lị.

-       Rõ ràng gầm tủ.

-       Rõ ràng gầm giuờng.

Câu chuyện con nỡm chỉ có thế, rồi ai cũng dành phần phải về mình, rồi tự ái bốc lên trời, trước còn lời nặng tiếng nhẹ, sau rồi xô xát to, rồi người ta chẳng nể lời nữa, rồi cậu cáu tiết, tát cho mợ một cái nên thân. Rồi mợ khóc, rồi người ta giận nhau hàng năm.

        ... Rồi thì một hôm cậu nghĩ ra :”Ồ, con chuột nó từ gầm tủ chạy ra hay từ gầm giường chạy ra mặc nó, hà cớ vì thế mà cãi nhau, giận nhau cho gia đình đang yên vui biến thành ra cái địa ngục”. Rồi thì cậu mợ làm lành với nhau...

                (Nguyễn văn Y, Có chí thì nên, 1971, tr 105-106)

 

        Phần đông chúng ta cũng thường hơn thua nhau, tranh dành lẽ phải về mình từng những việc nhỏ nhặt, rất nhiều khi chúng ta vì một chút tự ái vặt không chịu hoà thuận vui vẻ với nhau như cặp vợ chồng vừa nói trên. Gặp những trường hợp ấy, tốt nhất thì phải nói :

                       

                                Ai nhất thì tôi thứ nhì,

                                Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba.

                                        (Ca dao)

 

III. CÁCH TẬP ĐỨC HIỀN LÀNH NHỊN NHỤC.

 

        Chúng ta có thể tập đức hiền lành nhịn nhục qua hai phương diện tiêu cực và tích cực nghĩa là sửa tính nóng nảy, không cho tính nóng nảy bộc phát ra ngoài  đi theo với những cử chỉ giận dữ của chúng ta. Đồng thời ta có thể theo gương Chúa Giêsu và các bậc thánh nhân để sống một đời sống hoàn toàn hiền lành nhịn nhục.

 

1.      Phương diện tiêu cực.

 

Đối với vấn đề sửa trị tính nóng nảy, ta thấy có  ba chủ trương khác nhau :

·       Đông Lai tiên sinh nói :”Phép trị ham muốn là giam cầm, phép trị tức giận là đè nén, không cho nó trổi lên”.

·       Có người chủ trương rằng :”Đói thì cứ cho ăn, no rồi sẽ thôi. Khát thì cứ cho uống, đã rồi sẽ thôi. Ham muốn thì cứ cho được yêu cầu, thoả mãn rồi sẽ thôi”.

·       Nhưng như thế có khác chi sợ lửa bùng lên, lại đem củi bỏ vào để dập tắt. Làm như vậy là nuôi thêm sức lửa (Theo Đông Lai bác nghị, tr 26).

Phép đè nén của Đông Lai tiên sinh  cũng chưa phải là thượng sách, vì phép ấy có thể phát sinh cảnh tức nước vỡ bờ, do những biến chứng bất ngờ nguy hiểm, phải tìm cho con bệnh một lối thoát.

Có người cho rằng lối thoát ấy là... CƯỜI.

Cười thật to càng hay.

 

                Truyện : thuốc làm cho cười.

        Nhà bác học Priestly có lẽ muốn tài bồi cho quan niệm này, nên đã sáng chế ra một thứ thuốc cười, gồm có chất Protoxyde-Natrium. Ai hít thuốc này sẽ thấy các đuờng gân chuyển động dần lên, rồi bỗng nhiên cười. Cười ruồi, cười nụ, cười nắc nẻ... Và tức thì không thấy đau khổ hay buồn phiền gì nữa. Đến như người đang khóc mà hít thuốc này, cũng sẽ thấy nước mắt bị thâu hồi, và rồi cười từ âm thầm cười tới...

        Ta cũng nên mua một lọ thuốc cười dự trữ sẵn trong túi áo, phòng khi có chuyện buồn tủi giận hờn xẩy đến bất thần – như trường hợp Tân Ti Tụ – thì đem ra hít một hơi để điều hoà không khí nội tâm !

 

        ... Hoặc  đặt mua một cái máy do một người Anh sáng chế ra từ hồi năm 1951 ?

        Máy này là một chiếc ghế thật đẹp, thật sang. Khi ai thấy mình buồn khổ sầu muộn, bất mãn thù đời... thì hãy lên ngồi trên đó. Tức thì như đi lạc vào động Thiên thai, và được một bàn tay tiên ngọc ngà huyền diệu vuốt ve mơn trớn... Đồng thời một cái máy phóng thanh phát ra những lời cổ võ du dương , êm ái, ngọt ngào, không khác chi tiếng oanh vàng đang thỏ thẻ vào tai :”Này bạn mến, hãy vui lên. Đời đẹp lắm, đáng sống mà”...  Lugdah, người phát minh ra cái máy này, đã gọi là MÁY NÂNG CAO TINH THẦN.

                        (Vũ minh Nghiễm, Sống sống, 1971, tr 353-354)

 

        Ngoài ba cách trên, người ta còn đề nghị một cách khác để sửa trị tính nóng nảy là ĐỪNG NÓI, vì trong khi nóng chúng ta hay “đa ngôn đa quá”, khó có thể cầm hãm đuợc lời nói.  Joubert nói :”Phải dùng lời nói như dùng vàng bạc vậy”.  Câu này nói lên tầm quan trọng của lời nói vì như sách Gương Chúa Giêsu nói :”Những điếu chưa nói, mình làm chủ nó, nói ra rồi, mình làm tớ nó”.   Đã nói rồi không thể rút lại được  như lời Sách Nho dạy :”Nhất ngôn thuyết quá, tứ mã nan truy”. vì thếâ ngạn ngữ Tây phương cũng dạy :”Phải uốn lưỡi bảy lần truớc khi nói”. Làm chủ được lời nói có thể đem lại được nhiều cái lợi vì “một sự nhịn chín sự lành”.

 

                          Truyện : chai nước thánh.

        Thánh Vincent Ferrier ở thành Valence, nước Tây ban nha. Ngày kia, có một người đàn bà đến xin ngài chỉ cho một phương pháp để sống bằng an hòa thuận với chồng, vì chồng bà hung ác quá, chửi bà nhiều quá, bà không chịu nổi.  Thấy bà nói chuyện huyên thuyên, kể lể mọi thứ tội của ông chồng. Thánh nhân biết rõ ngay căn bệnh. Đó là bệnh LẮM MỒM.  Ông lắm mồm mà bà còn lắm mồm hơn. Ngài liền bảo : Bà hãy đến cổng nhà dòng tôi, xin thầy giữ cửa múc cho một chai nước ở cái giếng giữa nhà dòng, đem nước đó về, khi nào chồng bà nổi giận la lối, chửi mắng, bà hãy uống một ngụm nước đó và nhớ NGẬM LÂU TRONG MIỆNG, ĐỪNG NUỐT.

        Bà đem nước về, làm đúng như lời thánh nhân dạy. Mấy ngày sau,  bà sung sướng đến báo tin cho ngài hay :NƯỚC GIẾNG THÁNH đem lại kết quả lạ lùng. Và bà xin ngài cho thêm một chai nữa. Thánh  nhân trả lời :

-       Nước đó không có gì lạ, không phải là nước giếng thánh, nhưng là nước giếng thường các thầy dòng vẫn dùng để nấu cơm. Kết quả tốt đẹp đó là do sự NÍN LẶNG của bà.

 

        Người đời đã am hiểu được sự quan trọng của lời nói, của sự nín lặng, nên luôn đề cao cảnh giác khi cần phải nói.  Chu Tử đã nói :

“Thủ khẩu như bình, phòng ý như thành. Thị phi chỉ vị đa khai khẩu, phiền não giai nhân cưỡng xuất đầu” nghĩa là giữ miệng như bình kín, phòng ý như thành xây, phải trái chỉ do miệng  mà ra, phiền não đều ở đầu tất cả.

        (Minh tâm bửu giám, Tạ thanh Bạch dịch, tr 110)

 

        2. Phương diện tích cực.

 

        Phương pháp tốt nhất để tập sự hiền lành nhịn nhục là theo gương bắt chước Chúa Giêsu. Ngài đã làm gương cho ta trước. Đây ta hãy tưởng tượng ra cái quang cảnh Chúa Giêsu đang đứng trước mặt thượng tế Caipha xem Chúa Giêsu đã đối xử như thế nào.  Thầy thượng tế hỏi Chúa Giêsu về giáo lý của Ngài.  Chúa Giêsu đáp :”Tôi nói công khai trước mặt thiên hạ. Tôi thường dạy dỗ ở nhàõ hội và trong đền thờ, là nơi các người Do thái quen hội họp. Tôi chẳng nói gì lén lút. Ông hỏi tôi làm chi ? Cứ  hỏi những kẻ đã nghe tôi nói, họ biết tất cả các điều tôi dạy dỗ”.  Chúa Giêsu vừa dứt lời, một tên lính hầu vả mặt Chúa Giêsu và nói :”Thưa với vị thượng tế vậy ư”?Chúa Giêsu đáp :”Nếu tôi nói bậy, hãy làm chứng điều bậy đó, bằng tôi nói phải, sao lại đánh tôi” (Ga 18,19t).

 

        Khi Chúa  Giêsu sắp sinh thì, người ta vẫn còn tiếp tục chế nhạo Chúá.Dân chúng đứng đó nhìn xem. Nhưng cấp trên hợp với chúng nhạo cười :”Hắn đã cứu được kẻ khác, nếu là Kitô, Đấng Thiên Chúa chọn hãy tự cứu mình đi” (Lc 23,35) Trước những lời ngạo mạn ấy, Chúa Giêsu chẳng có phản ứng nào ngoài việc xin Cha tha cho họ, và còn biện hộ cho họ là lầm chẳng biết. Phải trường hợp chúng ta thì nhất định chúng ta phải xuống khỏi thập giá tát cho mỗi đứa mấy cái để chúng sáng mắt ra !...

 

          K Ế T   L U Ậ N

 

        Chúng ta hãy trở lại bài học của Chúa dạy :”Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29). Hình ảnh Chúa Giêsu được tiên tri Isaia mô tả trong chương 53 đã làm cho chúng ta cảm phục thái độ hiền lành nhịn nhục của Chúa Giêsu, đặc biệt trong cuộc khổ nạn của Ngài. Có lẽ Lão Tử đã áp dụng đúng giáo lý của Chúa Giêsu khi ông nói :

                “Thắng nhân giả, hữu lực, tự thắng giả cường.

                Nhu thắng cang, nhược thắng cường”

                (Thắng người là có sức, thắng mình là mạnh,

                nhu nhược thắng cương cường )

 

        Trong dời sống thiêng liêng, ta hãy lợi dụng đức hiền lành nhịn nhục để nên thánh. Thánh Bernard không lấy sự ăn chay, thức khuya dậy sớm làm khó bằng nhịn nết xấu anh em trong dòng, và nhờ đó ngài đã lập được rất nhiều công phúc về đức nhịn nhục. Ngài đã nói :”Hy sinh lớn nhất của tôi là nhịn nết xấu và khuyết điểm của anh em”.

 

        Để kết thúc bài chia sẻ hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau xem thái độ bình tĩnh, hiền lành, nhịn nhục của một nhà sư, tuy không có đạo công giáo như chúng ta nhưng cũng đã biết thực hành giáo lý mà Chúa dạy chúng ta về sựï hiền lành nhịn nhục.

 

                        Truyện : thiền sư Hakuin

        Thiền sư Hakuin được những người chung quanh ca tụng là người sống đời sống trong sạch.Một gia đình người Nhật bán thực phẩm gần nơi Hakuin ở, có cô con gái đẹp. Bất ngờ một hôm cha mẹ cô gái khám phá ra cô có thai.

        Việc này làm cha mẹ cô nổi giận. Cô không chịu thú nhận người đàn ông cô chung đụng là ai, nhưng sau bao nhiêu là phiền phức, cuối cùng lại là tên Hakuin.

        Phẫn nộ vô cùng, cha mẹ cô gái đến ngay vị thầy này. Hakuin chỉ thốtá lên vỏn vẹn hai tiếng : THẾ À, rồi thôi.

        Sau khi đứa bé sinh ra, nó được đem tới trao cho Hakuin. Lúc đó Hakuin đã mất hết danh dự, nhưng việc này không làm ông buồn. Hakuin săn sóc đứa bé ấy rất tử tế. Hakuin xin sữa của những người mẹ hàng xóm, và những đồ dùng cần thiết cho đứa bé.

        Một năm sau, cô gái không còn chịu đựng được nữa. Nàng nói sự thật với cha mẹ nàng – rằng cha thật sự của đứa bé không phải là Hakuin mà là một thanh niên bán cá ngoài chợ.

        Lập tức cha mẹ cô gái đến ngay Hakuin, xin Hakuin tha lỗi. Chuyện xin lỗi dài dòng, và xin đưa đứa bé về. Hakuin ưng thuận. Khi trao lại đứa bé, Hakuin cũng chỉ thốt lên hai tiếng THẾ À.

                        (Thiền sư MUJU, Góp nhặt cát đá, Lá Bối, 1972, tr 14-15)

 

Lm Giuse Đinh lập Liễm

Giáo xứ Kim phát

Ngày 26/5/2003


Mục Lục